Tập thơ của một đời người

Thứ hai - 20/07/2020 18:52
Phương Ngọc Nguyên
Tập thơ của một đời người

       Bước vào tuổi 77 - cũng là lúc nhìn lại 65 năm làm thơ của mình - nhà thơ Trần Đương đã tuyển và cho xuất bản một tập thơ khá dày dặn: gần 700 trang với ngót 300 bài, rút từ các tập đã ấn hành trước đây như: Trái đất trong vòng tay (1992); Đâu cũng quê hương (1999); Gió từ Ban Tích (2003); Lặng lẽ đời, lặng lẽ thơ (2009); Hoàng hôn xanh (2015); Hoa vàng xứ tuyết (2017)… Với “Thơ Trần Đương”, có thể thấy được tương đối đầy đủ chặng đường thơ của tác giả từ năm 12 tuổi (1955) cho đến những ngày này, khi nhà thơ đã trở thành người ông của 6 đứa cháu nội, ngoại.

     Mở đầu tập thơ, trong “Lời ngỏ” dưới dạng một bài thơ 16 câu, nhà thơ tâm sự rằng, từ thuở nhỏ, ông đã ước mơ trở thành một thi sĩ dâng tặng những lời ca trong sáng, bình dị cho đời, nhưng do công việc bề bộn của người làm báo, làm phóng viên thông tấn, của người dịch văn học, ông có ít thời gian để “chăm sóc cho thơ”.

Ông viết:
“Nhưng với thơ, tôi chưa hề vắng bóng
Mãi mãi cùng tôi, thơ là bạn đồng hành
Thơ chiếm lĩnh một phần trong cuộc sống
Thơ đến cùng tôi như ngọn gió lành
Dù sao nữa, với tôi, thơ là tiếng hát
Cất tự trái tim, tự cuộc đời này
Đi đi mãi… trên đồng thơ bát ngát
Vui với anh em, nghe chim hót gọi bầy…”

     “Viết sách, dịch văn… sức tràn trăm ngả”, là tác giả, dịch giả, soạn giả của trên 100 tác phẩm văn học, của hàng ngàn bài báo về các lĩnh vực khác nhau, Trần Đương thực sự cống hiến cho đời một khối lượng sách và bài báo đáng trân trọng về văn hóa Đức, về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, về các vấn đề báo chí, văn học - nghệ thuật, gồm đủ các loại hình: điện ảnh, sân khấu, âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, nhiếp ảnh… Bận rộn là thế, “sức tràn trăm ngả” là thế, mà ông vẫn cho ra đời hàng trăm bài thơ, trong đó có nhiều bài rất công phu, như: Bài thơ Lý Tự Trọng, Phác thảo Tây Nguyên, Kênh đào Caracum, Kỷ niệm Mông Cổ, Một khúc tình ca Rô-xtốc, Tiếng trống những đêm vui Châu Phi, Đường về Bau-xen, Hồi chuông Búc-sen-van, Cảm xúc Ma-rô-xô Bốt-tô...

      Đúng như các nhà nghiên cứu và phê bình văn học nhận định (ở phần Phụ lục), dù bận rộn thế nào, Trần Đương vẫn dành cho thơ những cảm xúc dạt dào, đằm thắm trước những vùng đất ông đến, những con người ông gặp, những sự kiện ông nếm trải. Những chùm thơ nhật ký trong các dịp đi thăm nước ngoài thực sự đem đến cho bạn đọc những khoảng khắc thật đáng nhớ, đáng yêu. Nhờ thơ Trần Đương mà ta biết đến chiếc gậy ở Xô-si, làng nhỏ Vác-tha, con sông Tu-la, ngọn lửa Hồng Trường, thành phố cổ Xu-xđan, Kát-man-đu hay vầng trăng Tát-sken… Cũng như vậy, tập thơ tràn ngập những cảm xúc về tiếng hát bên sông Hồng, sông Tiền, sông Hậu, sông Seine, sông En-bơ, những câu quan họ ở Bắc Ninh, những câu hát xẩm của mẹ Cầu, tiếng chim hót ở Vĩnh Linh, khúc hát ở Luông Pha Bang, ở xứ sở hồi sinh Chư Momray, hay bản tình ca du mục của cô gái Thái… Tất cả tạo nên những âm thanh thật đầm ấm, khó quên.

Nhà văn, dịch giả Trần Đương

      Khi Trần Đương tự thấy mình không có đủ thời gian chăm sóc cho thơ, tức là ông biết rằng, ông chưa đạt tới những hình tượng nghệ thuật độc đáo, những diễn đạt lạ thường, mà mới dừng lại ở những cảm xúc hồn nhiên, tươi tắn, chân thành. Ông quan niệm: thơ là sự giãi bày cảm xúc, là tiếng hát hồn nhiên trước cuộc đời, thơ phải từ trái tim đến với những trái tim.

    Với tập thơ của Trần Đương, người đọc có dịp đồng hành cùng một con người đã trải qua nhiều chặng đường đời: từ một chú bé nông thôn từng “cắt cỏ, chăn bò, từng đánh khăng, chơi vật…”, được Bác Hồ và Nhà nước cho đi học ở Đức từ năm 12 tuổi, đã đi qua nhiều nước trên thế giới, nhiều vùng quê của đất nước thân yêu, trở thành một sinh viên đại học thời chiến, một phóng viên thông tấn nơi tuyến lửa và ở châu Âu xa xôi… Có thể nói, cuộc đời nhà thơ đã trải qua cả một không gian rộng lớn, từ làng biển quê nhà đến thành cổ Berlin, từ Paris xinh đẹp đến Singapore sầm uất, từ Thái Lan tràn ngập sắc vàng của Phật đến sa mạc Gô-bi Mông Cổ, từ Sofia, Sinaia, thành Viên đến dòng sông Trường Giang hùng vĩ… Đó cũng là con người đã đi trong đêm trăng Sa Pa, đã ngây ngất ở Hồ Nga xứ cò, từng lắng nghe âm vang chiều A Lưới, rộn ràng nghe chuyện kể ở Gờ Loi, Mường Tè, Lóng Luông, Cù Lao Xanh, Tà Phìn, Nộc Cốc, Tràm Chim, Nhật Lệ, Củ Chi đất thép… Nhưng, có lẽ lòng ông say đắm nhất vẫn là khi về với quê mẹ Quảng Xương, với Lam Kinh, núi Nưa, Sầm Sơn, thành nhà Hồ, Cửa Đạt..., những mảnh đất thiêng liêng của xứ Thanh, từng in dấu chân của ông cha mình.

     Ngoài những bài thơ về ông bà, cha mẹ, về các con, các cháu, Trần Đương viết nhiều bài mang nặng tấm lòng ơn nghĩa đối với các bậc tiền bối, trước hết là Bác Hồ (ông có trong tập này khoảng 10 bài về Người) và các anh hùng, chiến sĩ cách mạng, như: Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Phạm Hồng Thái; những người mẹ kính yêu như: mẹ Suốt ở Quảng Bình, má Th. - một chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa; các bà má Củ Chi “30 năm đào hầm không nghỉ”, các chiến sĩ Bắc Sơn, những anh hùng trên đảo xa khơi. Cũng thắm thiết như vậy là những bài thơ ca ngợi các bậc tiền nhân: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Trần Nhân Tông, Lê Quí Đôn, Phan Văn Trị…, các cán bộ cao cấp mà ông quen biết như Trần Huy Liệu, Tố Hữu… Tình cảm sâu đậm ấy cũng dành cho những người tâm huyết với đời như: anh Gà ở Sa Pa, anh Chá Chùng Chu ở Điện Biên, anh Đũa ở Gò Loi, anh Dương Đức Thắng ở Ninh Thuận, anh Trọng Nghĩa ở Quảng Bình…

   "Không mấy thời gian chăm sóc cho thơ”, nhưng thơ Trần Đương viết khá chắc tay, nhiều bài tạo ấn tượng đẹp đẽ, khó quên về những vùng trời, những con người không chỉ trên đất nước mình mà cả ở các lục địa xa xôi. Những nhân vật như: E. Ten-lơ-man, Xu-pha-nu-vông, Chê Gheevara, Lý Quang Diệu, Đi-mi-trô-va… qua thơ Trần Đương trở nên gần gũi lạ thường. Gần gũi như nhãn lồng quê vợ, như tình ca Si-nai-a, như giọng hò xứ Huế… Với Trần Đương, xứ sở nào cũng đáng yêu, đáng trân trọng, cho nên ông mới cảm thấy “trái đất trong vòng tay”, “đâu cũng quê hương”…

   Trong bước đầu giới thiệu sơ bộ tập “Thơ Trần Đương” tôi chưa thể đi sâu bình luận những câu thơ hay, những đoạn thơ đẹp trong đó. Làm công việc ấy phải có nhiều thời gian và suy nghĩ. Nhưng, tôi tin là ai đọc tập thơ ấy cũng sẽ cảm nhận điều chung nhất: được gặp một nhà thơ yêu đời, yêu con người, rất trân trọng và chắt chiu giá trị cuộc sống.

   Do các phẩm chất như trên, trong những năm tháng của đời mình, từ tuổi ấu thơ đến lúc tuổi già, Trần Đương không ngừng cất lên tiếng hát - tiếng hát của lòng ơn nghĩa, của khát vọng lạc quan, của niềm tin và của tình yêu con người.

   Trần Đương chia sẻ, sau tập thơ này ông dự định sẽ làm một tuyển tập thơ dịch, với số lượng khá lớn (ít nhất cũng nhiều gấp đôi tập “Thơ Trần Đương”). Chúng ta chờ đợi những trang thơ trữ tình của các thi hào lớn như: Goethe, Schiller, Heine, Becher, Brecht của Đức và các thi sĩ của nhiều nước anh em khác qua bản dịch của Trần Đương - một dịch giả đã từ lâu quen thuộc với bạn đọc.
PNN.

 

CẢM XÚC VỀ THƠ TRẦN ĐƯƠNG
                                             Th.s. Trần Thị Quỳnh Như
                                      Nhà phê bình mỹ thuật - nhiếp ảnh
 
Sớm thu Hà Nội, dạo bước bên hồ Lục Thủy, nhìn sóng
nước lăn tăn, ghé ngồi trên ghế đá dưới bóng cây dương liễu để
đọc hai tập thơ của Trần Đương “Gió Từ Ban Tích” (Nhà xuất
bản Hội Nhà văn 2001), “Lặng lẽ đời lặng lẽ thơ” (Nhà xuất
bản Văn hóa Thông tin 2009).
Là nhà báo, dịch giả văn học, nhà nghiên cứu văn hóa, Trần
Đương có dịp đi nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, qua những
vùng đất ở nhiều nước trên thế giới, ông có điều kiện gặp nhiều
người, nhiều hoàn cảnh… điều này cũng bình thường như bao
người khác, họ cũng có những việc như vậy. Chỉ khác là Trần
Đương luôn ghi lại bằng những vần thơ. Ông viết:
“Tôi đâu dám ước mơ thành thi sĩ
Nhưng đã một thời cháy bỏng yêu thơ
Góp giọng hát trẻ trung, bình dị
Vào bản hòa ca vang mọi bến bờ…”
(Gió từ Ban Tích)
Làm thơ thật khó, trong các loại hình nghệ thuật, chỉ có
thơ được dùng một mỹ từ “Nàng thơ”, điều đó cho ta thấy
được vẻ đẹp, sự tinh tế, phong phú cũng như sự đỏng đảnh,
bất thường… Người ta vẫn thường nói: khi mà ngôn ngữ
không đủ để diễn tả thì thơ lên tiếng…
Trần Đương đã nói “đâu dám ước mơ thành thi sĩ” nhưng
bởi vì ông “yêu thơ” nên trong tâm hồn thi sĩ đã nảy ra những
vần thơ.
280 bài thơ có thể phân ra một mảng nói về những kỷ
niệm ở nước ngoài, còn phần kia là những sự việc nhà thơ trải
qua với những con người, vùng đất nơi quê hương, bản quán.
Cảnh đẹp của Di Hòa Viên, của Đêm trăng Rô-xtốc, của
các thành phố Vai-ma, Bau-xen (có sông En, rừng Spơ-rê), của
dòng sông Ly Giang, biển Ban Tích, thành phố Đresđen,
Florenz, của Rôma, Venezia, Quế Lâm, Băng Kốc, Ulan Bator,
Xi-be-ri, Mat-xcơ-va, Nội Mông, Manđala, Bansêôm… trong các
vần thơ làm sống động cảnh vật, những bức tranh được vẽ
bằng vần điệu, ngôn từ.
Nhìn vầng trăng ở Rô-xtốc trên bầu trời nước Đức (nơi
tác giả đã có những năm tháng là học sinh) lại nhớ quê hương:
“Vầng trăng Rô-xtốc tròn đầy
Long lanh Trường Lệ, hồn say bãi bờ
Dưới trăng lòng những ngẩn ngơ
Tiếng rằng bên Mẹ, nào ngờ xa quê…”
(Đêm trăng Rô-xtốc)
Chùm thơ ghi lại những cảm xúc về nước Đức gây ấn tượng:
“Lại về phố nhỏ Vai-ma
Sông Yêm trắng đục, sương sa giữa dòng
Mùa thu, cỏ úa vàng đồng
Nghe bâng khuâng mãi tấm lòng thi nhân…
… Quán Thiên Nga cốc rượu đầy
Gớt, Silơ đã bao ngày hàn huyên!
Trong chùm thơ nhật ký (2005) ghi lại cảm xúc của chuyến
đi công tác có những bài gây xúc động:
“Ngỡ chỉ đồi cao và gió cát
Nào hay: sữa đến cả trăm miền!
Cao lương vật vờ trong nắng rát
Lạc đà đủng đỉnh phía cao nguyên…”
(Qua Nội Mông)
Hay:
“Khách thập phương đổ về A-đrê-a-tích
Triệu triệu chim câu sà đón thân quen
Những thánh đường, những lâu đài cổ tích
Cứ như từ đáy biển mọc lên…”
(Thành phố Venezia)
Nhiều người thích “Gió từ Ban Tích”, bài thơ mà Trần
Đương lấy để đặt tên một tập thơ, cảm xúc dào dạt, kể về một
kỷ niệm của tình yêu thời trai trẻ, các nhịp thơ, hình tượng gió,
người thiếu nữ, rừng thông xanh, cánh hải âu… đã tạo cho bài
thơ xúc cảm mạnh:
“Nói là gió, nhưng đâu chỉ gió
Trong gió này, có cả bóng hình em
Mái tóc vàng, óng ả, thần tiên
Đôi mắt sáng, ngước lên trời ngọc bích
Anh muốn gọi về đây, những sóng cồn Ban Tích
Gọi về đây một tuổi trẻ xa xưa
Gọi những thông xanh êm ái đu đưa
Những cánh hải âu dập dờn trên sóng trắng
Không ngớt thổi về đây, đã nhiều năm tháng
Gió tràn hai lục địa -hóa thành thơ
Sẽ còn nhiều năm tháng, cứ vẩn vơ
Ôi gió, gió, có hình em, một thuở…
(Gió từ Ban Tích)
Tình cảm với mọi người trong những năm tháng xa xứ
được Trần Đương đề cập đến, những tình cảm thật ấm áp,
chân thành. Cái khác của ông là ông hay nhắc tới hình ảnh
những người phụ nữ nhiều tuổi, những bà mẹ chứ không chỉ
là các thiếu nữ. Các bà mẹ ở đâu cũng vậy, đều nhân hậu, chan
chứa yêu thương:
“Tàu chúng con vừa đỗ
Các mẹ đã chạy lên
Hôn từng đứa con nhỏ
Mà mẹ chẳng hề quen
Mẹ đứng dưới nhà ga
Nhìn con lưu luyến mãi
Con vẫy theo làn hoa
Biết khi nào gặp lại?...”
(Bà mẹ Liên Xô)
Hoặc:
Dưới bạt ngàn cây trái xum xuê
Cháu cứ nghĩ: Rồi Cụ về hái quả
Những anh đào, những táo, lê óng ả
Cụ sẽ nhìn, ánh mắt Cụ vui sao…
(Kính gửi Cụ bà Käthe Kollwitz)
Hai bài thơ trên đây nằm trong chùm thơ ông viết ở tuổi
thiếu nhi (12-15 tuổi), điều này chứng tỏ Trần Đương làm thơ
rất sớm. Tình cảm dành cho quê hương, đất nước (Nhớ, Con
lại về…) cũng như với bà Rosa Thaelmann, người vợ thân yêu
của vị lãnh tụ cách mạng Đức (Cháu xin tặng Bà) đã báo hiệu
một hồn thơ đằm thắm sau này.
Tôi cũng là nhà báo, cũng đi nhiều nơi nhưng sao thơ
không đến với tôi, vì làm thơ rất khó! Còn Trần Đương đều
ghi lại hình ảnh xinh đẹp của đất nước Việt Nam qua các câu
thơ giản dị chân thành, đúng là:
 “Thơ dở thơ hay - đều là tiếng hát
Cất tự trái tim, tự cuộc đời này
Tôi đi suốt cánh đồng thơ bát ngát
Đến với anh em, nghe chim hót gọi bầy…”
Đọc các bài trong hai tập thơ để viết những dòng cảm xúc
này, tôi muốn kể ra rất nhiều, những sự việc nhiều khi thoáng
qua mà tạo nên bài thơ, đó là: “Mây Sông Đà”, “Nắng Ba Đình”,
“Trong màu xanh thảo nguyên”, “Rừng mơ sông Bôi”, “Nhãn
lồng quê vợ”, “Triệu triệu trái tim cùng đập với Trường Sa”,
“Bình minh Phan Rang”, “Phác thảo Tây Nguyên”, “Sa Pa mùa
trăng”, “Xuân Lóng Luông”, “Trưa Khoang Xanh”, “Chiều Xìn
Mần”, “Đêm Quy Nhơn”.v.v…
“Hóa ra mình đã về đây
Ché thơm rượu uống, say say giữa rừng
Lửa Tây Nguyên, cháy bập bùng
Vút cao Đăk Lăk, chập chùng trăng soi
Chào Yang Sin, núi chọc trời
Chào hồ Cứ Né, chào người Ea Dun!
Mênh mông Ea Súp tươi nguồn
Nước trong sóng sánh, mát hồn cha ông…
(Phác thảo Tây Nguyên)
Ông viết về Trường Sa, một Trường Sa kiên cường trong
phong ba bão táp:
Chúng tôi hướng về Anh -
Người chiến sĩ kiên cường trên hải đảo
Ngoài ấy hôm nay còn dông bão
Hay mưa phùn, gió bấc, sương sa?
Chúng tôi hướng về Anh - sừng sững trước phong ba
Vững tay súng giữ đất trời quê Mẹ!
Trường Sa! Trường Sa! Vượt muôn trùng sóng bể
Triệu triệu trái tim càng đập với Trường Sa!”
Thơ ông dành tình cảm đến gia đình, bè bạn, như về ông
Nội (Kính dâng ông Nội), về mẹ (Gửi mẹ, Gửi mẹ của con), về
cha (Cha đi công tác), về con cháu (Đưa con về quê nội), “Tản
mạn cùng các con”, “Mừng cháu Thu Phương”, “Thu Phương
sứt răng”. Đặc biệt ông dành tình cảm cho nhiều văn nghệ sĩ,
chùm thơ viết về nhạc sĩ - họa sĩ Văn Cao, các nhà thơ Huy Cận,
Tế Hanh, Tố Hữu, phác họa chân dung từng người rõ nét:
“Có thể hiểu: chết là ra đi mãi mãi
Là cây đàn vĩnh viễn hết vang rung
Riêng với ông: thời gian càng làm ông vĩ đại
Bởi cuộc đời ông là khám phá khôn cùng”…
(Văn Cao)
Hay viết về nhà thơ Tố Hữu - Người có những bài thơ
hay nhất về cách mạng Việt Nam trong thế kỷ 20:
Xin vĩnh biệt ông, chúc ông yên nghỉ
Mãi mãi thơ ông là một ngọn cờ
Tất cả sẽ qua - còn điều giản dị:
Cuộc đời ông đẹp mãi Bài thơ!
(Lời chào vĩnh biệt)
Thời gian, thời gian, thời gian… ai chống lại được thời gian,
những vần thơ sôi nổi của thời trai trẻ dần nhường cho sự đằm
lại, tĩnh lại cho nên ông mới viết “Lặng lẽ đời, lặng lẽ thơ”. Ông
viết những bài thơ để kỷ niệm những quãng thời gian trong cuộc
đời mình, đánh dấu “mốc” cuộc sống bằng thơ.
“Ngỡ đang xuân, mà đã 60 rồi
Thế mới biết cuộc đời ta ngắn quá
Bao nguyện ước của một thời thơ bé
Đến bây giờ lạ thế, vẫn tươi nguyên!”
(Thoắt đã 60)
“Tuổi 65 phải là tuổi hiểu Người
Hiểu cuộc sống trắng đen, phải trái
Sức dù vơi, biết vững vàng tay lái
Đường còn xa, ta thấy rõ bến bờ…
(Vào tuổi 65)
Yêu thơ Trần Đương không phải là tìm thấy ở đấy sự cao
siêu của gieo vần, những tứ cầu kỳ, mà các vần thơ của nhà báo
- thi sĩ này cho ta thấy sự chân thành của cảm xúc và rất yêu
thơ, thích làm thơ. Ông đã qua tuổi 65 nhưng vẫn có một sức
làm việc dồi dào, đáng nể trọng. Ngoài thơ, ông viết nhiều bài
nghiên cứu, bài báo đề cập đến nhiều vấn đề trong cuộc sống
đương đại, là những tư liệu quí cho thế hệ mai sau. Dừng bút
viết bài “Cảm xúc về thơ Trần Đương”, trong tôi vang lên câu
thơ mà nhà thơ như nhắn nhủ mọi người: Rồi tuổi trẻ sẽ qua
đi, hãy làm gì đi!
“Làm được gì đâu, mà thoắt đã sáu mươi
Mà bỗng chốc trở thành người cao tuổi
Trên trang giấy, vẫn cày ngày hai buổi
Chữ nối đuôi nhau, trao sức ấm cho Đời
Tôi cứ ngỡ mình đang sống tuổi đôi mươi!”
 
                                                         Hà Nội, tháng 9/2012
 
 
MỘT SỐ Ý KIẾN NGẮN VỀ
THƠ TRẦN ĐƯƠNG
 
    “… Là một nhà thơ, Trần Đương đã sáng tác hàng trăm
bài thơ, đã cho ra đời hai tập: Trái đất trong vòng tay và Đâu
cũng quê hương. Ông đang tuyển và sẽ cho xuất bản tiếp hai
tập: Gió từ Ban Tích và Lặng lẽ đời, lặng lẽ thơ. Thơ ông dung
dị, trong sáng, mang hồn dân tộc, tràn đầy tình cảm quê hương,
đất nước. Và ngay trong thơ, ông cũng có những bài đằm thắm
về nước bạn, như Nga, Cu Ba, Italia, Bungari, Rumani…, đặc
biệt là về Cộng hòa Dân chủ Đức trước đây. Trần Đương cũng
đã làm thơ bằng tiếng Đức về tình hữu nghị giữa nhân dân hai
nước Việt - Đức, một số bài được đăng trên các báo của nước
bạn, đặc biệt là một chùm được trân trọng giới thiệu trên báo
Nước Đức mới (Neues Deutschland), cơ quan trung ương của
Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức (SED)…”.
NGUYỄN NHƯNG
(Trích bài “Một nhịp cầu trong mối giao lưu văn hóa Việt Nam và Đức”,
đăng trên báo Giáo dục và thời đại, số 134, ngày 7-11-2000)
* “… Trần Đương khi còn trẻ đã là một người làm thơ
đầy nhiệt huyết. Năm 1992, tập thơ mang tên Trái đất trong
vòng tay được Nhà xuất bản Thanh niên làm vai trò “bà đỡ” đã
ra mắt bạn đọc.
Thơ  T R Ầ N Đ Ư Ơ N G  . 631
Đọc thơ anh, nhà thơ Lữ Giang viết: “Thơ Trần Đương
giàu cảm xúc, chân thành, đằm thắm, tràn đầy yêu thương.
Anh đi nhiều, viết nhiều, viết khỏe và viết khá chắc tay…”.
Cho đến thời điểm này, anh đã có sáu tập thơ được xuất
bản, đó là Trái đất trong vòng tay; Đâu cũng quê hương; Gió
từ Ban Tích; Lý Tự Trọng; Thơ cho cháu ngoại; và Lặng lẽ đời,
lặng lẽ thơ…”.
HOÀNG KIM ĐÁNG
(Trích bài “Người nối nhịp cầu giữa hai nền văn hóa”,
đăng trên Tạp chí Người đương thời, số tháng 5-2008;
Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, số tháng 6-2008;
sách Thăng Long - Hà Nội - Việt Nam… ký,
Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2010).
* “… Cùng với các tác phẩm dịch thuật từ tiếng Việt sang
tiếng Đức, từ tiếng Đức sang tiếng Việt, trong cuộc đời làm
báo của mình, Trần Đương đã viết hàng trăm bài thơ. Cho đến
nay, anh đã cho xuất bản sáu tập thơ: Trái đất trong vòng tay;
Đâu cũng quê hương; Gió từ Ban tích; Lý Tự Trọng; Thơ cho
cháu ngoại và Lặng lẽ đời, lặng lẽ thơ. Đúng như có người nhận
xét trên báo: Thơ anh dung dị, trong sáng và mang hồn dân
tộc, đất nước. Đó cũng là những cảm nhận về đất nước và con
người mà anh đã từng tiếp xúc. Một số bài thơ đã được Trần
Đương dịch và đăng trên các tờ báo Đức…”.
Đại tá LƯU VINH
(Trích bài “Người tiếp nối nhịp cầu hai nền văn hóa Việt - Đức”,
đăng trên báo Công an Nhân dân cuối tuần,
số ngày 23-10-2011; báo Điện tử Người Việt ở Đức, ngày 24-10-2011).
632 . Thơ T R Ầ N Đ Ư Ơ N G
* “… Riêng về mảng sáng tác, Trần Đương là tác giả của
nhiều tập thơ. Ông say mê những vần thơ từ thuở nhỏ. Trên
suốt hành trình của một nhà báo, một dịch giả, một nhà
nghiên cứu văn hóa, Trần Đương luôn dành chỗ cho việc làm
thơ. Đó như là phương tiện để ông bộc lộ tình yêu trong trẻo
với cuộc đời. Trần Đương là một người hồn nhiên, dù ông
hoạt động ở bất cứ lĩnh vực nào…”.
VŨ QUỲNH TRANG
(Trích bài “Dịch giả Trần Đương: người bắc cầu nối hai nền văn hóa”,
đăng trên báo Văn nghệ Công an, số 269, ngày 6-2 đến 20-2-2012;
báo Công an nhân dân online 20-2-2012;
báo Điện tử Người Việt ở Đức 21-2-2012).
* “… Tôi thích thơ và hay làm thơ, nhưng với Trần Đương
tôi vẫn xác định mình là đàn em. Anh làm thơ rất nhanh, chỉ một
chuyến đi ngắn mà anh đã có một tập thơ tương đối dày, điều
này nói lên sự phát hiện nhanh và cảm xúc của anh rất mạnh…”.
VŨ VĂN CẢNH
(Trích bài “Trần Đương người chắt chiu giá trị cuộc sống”, viết ngày 28-8-
2012, in trong cuốn Trần Đương, đại lực điền trên cánh đồng văn hóa,
NXB Văn hóa - thông tin, Hà Nội - 2013).
* “… Tôi coi anh Trần Đương như một người bạn lớn,
người anh (vì anh hơn tôi vài tuổi). Chúng tôi quen và thân
nhau từ thuở ấu thơ, ở độ tuổi lên 10, cách đây đã 60 năm, từ
một sự kiện mà suốt cả cuộc đời, chúng tôi không bao giờ
quên: đầu năm 1955, giữa Nhà nước ta và Cộng hòa Dân chủ
Thơ  T R Ầ N Đ Ư Ơ N G  . 633
Đức đã ký một Hiệp định, theo đó Chính phủ Việt Nam sẽ gửi
và Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức sẽ nhận một số học sinh
ở độ tuổi 9 đến 15 là con em cán bộ cách mạng, sang ăn học tại
Cộng hòa Dân chủ Đức từ 1955 đến 1959…
Một ấn tượng sâu sắc của tôi về anh Trần Đương là ngay
từ những ngày đó, anh đã bộc lộ về văn thơ, về viết lách rất rõ.
Thời kỳ này nhà trường thường tổ chức các cuộc thi viết báo
tường. Anh Trần Đương đã có những bài thơ, bài văn ngắn nói
về những sự kiện, những cảm xúc trong cuộc sống hàng ngày
của chúng tôi. Những bài văn, bài thơ ngôn từ tuy còn mộc
mạc nhưng đầy cảm xúc. Đặc biệt ở tuổi ấy mà anh đã gửi bài
lên báo Nước Đức mới, cơ quan ngôn luận của Trung ương
Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức, nhận được hồi âm của
đích danh Tổng biên tập, thậm chí có bài đã được đăng trên tờ
báo đó. Thật là kinh ngạc.
Có một sự kiện rất đáng nhớ: mùa thu năm 1959, nhân kỷ
niệm Quốc khánh lần thứ 10 của Cộng hòa Dân chủ Đức, anh
sáng tác bằng tiếng Đức bài thơ “Chung một con đường” tham
gia cuộc thi sáng tác ở thành phố Bitterfeld. Bài thơ được đăng
báo Đảng của thành phố này và được giải nhất.
Anh Trần Đương đã trở thành nhà báo, nhà thơ, dịch giả
văn học, nhưng mãi mãi trong tôi, anh vẫn là người bạn tuổi
thơ đầy ấn tượng và đáng khâm phục…”.
GIANG HỒNG TRIỀU
(Trích bài “Người bạn tuổi thơ “viết tháng 8-2012,
in trong sách Trần Đương - đại lực điền trên cánh đồng văn hóa,
Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội - 2013).
634 . Thơ T R Ầ N Đ Ư Ơ N G
* “… Khai xuân Bính Tý 1996, “Hoa vườn nhà”, tuyển tập
46 bài thơ chung một dòng cảm hứng, soi bóng ba thế hệ tác
giả kế tiếp cùng huyết thống. Ở ðây, bài “Kính dâng ông nội”,
thi phẩm dài của Trần Đương cho phép tôi tiếp cận đôi nét
chân dung của thi nhân Trần Kim Diệm, quê làng Hà Đông,
Quảng Xương, Thanh Hóa, tham gia cách mạng từ trước
những năm 1930 - 1931, mất năm 1948 sau khi tham gia cướp
chính quyền ở quê nhà tháng 8-1945. Những vần thơ đẹp của
Trần Đương rung cảm sâu sắc và nhắc nhở tôi nhìn lại trong
đó ở một trích đoạn ngắn về đồng chí Trần Kim Diệm, một
người tiêu biểu cho thế hệ cách mạng đầu tiên:
“Thương dân, ông quyết sống cho đời
Thơ gọi trăm lần: Tổ quốc ơi!
Thơ hẹn ngày mai… đời sẽ sáng
Cờ sao rực rỡ gió tung trời!”…
VŨ NĂNG AN
(Trích Hồi ức tháng Tám đăng trên báo Quân đội nhân dân,
số ra ngày 12-8-1996).
* “… Đọc xong, nói đúng hơn là thưởng thức xong từng
bài, từng dòng và từng chữ, từng tứ thơ trong Lặng lẽ đời, lặng
lẽ thơ của anh Trần Đương, tôi mới cảm nhận được một phần
nhỏ những kho chất liệu đồ sộ mà anh đã tích lũy được trong
cuộc sống của mình.
Từ quê hương thấm đượm hương lúa, hương biển xứ
Thanh đến các miền của đất nước Việt Nam như một bao lơn
nhìn ra biển Đông này. Tôi đến các nơi trên thế giới. Con
người, văn hóa của họ được anh cảm nhận qua những ý tưởng
Thơ  T R Ầ N Đ Ư Ơ N G  . 635
của những người con vĩ đại tiêu biểu cho dân tộc ấy. Anh là
một người thật hạnh phúc được đứng trên đất của các thi nhân
như vậy.                                                                                  
Tôi chỉ cầu mong và cầu chúc anh luôn giữ được sức khỏe
tốt, tâm hồn nhạy cảm, trong sáng để đưa cuộc đời vào những
dòng thơ sáng tạo, hay của mình.
Tôi xin kính tặng anh đôi dòng “Cảm” của mình:
Kính tặng anh Trần Đương:
“Sức lực của anh vạm vỡ thay!
Đi khắp năm châu… đất nước này
Khám phá hồn thơ nhiều dân tộc
Dập dồn ý tưởng Đắm và Say!”
Đại tá NGUYỄN VĂN THÁI
(Trích bài viết ngày 19-12-2009, in trong sách
“Trần Đương - đại lực điền trên cánh đồng văn hóa”,
NXB Văn hóa - thông tin, Hà Nội - 2013)
 
                                         PHƯƠNG NGỌC NGUYÊN sưu tầm

Nguồn tin: ,bài: BVM:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây