TRƯỜNG CẢM ẤM ÁP TRONG “NHỮNG LUỐNG CÀY VẮNG MÙA”

Thứ ba - 22/05/2018 16:09
Đặng Hồng Thúy

Tôi gặp Bùi Việt Mỹ trước khi đọc "Những luống cày vắng mùa" của anh. Anh để lại cho tôi cảm giác về một người đàn anh thực sự trong lối sống. Một người anh mà ta có thể trò chuyện cởi mở nhưng ngắn gọn, có thể bông đùa mà không sợ bị đánh giá, có thể tin cậy không chết đói nếu anh còn dẫu chỉ gói mì tôm cuối cùng.
Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Câu đầu tiên tôi nói với anh sau ba mươi phút chào hỏi là:

- "Trông anh chả ai nghĩ anh là người của giới văn chương!".

 Một người bạn của anh nghe tôi nói thế tiếp lời rằng:

-  "Anh Mỹ là con người của công việc mà".
 

Khi đó tôi chợt giật mình vì có thể tôi đã lỡ lời. Trong đầu, tôi đánh giá anh rất giống một anh nông dân: Chân thật, mạnh mẽ và hối hả với công việc như đang là mùa vụ. Cũng chân thật và hể hả thế với bạn bè bên ấm nước trà xanh hay bữa cơm thân mật như một lực điền chủ gia đình thực sự. Lúc đó tôi cứ thầm ước, giá trên bàn nước kia có thêm vài củ khoai lang luộc nữa thì quả thực hợp cảnh, hợp tình.

 

Tối, tôi dành thời gian để đọc tập thơ anh tặng. Cái tên tác giả Bùi Việt Mỹ lại đem đến cho tôi cảm xúc khập khễnh. Nó như không hợp với tên của tác phẩm "Những luống cày vắng mùa". Nó như thể một ngôi nhà lộng lẫy kiến trúc châu âu đặt giữa làng san sát ngói ta và mái rạ. Lật nhanh những cái tên bài thơ trong tập toàn là làng là ruộng, là gió nắng, tháng, mùa...nông dân đặc sệt  Thế là, như một kẻ tò mò, tôi bắt đầu nhấm nháp tập thơ để tìm xem trong ngôi nhà to lớn kia đang chứa chất những gì.

 

Bước vào bậu cửa. Tôi gặp làng với sự tha thiết của người dân đất lúa Thái Bình thế này:


Bờ sương và những cây số dài, em theo chiều cây lúa nước

tiếng hát vắt qua cánh đồng còn vương mãi nhịp chèo

.....

Áo em phơi từ góc thu sang

vội vã cánh gió lụi tàn, ngọn tường vi rũ áo

(Làng hiện sinh)

"Chén rượu giữa đồng

thấy lúa đến từ sau tia chớp"

(Chợt hứng giữa đồng)

hay

"Có thể ngót hai trăm năm

Cái làng nhỏ lỳ lợm với sóng gió nhọc nhằn

...những con hà còn bám đầy mặt đá

giống bàn tay ngư dân nắm chắc diềng lưới cá"

(Làng nhỏ của tôi)


Lần theo trường cảm xúc về làng của anh, tôi bắt gặp đồng bãi, vườn nắng: Mưa/ để lại những mặt trời nằm im trên lá/ để lại em và vệt nắng nghiêng ánh mắt (Vườn Nắng), Cha, mẹ và em: Đặt chiếc xương cá lên mái chùa cổ tích/ và em lớn lên qua kỳ ngủ mùa đông. Tôi bắt gặp những sắc màu rực rỡ lung linh xanh như ngọc của sợi mưa trong vườn: Lũ sợi mưa ra ràng/từ cọng cây tung tăng trên khoảng trời rộng lớn/ đậu vào vườn, nảy chối/ đậu xuống ao, cá giỡn/ vương áo em, bỗng chốc xuân thì (Chuỗi hạt đầu tiên).
 

Tôi gấp tập thơ lại để ngẫm về chủ nhân của nó. Một gương mặt không còn trẻ mà sao những cảm nhận về con người, về thiên nhiên lại thật thơ trẻ. Phải chăng anh luôn mang theo những cảm xúc cổ tích tuổi thơ như bảo bối về thành phố để nhân lên sự tròn đầy?


Em để lại phía mặt trời vàng hương rơm nếp;

Đằng đông phố đã lên đèn át khuất đỉnh trăng

...làm tâm trục không gian ồn ã dưới những toà tháp là sự tĩnh lặng, gánh hàng hoa, nói lời dịu nhẹ

Ngỡ lời kết của luồng sáng thuỷ tinh ngoại thành, lời nối điệu ca trù sóng sánh.

(Nhà ở ngoại thành)

 

Tôi háo hức tham quan những gian phòng trong ngôi nhà anh dựng lên giữa ngôi làng lúa nước. Có cảm giác như anh đang muốn níu lấy, giữ lấy tất cả những âm thanh, màu sắc, giai điệu của quê hương. từ tà áo trinh nguyên thôn nữ, vành nón chao nghiêng nơi cầu ao đến tiếng dế, tiếng chim ríu rít mùa ngày...Anh cất giữ cẩn thận tất cả trong những bước tranh nguyên sơ đẹp nhất với đầy đủ gam màu và âm thanh đồng nội.

 

Tôi bỗng chợt hiểu: Hoá ra cần phải có một nơi lưu giữ vững chắc như thế để bảo đảm sự tồn tại của bản sắc văn hoá làng. Hoá ra cần phải có những khung đỡ tốt để sự thay đổi của cuộc sống đô thị hoá không bẻ gãy được sức sống của những dấu ấn thiên nhiên. Phải chăng anh lo sợ rằng trong mái tranh dột nát:

Những bức tranh xộc xệch trong khung

Chiếc lọ gốm hoa để mặc chuột xô vỡ

Khoảng khắc của sổ nắng loá vào bụi bậm

...Những ngày tận cùng thế kỷ, bia phả hơi vào nhà

Ttất cả những người vợ lặng thính trước số phận

Có lẽ anh hy vọng ngôi nhà kiên cố mà anh xây dựng sẽ:

"Kịp nâng dậy chiếc bình

ít nhất cũng phân huỷ được một phần ba vệt đen đáng khinh

thường vẫn nối từ ngoài kia

vào với nhà mình"

(Những ngày cuối thế kỷ)

Có lẽ anh hy vọng giữ chân được người phụ nữ của mình trong ngôi nhà ở làng nhưng an toàn và đủ đầy như thành phố. Tránh xa sự lấn lướt của làn sóng đô thị hoá khiến cho 'những luống cày vắng mùa" chim không còn nơi dừng chân, nỗi nhớ tình yêu mất cả bờ bến đậu. Tránh xa "ngã ba Chí Phèo", tránh xa "Ngoại tình": Em run rẩy một que diêm nhóm lửa/ ngọn lửa kia nguội ngắt bát cơm mình.

 

Tôi cứ hy vọng, cứ mơ ước rằng những mong muốn rất đơn sơ của anh trở thành hiện thực. Bởi dẫu tuổi tác già đi, hồn vía vẫn chẳng già. Những niềm yêu mãi xanh và dày lên cùng năm tháng. Chúng ta những người dân thuần Việt, sinh ra dưới luỹ tre làng, những kỷ niệm quê hương tự nó thấm vào và lưu giữ trong tiềm thức.

 

Trong ngôi nhà to lớn của Bùi Việt Mỹ ở làng, những cảm xúc ấm áp của thiên nhiên, của mùa sẽ trở thành bảo bối của anh, của những người được may mắn được dầm mình trong trường cảm xúc đầy đặn và tươi mát này. Thứ trường cảm ấm áp và thân thuộc đến nỗi bất cứ ai đã từng chạm vào cũng đau đáu một lần được quay trở lại.

 

ĐHT

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây