NHÀ THƠ NGÂN VỊNH Thêm vùng quê Đà Nẵng tình người

Thứ bảy - 06/12/2025 20:22
 

Nhà văn Phùng Văn Khai

 

       Mỗi khi vào thành phố Đà Nẵng sáng sớm nghe đài phát thanh thành phố trên loa công cộng bài hát Đà Nẵng tình người với ca từ sáng đẹp của nhà thơ Ngân Vịnh chúng tôi đều nhớ tới một con người cao lớn nhưng hết sức nhỏ nhẹ từng có khoảng thời gian dài công tác tại Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ. Anh vào chiến trường từ rất sớm, năm 1963 khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bắt đầu ở giai đoạn gay go, ác liệt. Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ với các tên tuổi Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn, Thanh Quế, Ngân Vịnh,.. đã có nhiều sáng tác thơ văn nức tiếng. Nơi chiến trường Khu 5, các văn nghệ sĩ trong chiến tranh đều dành nhiều thời gian trực tiếp xuống với bộ đội vừa cầm súng vừa cầm bút. Đã có không ít văn nghệ sĩ trở thành liệt sĩ giữa chiến trường.

Nhà văn ở chiến trường đi thực tế phải luôn bám sát đơn vị ở tuyến đầu. Các nhà văn nhà thơ Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ sống như những chiến sĩ, họ ra tận chiến hào, tham gia các trận đánh, chiến dịch lớn, nhỏ. Điều này không chỉ tạo nên phẩm chất của mỗi nhà văn chiến sĩ mà còn giúp họ tích lũy vốn sống cho mình. Các tác phẩm của nhà văn nhà thơ sống lâu bền trong tim bạn đọc chính là nhờ ở chất liệu thực từ cuộc sống chiến đấu của bộ đội và nhân dân.

Không hiểu tại sao bom đạn luôn tránh xa Ngân Vịnh. Đến hôm nay, ở tuổi 83 mà Ngân Vịnh vẫn rất trẻ trung, nhanh nhẹn và luôn rất hài hước bảo: “Cứ vô tư mà sống, vô tư mà viết. Văn chương là của giời cho ai thì người đó được hưởng. Có cố cũng không thành tài được nên cứ vô tư thơ phú nó tự tìm đến mình”.

Ngân Vịnh tên thật là Phùng Ngân Vịnh, ông sinh ngày 14 tháng 2 năm 1942 tại xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phú (nay thuộc thành phố Hà Nội). Không hiểu tại sao Ngân Vịnh lại nghỉ hưu khá sớm với quân hàm Đại úy năm 1984 khi mới 42 tuổi? Nhiều lần tôi gn hỏi, ông đều trả lời hài hước rằng: “Kể ra Nhà nước cũng tốn kém với tớ lắm. Một mạch hưởng lương hưu tới nay đã hơn 40 năm mới kinh. Ngày trước, ông Nguyễn Chí Trung luôn canh chừng cánh lính tráng văn chương chúng tớ không được vượt rào, nhưng việc nghỉ hưu thì ngài ấy không quản được. Thế là tớ nghỉ hưu cho sớm chợ rảnh rang thơ phú bạn bè. Vậy mà khi Nguyễn Chí Trung mất, cánh lính bọn mình mới thấy tiếc thương ông”.

Cũng mãi sau tôi mới biết, nhà thơ Ngân Vịnh chính là cậu ruột của Đại tướng Phùng Quang Thanh - nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị - nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Chuyện Ngân Vịnh xuất thân họ Phùng cũng mãi sau này tôi mới biết khi tìm hiểu lý lịch văn học của ông để ký hợp đồng chương trình đầu tư sáng tác tiểu thuyết và trường ca của Bộ Quốc phòng giao cho Văn nghệ quân đội. Tập trường ca của Ngân Vịnh viết về những người lính tình nguyện chiến đấu trên chiến trường Cam pu chia, giúp nhân dân Cam pu chia hồi sinh sau họa diệt chủng của Ponpot - Iêngxari gây xúc động người đọc, nhất là những người từng chiến đấu trên đất bạn. Ngân Vịnh cũng từng được giải thưởng Sông Mê Kông cho các sáng tác về đề tài chiến tranh trên mảnh đất Cam pu chia.

Ngân Vịnh khi bàn về nghiệp viết đã khẳng định: “Công việc viết văn là công việc tự thân đầy khó nhọc, không ai đòi hỏi mình mà mình cứ phải vật vã sống chết với nó. Nó như cái ách tròng vào cổ mình mà mình vẫn thích mang, vẫn đam mê với nó. Phải chăng đó là cái nghiệp, đó là món nợ vay ở đời tự thuở nào mà mình phải trả.

Làm thơ đó là một hành trình đi kiếm tìm mình, giãi bày lòng mình qua chứng kiến và nhận biết cuộc sống. May mắn trong cuộc đời tôi nhờ có thơ mà mình thấy được biết bao vẻ đẹp quyến rũ, những biến hóa thần tiên của thiên nhiên sự vật và con người cùng đất nước.

Tôi thấy tôi hạnh phúc là người được cất cao tiếng nói của dân tộc và đóng góp cho dân tộc một chút ấm nồng của tâm hồn mình ẩn giấu như mùi hương cỏ ấu miền quê”.

zalo 43125265288492eab5101fdf3c013f2569f4214d5e0e7c

 

Lứa nhà văn nhà thơ thời kỳ chống Mỹ trong đó có Ngân Vịnh không chỉ trong sáng tác mà trong đời sống cũng luôn hết sức nghiêm khắc với chính mình, thậm chí nghiêm khắc cả với người thân, gia đình, bạn văn nghệ đồng trang lứa và thế hệ sau cũng không nằm ngoài sự nghiêm khắc đó. Tôi đã từng nhiều lần được nghe nhà thơ Thanh Quế và nhà thơ Ngân Vịnh kể về những tháng ngày trong chiến tranh vô cùng gian khổ ác liệt mà các ông đã trải qua. Đó cũng là những thông điệp để các nhà văn trẻ hôm nay lấy đó để tự răn mình.

Ngân Vịnh có biệt tài làm thơ lục bát. Ông vừa giàu hình ảnh vừa luôn có cách thức để tạo ra những câu thơ lục bát tưởng dễ dàng nhưng không hề dễ dàng đâu: Vào miền Nam anh không về/ Chị dâu ở vậy một bề nuôi con/ Hết trăng già lại trăng non/ Thời gian cứ đến giũa mòn tuổi xuân/ Giữa làng quê sống âm thầm/ Ví mình như dậu cúc tần bìm leo/ Bấy lâu chị vẫn sống nghèo/ Con thơ một nách gieo neo trăm đường (Sau chiến tranh).

Viết về hậu chiến, nhất là thân phận người phụ nữ sau chiến tranh luôn là thế mạnh của Ngân Vịnh. Ông có lợi thế là đã từng trải qua chiến tranh với tư cách người trong cuộc. Cái cách Ngân Vịnh gieo những vần lục bát tưởng nhẹ nhàng thanh thoát đấy mà muôn vàn nỗi ưu tư cũng là ở đấy: Nửa khuya nhà dột mưa đêm/ Một bên con dại, một bên mẹ già/ Anh thì ở mãi Trường Sa/ Còn ai đâu nữa để mà cậy mong/ Mắt soi vào cõi mưa giăng/ Dẫu không muốn cũng biết rằng lẻ loi/ Nỗi buồn chẳng dám cất lời/ Chỉ e người ở chân trời phong ba (Mưa đêm).

Ngân Vịnh trong thơ và trong đời sống ông đều nhất quán với sự trung thực quý hiếm của một người lính chiến. Mỗi câu thơ của Ngân Vịnh đều như chất chứa nỗi lòng của con người từng trải nhiều mất mát trong chiến tranh. Ngay cả khi đã có hòa bình, thì dấu vết của chiến tranh vẫn còn rất đậm đặc trong thơ Ngân Vịnh.

Viết về quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn, cũng lại là những vần thơ lục bát mà cái chất Ngân Vịnh vẫn không hề lẫn với ai: Mê Linh lặng tiếng im hơi/ Mẹ ta về đất ta hồi biệt xa/ Mưa xanh chồi quýt đầu nhà/ Nắng hong rơm rạ bãi xa, đồng gần/ Ao bùn đen trắng ngó cần/ Để ta khôn dại bước chân núi đồi/ Hồn ta trong giậu mùng tơi/ Hai đầu guốc vọng buộc lời mẹ ru (Chốn xưa).

Nhà thơ Ngân Vịnh đã xuất bản nhiều tập thơ mà tiêu biểu phải kể đến: Tình yêu nhận từ đất (Thơ, in chung, 1977); Bóng rừng trong mưa (Thơ, 1984); Hoàng hôn mây bay (Thơ, 1991); Ếch con và hoa sen (Thơ thiếu nhi, 1996); Tiếng đàn của dế (Thơ thiếu nhi, 1996); Ngày thường đam mê (Thơ, 1996); Phía hoàng hôn yên tĩnh (2005); Lặng lẽ tường đá ong (2007)... đã cho thấy sự liên tục không ngừng nghỉ của một cây bút chiến sĩ đã từng chặng đường, từng tập thơ cống hiến cho bạn đọc. Rất nhiều lần, nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nói với chúng tôi đại ý rằng: “Anh Ngân Vịnh là người luôn cần mẫn và miệt mài trên cánh đồng chữ nghĩa. Những bài thơ, câu thơ của Ngân Vịnh luôn tỏ rõ tinh thần của người chiến sĩ với những cảm xúc thẩm mỹ chín chắn. Ngân Vịnh là một nhà thơ luôn có trách nhiệm với thơ ca, với nhân dân và Tổ quốc chúng ta”. Nhận xét về một người đồng thời từng cùng cơ quan Văn nghệ quân đội như vậy đã cho thấy sự công bằng và trân trọng của nhà thơ Hữu Thỉnh với Ngân Vịnh.

Những trang sách, trang thơ mở ra những trang đời, mở ra những chân trời mới. Từng ao ước người lính phải có kiến thức, có văn hóa để biết yêu thương và căm giận, những trang thơ của Ngân Vịnh, của các nhà văn nhà thơ lứa các ông đã và đang góp phần bồi dưỡng tâm hồn các thế hệ người đọc trong đó có người chiến sĩ. Họ tìm thấy ở đấy lòng cao thượng và đức hy sinh, sự trung thực và những khát vọng của các thế hệ cha anh và của chính họ đang lấp lánh tươi xanh từ những trang sách, trang thơ để từ đấy cùng nhau vươn tới cái chân - thiện - mỹ, góp phần tô thắm cho đời.

Thời gian gần đây, nhà thơ Ngân Vịnh thường xuyên trao đổi với tôi qua điện thoại về thơ ca và những việc khác. Ông cũng thường xuyên dành thời gian trở về quê hương Thạch Đà nơi có phần mộ tổ tiên để dâng hương, tri ân, tìm về nguồn cội. Vùng đất Thạch Đà ngày càng tươi xanh sáng đẹp cũng như thành phố Đà Nẵng - nơi quê hương thứ hai của Ngân Vịnh sáng nào đài phát thanh cũng ngân vang Đà Nẵng tình người. Lứa các ông, những Thu Bồn, Nguyễn Chí Trung, Thanh Quế,... nhiều người đã trở về với đất đai nguồn cội, song vẹn nguyên với những người ở lại, vẫn là những tiếc nhớ thảo thơm mà sâu sắc nhất đã biểu hiện trong toàn bộ đời sống và đời sáng tác của các ông.

P.V.K
Ảnh:
Nhà thơ Ngân Vịnh và Tổng tập Nhà văn Quân đội.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây