Thơ là tiên dược với tôi

Thứ sáu - 21/08/2020 10:49
Ngô Thảo

Về thương binh chống Mỹ hạng đặc biệt Nguyễn Tường Vĩnh
Thiếu tá, nhà thơ Nguyễn Tường Vĩnh
Thiếu tá, nhà thơ Nguyễn Tường Vĩnh

    Vẫn còn rõ nét trong tôi hình ảnh mùa đông 1965. Đó là mùa diễn tập đầu tiên của chúng tôi trong đời bộ đội. Dạo đó, tôi ở một đơn vị Cối 120 , pháo khênh vác. Đợt hợp luyện nhiều binh chủng  dài ngày. Cơ động liên miên , tập dượt cho một cuộc hành quân qua những miền núi non trùng điệp trên đường vào chiến trường. Là lính Trinh sát, nhưng khi cơ động xa, chúng tôi vẫn chung vai, chung tay khênh vác với pháo thủ. Ba lô nặng trên vai, bốn người khênh một bộ phận pháo ( nòng, bàn đế, chân ) đều xấp xỉ 100kg, vượt địa hình đồi núi của miền rừng Việt Bắc.Những lần trinh sát đo gấp nối liền đội hình chiến đấu, khi tuyến núi Con Trâu- Thanh Lanh- Ngọc Bộn, khi tuyến Cầu Bâm - Gia Cát - Phan Lương. Những đêm đẩy pháo từ Phù Ninh lên Việt Trì, Lâm Thao,, qua Trung Hà, về chân Ba Vì bắn đạn thật. Rồi những ngày mưa, khênh Cối vượt dốc cao đèo dài lên mãi Tây Thiên, suối Giải Oan, Thác Bạc tận đỉnh Tam Đảo. Đầu mùa trú ở Bảo Đường, Khuân Dậu ( Phú Thọ), cuối mùa sang tận Làng Nàng, Hữu Vu ( Tuyên Quang). Suốt mùa đông buốt giá ấy, mảnh chăn đơn, tấm ni lông vừa che mưa vừa lợp lán, manh chiếu gấp nhiều đã gãy thành hai mảnh- dạo đó chưa được cấp tăng võng như khi đi chiến trường - lót chỗ ngủ trong rừng vầu Phan Lương, rừng trúc Cầu Chi, rừng ổi Núi Thắm, rừng nứa Tràng Dương - Đại Từ. Nặng về tập đêm,những đêm đông dài hun hút, sâu thăm thẳm, bọn trinh sát chúng tôi lần mò lên chiếm lĩnh đài quan sát trên những đỉnh cao lộng gió, hướng ống kính máy quan trắc tìm bắt một ánh đèn le lói là mục tiêu, và những đêm mưa hành quân, qua một xóm nhỏ, một phố vắng, thèm da diết một mái nhà tranh,, một manh áo khô, một bếp lửa ấm, một giấc ngủ thật đầy.

       Trong những ngày ấy, bọn lính học trò cứ bảo nhau: Gian khổ là như thế đấy, chẳng thể nào vượt hơn. Hãy nhớ lấy để có lúc còn dùng…Quãng đời người chiến sĩ ngoài mặt trận như một tấm gương soi, một thứ thuốc thử màu, thử đời sống hiện tại về chí tiến thủ, ý chí vươn lên, lòng say lý tưởng, sức xông xáo, xốc vác, về đức hy sinh quên mình. Cả về lòng ngay thẳng, sự trong sáng và tình nghĩa giữa những con người cùng chung một nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Với đa số những người lính, thì những năm tháng gian khổ, chung sức làm nên những thắng lợi vẻ vang là một kỷ niệm vô giá. Mọi chúng ta đã lớn lên trong gian khổ, thử thách qua gian khổ.Vả lại đời lính đâu chỉ có gian khổ. Còn là bao nhiêu niềm vui lớn,. Bao nhiêu tình cảm mặn nồng, suốt đời khó mà quên được.

        Một trong những người  trực tiếp đẫn dắt chúng tôi về chuyên môn kỹ thuật từ thuở ban đầu tân binh ấy là Chủ nhiệm trinh sát Nguyễn Tường Vĩnh của Tiểu đoàn 12, Trung đoàn Pháo binh 38 nằm trong Sư đoàn Quân Tiên Phong -308. Đó là một Sĩ quan trẻ, người cao ráo, nước da trắng trẻo, mắt to, gương mặt sáng. Đối với lũ tân binh nhiều đứa xuất thân nhà quê miền Trung, do đất nước tao loạn mà lạc vào  đội hình Sư đoàn chủ lực mang phong cách Thủ đô - không chỉ vì có Trung đoànThủ đô - 102, Ông đúng là người mẫu lý tưởng của Anh Bộ đội Cụ Hồ mà chúng tôi thường hình dung qua sách vỡ; Phong thái chững chạc , đẹp trai, đa tài, hào hoa. Sau này gần gũỉ  hơn, chúng tôi mới biết Ông quê ở Nghĩa Lâm - Nghĩa Hưng, Nam Định. Không hơn lớp chúng tôi bao nhiêu tuổi, nhưng Ông đã hơn chúng tôi cả một cuộc kháng chiến chống Pháp. Do được đi học từ bé, đầu kháng chiến chống Pháp,  Ông đã tham gia dạy văn hóa, ban ngày cho trẻ em, ban đêm dạy Bình dân học vụ cho người lớn, từng vào Du kích, từng làm Công an. Năm 1953, mới 16 tuổi, Ông đã được nhập ngũ vào Sư đoàn 308, tham gia truy kích địch ở Chiến dịch Thượng Lào II, rồi vào chiến dịch Điện Biên Phủ, đánh các trận ở Cầu Lồ, Bắc Giang. Chàng trai 17 tuổi có mặt trong đội quân vể tiếp quản Thủ đô. Vừa công tác, vừa tự học để đủ trình độ vào học Khóa II Trường Sĩ quan Pháo binh, được tham gia duyệt binh ở Quãng trường Ba Đình trong  Quốc khánh 1960 - niềm mơ ước của mọi người lính. Cuối năm 1962, Ông ra Trường,, về làm Trung đội trưởng Trinh sát, rồi lên Chủ nhiệm Trinh sát Tiểu đoàn 12, đơn vị chúng tôi vừa nhập ngũ. Chỉ hai năm đầu đời làm chiến sĩ của Ông mà gần 40 năm xa cách, tôi còn nhớ  mãi về Ông với những kỷ niệm đẹp.

         Nhiều năm sau ngày thống nhất, trong một dịp gặp Bạn chiến đấu Trung đoàn 38 Pháo binh của Sư đoàn Quân Tiên phong, Quân đoàn I, vui mừng được gặp lại Ông, nhưng với bước chân đi không được bình thường. Có dịp hàn huyên, mới biết rõ những gì đã đến với Ông trong những năm cuối của cuộc chiến. Khi Tiểu đoàn chúng tôi chuyển sang Pháo Đ74, có tầm bắn xa đến 30km, vào bảo vệ bờ biển Quảng Xương-Thanh Hóa cuối 1967, đầu 1968,vào chi viện cho chiến trường Trị - Thiên với phiên hiệu Đoàn 4011B, năm 1969, chuyển sang pháo DKB đánh phản kích của địch lên Miền Tây Trị - Thiên, rồi đi đo dạc chuẩn bị cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, thì Sư đoàn 308 của Ông vào Mặt trận B5, chiến đấu ở Mặt trận Khe Sanh , rồi Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào cuối 1971. Đang là Trung úy, nhưng Ông đã là Tiểu đoàn trưởng, xông xáo  chỉ huy nhiều trận đánh xuất sắc. Khi dẫn một Đại đội thọc sâu vào diệt cụm pháo cối 160, và Vua Chiến trường - 175, ở Cứ điểm Tà púc, chi viện cho đơn vị ở cao điểm 500, thì bị phản pháo. Một mãnh đạn xuyên qua mũ sắt, găm vào đầu, nửa người bị liệt, nhiều vết thương khắp người, máu me đầm đìa. Giữa trận địa bom đạn đầy trời, Ông đã được đồng đội phá vòng vây, đưa về phía sau cấp cứu. Hy vọng sống rất mong manh. Nhưng như một sự thần kỳ, với một hộp sọ vị vỡ, sau thời gian điều trị,và luyện tập, tháng 10-1973, Ông đã trở lại công tác trên cương vị Hiệu trưởng Trường Bổ túc Văn hóa Thương binh miền Nam ở Hà Tây .Thật khó tưởng tượng, một thương binh sọ não đặc biệt, một chân giả, chỉ duy trì sự sống đã là khó, thế mà vẫn kiên trì, miệt mài, quyết chí học tập, mà lại học giỏi. Hết lớp bổ túc Hiệu Trưởng và Giám đốc, được giử lại Trường Hành chính Trung ương làm Cán bộ giảng dạy, lại học tiếp lớp Lý luận Chính trị cao cấp ở Học viện Chính trị Quốc gia, được điều về làm Chuyên viên ở Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội. Cuối 1990 đến tháng 4-1997, về làm Hiệu phó kiêm Bí thư Đảng ủy trường Cao đẳng Lao động - Xã hội, Tháng 5 -1997, về hưu , Ông vẫn tiếp tục được mời giảng dạy và tham gia nghiên cứu ở các trường Đại học và các lớp tại chức ở nhiều địa phương trong cả nước.

           Con người làm việc trí óc bền bỉ, dẻo dai,nhiều sáng tạo, năng suất cao, liên tục 50 năm, với một hộp sọ bị khuyết, hưởng chế độ Thương binh hạng đặc biệt , Thiếu tá Nguyễn Tường Vĩnh phải chăng là một bí ẩn lớn đối với giới khoa học của ngành Y? Chỉ  biết với đồng đội, với lớp chiến sĩ chúng tôi, Ông là một người lính, một Anh bộ đội Cụ Hồ mẫu mực và phi thường. Bao nhiêu thua thiệt phải chịu chỉ làm sáng lên phẩm chất cao thượng của Người Chiến sĩ Quân đội Nhân dân.

         Tiết lộ với đồng  đội  phương thuốc  bí truyền nào đã giúp Ông vượt lên thương  tật nặng nề để sống và  làm việc còn hơn cả một  người khỏe mạnh bình thường , Ông hóm hỉnh đọc : Thơ là Tiên dược của riêng tôi/ Làm dịu vết đau lúc trở trời.

            Ngoài 80 tuổi, người thương binh đặc biệt ấy vẫn minh mẫn, trẻ trung, nhanh nhẹn, yêu đời, có lẽ ngoài nghị lực, thuốc thang ( nếu có),Ông còn có một phép Dưỡng sinh độc đáo và đặc biệt : làm thơ. Tuổi già thường mắc bệnh  thời tiết. Vết thương ở chân và đặc biệt là sọ não càng nhạy cảm với mưa nắng thất thường. Lúc bấy giờ, Ông  lấy Thơ làm tiên dược:

     Riêng thơ đối với tôi / Quí như là Tiên dược /Khi thay đổi thời tiết /Làm dịu vết thương đau.

     Cho đến nay, Ông đã có chục tập thơ được xuất bản: Người về từ Tà Púc, Tình khúc chiều,Còn lại với thơ, Tiếng gọi thời gian, Một chút duyên thơ, Bài ca Đồng đội, Tình khúc chiều Xuân, Lưu luyến tình thơ, Còn chút Đường thi, Tình thơ lục bát, Ân tình Đồng đội, Những người đẹp nhất, Nạng  đỡ, Hữu Vinh trong mắt tôi( một bút danh của Ông ), Người viết ước mơ, ….Thơ  Ông  có mặt trên nhiều sách báo Trung  ương và các địa phương. Mỗi bài thơ là một câu chuyện, một kỷ niệm, một lời tâm tình dệt nên cuốn nhật  ký  tinh thần,tình cảm của chính tác giả. Nơi đó thể hiện rõ một lý tưởng sống cao đẹp, những tình cảm thiết tha và mặn nồng  với  Tổ quốc, với quê hương, với các bậc sinh thành, đồng  chí và đồng đội , người  còn sống trở về,  và bao người đã hy sinh, với vợ con, bạn bè, học trò, nghĩa  cũ, tình xưa. Thế  giới thơ  của Ông phong  phú, bởi một cuộc đời đầy sóng gió, nhưng  tâm hồn luôn lạc quan, tấm lòng khoáng đạt, rộng mở.

       Thần tượng  về Người Lính mẫu mực buổi đầu bước chân vào quân ngũ của  chúng tôi, sau hơn nửa Thế kỷ, với biết bao biến động , vẫn Đẹp như thuở nào.

                                                                                                                                                                                                      NT

 

Nguồn tin: BVM

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây