Hội thảo: BÁC HỒ VỚI VĂN NGHỆ SĨ THỦ ĐÔ

Thứ sáu - 12/06/2020 20:32
Sáng ngày 9/6/2020, tại hội trường Hội LH Văn học nghệ thuật HN đã diễn ra buổi Hội thảo của hàng trăm anh chị em văn nghệ sĩ thuộc 9 Hội chuyên ngành: Văn, Văn nghệ dân gian, Nhạc, Mỹ thuật, Sân khấu, Điện ảnh, Nhiếp ảnh...về đề tài: Bác Hồ với văn nghệ sĩ Thủ đô Hà Nội. Tại đây 12 bản tham luận và một số phát biểu đã diễn ra thật sinh động và trân trọng, giành tình cảm đặc biệt với Bác Hồ kính yêu, tiếp nối và làm phong phú thêm nội dung, trách nhiệm của văn nghệ sĩ, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. PV
Ảnh: Đào Quang Minh
Ảnh: Đào Quang Minh

Đề dẫn:

Tọa đàm: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Văn học nghệ thuật Thủ đô”

                                                                  NSND. Trần Quốc Chiêm

                                                         Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội

 

Kính thưa các quý vị đại biểu, các Văn nghệ sỹ Thủ đô!

Nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong lòng mỗi người chúng ta luôn thầm nghĩ về Bác, không chỉ đối với sự nghiệp cách mạng cao cả, vĩ đại của Người mà còn ở những lời ân cần nhắc nhở, dạy bảo và vai trò to lớn của Người đối với văn học, nghệ thuật nước nhà. Vừa là lãnh tụ, vừa là một nhà văn hóa lớn nên sự quan tâm và những lời căn dặn của Người về văn học, nghệ thuật lại càng trở nên sống động, tha thiết.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, nghệ thuật được coi là một di sản phi vật thể quý báu của dân tộc Việt Nam. Thế giới suy tôn Người là danh nhân văn hóa bởi Người là một nhà văn hóa hành động theo đúng nghĩa “nếu văn hoá là nhu cầu của sự sinh tồn của loài người thì văn hoá ấy phải phục vụ cho chính con người”. Trong tư tưởng của Người, văn hoá được đề cập đến hết sức bình dị mà sâu sắc, bao hàm cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, văn học, nghệ thuật là một trong những cách thể hiện đặc biệt và hiệu quả trên mặt trận văn hoá mà Người đề cập đến. Mặt trận văn hóa cũng như các mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế… Xem văn hóa, nghệ thuật là một mặt trận nhằm nhấn mạnh đến tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh trên mặt trận này. Tuy không có tiếng súng, kẻ thù không trực tiếp, nhưng tính chất phức tạp và quyết liệt của mặt trận này đã được thực tiễn lịch sử chứng minh. Quan điểm này từng được Người phát biểu từ thời kỳ trước cách mạng và những năm đầu của cuộc kháng chiến.

Ngược dòng lịch sử, chúng ta thấy văn học, nghệ thuật là một thứ vũ khí đấu tranh có hiệu quả. Từ những câu ca dao, tục ngữ mang nội dung phản phong châm biếm, đả kích giai cấp thống trị đến các loại truyện cổ tích, truyện cười có nội dung đấu tranh xã hội cao. Những áng văn chương lớn trong văn học như “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, “Truyền Kiều” của Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hương, thơ Đồ Chiểu đều có giá trị về tư tưởng và có tinh thần đấu tranh mạnh mẽ. Nguyễn Đình Chiểu đã từng đề xướng quan điểm tiến bộ về văn học nghệ thuật: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Á Nam Trần Tuấn Khải cũng xem văn chương thực sự có khí phách và linh hồn khi gắn với hồn thiêng đất nước: “Đời không duyên nợ thà không sống/ Văn có non sông mới có hồn”. Năm Đinh Mão 1927, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn “Đường cách mệnh”. Thông qua tác phẩm, Người muốn thay đổi quan niệm phong kiến trước đây bằng cách tạo ra một thế giới quan mới cho thế hệ thanh niên yêu nước. Đó là thế giới quan hiện thực về người chiến sĩ cách mạng có tư cách, dũng khí, có phẩm chất đạo đức cần thiết với mình, với người và với công việc, có tinh thần quốc tế trong sáng. Bác viết tác phẩm này với mục đích thiết thực: Sách này chỉ ước ao sao đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết với nhau mà làm cách mệnh. Còn trong bài thơ “Cảm tưởng đọc Thiên gia thi”, Người cũng khẳng định: “Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong”. Chất thép là tính chiến đấu, là nội dung đấu tranh xã hội của thơ ca. Đây có thể được coi là tuyên ngôn nghệ thuật của Người và đó cũng là đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng. Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 cũng nhấn mạnh tính chiến đấu của văn hóa, văn nghệ trên lập trường giai cấp vô sản theo phương châm “dân tộc, khoa học và đại chúng”.

Trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951, Người căn dặn: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh… Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”.

Quan điểm “văn học, nghệ thuật cũng là một mặt trận” thấm sâu trong nhận thức của các nhà văn, nhà thơ đi theo Đảng suốt những năm tháng kháng chiến cũng như những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhà thơ Sóng Hồng đã lên tiếng khẳng định: “Dùng bút làm đòn chuyển xoay chế độ/ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”. Nhà thơ Tố Hữu bộc lộ quan điểm nhân sinh và nghệ thuật của mình qua bài thơ “Từ ấy”: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ/ Mặt trời chân lý chói qua tim…”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến vai trò của nghệ sĩ. Đây cũng chính là quan điểm của Người trong thư gửi các họa sĩ trong năm Tân Mão 1951: “Về sáng tác, thì cần hiểu thấu, liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân. Như thế mới bày tỏ được tinh thần anh dũng và kiên quyết của quân và dân ta, đồng thời để giúp phát triển và nâng cao cho tinh thần ấy”. Có thể thấy, Bác quan tâm đến hầu hết các vấn đề của văn nghệ: từ chức năng, tính chất của nghệ thuật đến vai trò của văn nghệ, từ nguồn gốc của nghệ thuật đến đối tượng phục vụ, phạm vi phản ánh; mối quan hệ giữa nghệ sĩ, tác phẩm và công chúng; sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của tác phẩm; mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, chính trị và văn học, tư tưởng và nghệ thuật, tự do sáng tạo và những nguyên tắc cần tôn trọng; từ mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, phổ cập và nâng cao đến làm thế nào cho tác phẩm có tính hấp dẫn, có sức cuốn hút thông qua cách viết, cách thể hiện…

Trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ văn hóa năm 1958, Người thân mật căn dặn anh chị em rằng: “Cơ quan trong Bộ Văn hoá, các cơ quan các ngành, các ty văn hoá thì cần xuống nông thôn, vào nhà máy, vào bộ đội nhiều hơn nữa, mà đi vào như thế thì phải cùng làm, cùng ăn, cùng ở với nhân dân. Chứ nếu đi xuống nông thôn mà lại lao động phất phơ, ở riêng thì cảm thông sao cho được, gần gũi sao cho được với công nông, với bộ đội. Muốn thật sự gần gũi quần chúng thì phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm, mới biết sinh hoạt của quần chúng như thế nào, mới biết khó khăn, biết chí khí của quần chúng như thế nào, mới biết nguyện vọng của quần chúng như thế nào”.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, trong đời sống văn nghệ đã hình thành lớp lớp nhà văn chiến sĩ, những nhà văn hăng hái tham gia vào sự nghiệp cách mạng, dùng ngòi bút của mình phục vụ cho cách mạng một cách tận tụy, hết mình. Nhiều nhà văn trong kháng chiến chống Pháp đã lăn lộn ở chiến trường, tham gia các chiến dịch Thu đông, Việt Bắc, Biên giới, Điện Biên Phủ… Trong số đó có nhiều người đã hi sinh anh dũng như các nhà văn – chiến sĩ Nam Cao, Trần Đăng, Trần Mai Ninh… Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, hàng chục ngàn văn nghệ sĩ đã “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đến với tiền tuyến lớn và có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp thống nhất nước nhà, như các nhà văn Anh Đức, Nguyễn Thi, Nguyễn Sáng, Phan Tứ, Nguyễn Trung Thành, Trần Hiếu Minh, Lê Anh Xuân, Dương Thị Xuân Quý v.v. trong số họ có nhiều người đã ngã xuống trong cuộc chiến giành lại độc lập, tự do cho non sông, đất nước.

Là người cầm bút, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu văn nghệ sĩ luôn luôn có nhu cầu và làm việc hết mình như con tằm nhả tơ để sáng tạo ra tác phẩm mới. Tư tưởng, tình cảm của văn nghệ sĩ giao lưu với công chúng thưởng thức văn học nghệ thuật và thông qua tác phẩm người văn nghệ sĩ giãi bày với chính bản thân mình. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi văn nghệ sĩ phải sáng tạo ra những "Tác phẩm có nội dung chân thật và phong phú, có hình thức trong sáng vui tươi, hấp dẫn khi chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì bổ ích”. Đó là những tác phẩm: Thơ, văn, nhạc, hoạ, điêu khắc, nhiếp ảnh… Những tác phẩm không thể thiếu trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng văn nghệ sĩ vừa biết "mơ mộng” vừa phải biết trở về với cuộc sống thực tại của con người, nhận thức đúng và cải tạo cuộc sống hiện thực để cuộc sống tốt đẹp hơn, không "tô hồng” hay bôi đen hiện thực. Muốn vậy, văn nghệ sĩ phải có thế giới quan khoa học nắm bắt được tình cảm, suy tư của nhân dân và quan điểm đường lối của Đảng.

Tiếp thu tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, nhiều năm qua Đảng ta đã có những chủ trương đường lối soi đường cho sự nghiệp văn học nghệ thuật phát triển. Những chủ trương đường lối đó được thể chế hoá qua chính sách của chính quyền các cấp tiếp tục khẳng định văn học nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng đặc biệt nhạy cảm của văn hoá, là nhu cầu thiết yếu thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người, là một động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.

Trong thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, văn học nghệ thuật đang đứng trước những thời cơ, vận hội lớn, đồng thời cũng đứng trước những thách thức mới gay gắt. Lời dạy của Bác Hồ cho đến ngày hôm nay là kim chỉ nam để đội ngũ văn nghệ sỹ luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, mài sắc ý chí chiến đấu bởi kẻ thù luôn tìm cách tiến công trên mặt trận văn hóa, gieo rắc nọc độc tư tưởng, làm lung lay tinh thần chúng ta trên mặt trận không có tiếng súng này. Với tư cách là người đặt nền móng cho nền văn nghệ cách mạng, Người đã có công gây dựng một nền văn nghệ mới, đồng thời có những lời chỉ bảo tận tình, cần thiết cho đội ngũ những người làm công tác văn hóa văn nghệ, đặc biệt là các anh chị em nghệ sĩ. Tư tưởng đó của Người chính là ánh sáng soi đường cho sự phát triển của nền văn hóa nghệ thuật của nước ta, đội ngũ văn nghệ sĩ hôm nay vẫn luôn khắc nhớ, đinh ninh lời Bác căn dặn ngày nào: “Văn hóa, văn nghệ cũng như mọi hoạt động khác, không thể ở ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”; “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.

Kính thưa các quý vị đại biểu, các văn nghệ sỹ Thủ đô!

Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội rất mong nhận được nhiều ý kiến tham luận của các Văn nghệ sỹ về đề tài Chủ tịch Hồ Chí Minh với văn học nghệ thuật Thủ đô để có thêm nhiều tư liệu, tác phẩm quý báu viết về Bác - Người lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam trong dịp kỷ niệm 130 năm ngày sinh của Người!

Kính chúc quý vị đại biểu mạnh khỏe và hạnh phúc!

Chúc Tọa đàm thành công tốt đẹp!

Xin chân thành cảm ơn !

  Hà Nội, ngày 9  tháng 6 năm 2020.

                                                   

TỪ NGUỒN CẢM HỨNG ĐẾN TRÁCH NHIỆM SÁNG TÁC

                                                                          Tham luận của nhà văn Bùi Việt Mỹ

         Có lẽ, trong suốt 75 năm qua, từ Quốc khánh 2/9/1945 đến nay, không một ngày nào chúng ta, toàn dân ta không nhắc nhớ đến Hồ Chủ tịch, Người khai sinh Nước Việt Nam độc lập, dân chủ, tự do và hạnh phúc. Người là một vì sao tinh tú nhất của Dân tộc ta và người lao động trên toàn thế giới. Bởi vậy, nói về Người, viết về Người, quả thật, chỉ như bơi ra sông, ra biển vậy. Nhưng chúng ta lại không bao giờ dừng góp thêm một giọt nước mát bởi vì, chúng ta luôn cần học ở Người, tấm gương sáng về ý chí, đạo đức tác phong và sự hy sinh cả cuộc đời cho chúng ta, cho Dân tộc ta. Chúng ta lại đang với trách nhiệm của một công dân, văn nghệ sĩ của Thủ đô, nơi có ảnh hưởng lớn nhất từ sự nghiệp và từ đời sống lao động gần gũi của Người.

    1.Người là nguồn cảm hứng vô hạn của văn chương:  

Tác giả văn học cũng như các chuyên ngành nghiên cứu, sáng tạo nghệ thuật khác như âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh, múa, kiến trúc hay trong nghiên cứu, sưu tầm văn hóa dân gian… luôn được thừa hưởng một mạch nguồn tạo cảm hứng bất tận trong sáng tạo, xây dựng hình tượng của mình. Đó là từ Hồ Chí Minh. Chỉ riêng trong sáng tác văn học, cho đến nay, chúng ta không thể kể ra hay đong đếm có bao nhiêu bài vở viết về Bác hay thừa hưởng hình bóng bác trong tác phẩm của tác giả. Tại sao vậy? Một câu hỏi cũng thừa mà một câu trả lời cũng trở nên thừa bởi chính từ con người Hồ Chí Minh. Bản thân Người đã tạo nên một mạch nguồn mà tự nó tác động đến mọi người, tự nó tạo cảm hứng, thu hút, đòi hỏi sự sáng tạo của các tác giả. Tựa như một quy luật của đời sống nhân sinh. Chính vì thế mà, trước đây, Nhà thơ Minh Huệ chỉ trả lời: “ Vì một lẽ thường tình/ Bác là Hồ Chí Minh”.

Tuy vậy, theo lẽ thường, chúng tôi vẫn muốn nêu ra, hoặc tìm đến những tố chất tạo ra nguồn cảm hứng vô tận đó. Và đó là từ cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Bác: 30 năm bôn ba ở nước ngoài tìm đường cứu nước, tìm đường giải phóng dân tộc, cứu nhân dân ta thoát khỏi sự áp bức bóc lột, thoát khỏi cuộc đời lao động bị áp bức đến tận cùng. Người tổ chức và lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ta làm nên chiến thắng lịch sử mùa thu năm 1945 và khai sinh Nước VN DCCH; làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 5/1954 và đi đến chiến thắng vĩ đại 1975, thống nhất đất nước. Người đã chứng minh một hướng đi duy nhất đúng trên cơ sở một dân tộc có truyền thống văn hóa và anh hùng; Đã tôn vinh vị thế Dân tộc VN, đưa đất nước ta sang một kỷ nguyên mới, độc lập dân tộc, dân chủ và văn minh. Đó là một quá trình vận động của một thiên tài mà tưởng như chỉ có ở Người mà thôi.

Sự nghiệp cách mạng của Bác cũng là quá trình thể hiện vốn sống, sự am hiểu về phong cách, tập tục, đặc trưng văn hóa dân tộc và ứng xử nhuần nhị trong quan hệ ngoại giao. Bác biết đến 8 ngoại ngữ cơ bản, và theo Gs Hoàng Chí Bảo thì tổng cộng biết đến 29 thứ ngôn ngữ khác nhau. Tầm tư tưởng thiên tài của Bác còn thể hiện trong hoạt động báo chí, vừa viết bài, vừa là chủ bút: Người cùng khổ; trong sáng tác, như: Ngục trung nhật ký và những bài thơ Bác viết sau này. Đặc biệt kết tinh ở bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945. Ảnh hưởng của Bác từ trong và ngoài nước về nhân quyền nói chung đã được thế giới suy tôn Người là Danh nhân văn hoá thế giới.

     Làm nên thành quả vĩ đại ấy lại chính từ một con người có cuộc sống vô cùng giản dị. Mọi cử chỉ trong ứng xử, sinh hoạt Bác đều thể hiện rất rõ bản chất truyền thống văn hóa của người VN ta. Bác sống giản dị mà thanh cao, chân thành và thân thiện. Bác luôn gần gũi với đời sống thực qua từng chi tiết nhỏ ví như Người xuống đồng cùng tát nước chống hạn, cùng đến bình dân học vụ và sinh hoạt văn nghệ với các cháu thiếu nhi…Nhà thơ Tố Hữu đã viết về tấm lòng nhân ái ấy: Người là cha, là bác, là anh / quả tim lớn lọc trăm dòng máu đỏ. Và cuối cùng,  Bác đã để lại muôn vàn tình thương yêu trùm lên khắp quê hương Việt Nam. Phong thái tình cảm của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tạo nguồn cảm hứng, hấp dẫn kỳ lạ và không bao giờ vơi cạn cho giới trí thức văn nghệ sĩ. Cũng dừng lại ở nguồn cảm hứng, ngay cả với các em nhỏ, hình như trước kia Nhà thơ CẩmThơ đã viết đại ý: hôm trước chị… khóc vì anh ăn tranh mất kẹo, hôm sau em… khóc vì làm bài ít điểm bị phê, nhưng chả bao giờ tất cả chúng em cùng khóc, đó là ngày nghe tin Bác Hồ vừa mất. Ở đây, trong thời khắc cụ thể này một trạng thái cảm xúc rất tự nhiên đã cùng ùa về.

 

    2. Những sáng tác tiếp nối về Bác của các nhà văn Hà Nội:

 

    Như trên chúng tôi đã nói, chúng ta không bao giờ khái quát cho đủ các sáng tạo tác phẩm viết tập trung về Hồ Chí Minh mà chỉ buột miệng kể ra theo nhận biết hạn hẹp của mình.

   Ngay từ những ngày đầu kháng chiến, một số nhà văn có tên tuổi cũng như trong đời sống làng quê Việt Nam đã coi đây là đề tài lớn để sáng tạo thi ca. Nhà thơ Tố Hữu là người được thường xuyên làm việc với Bác, Ông làm thơ  để làm cách mạng. Viết về Bác chiếm vị trí lớn nhất trong thơ ông. Đó là các tác phẩm: Hồ Chí Minh (1945), Sáng tháng Năm (1951), Bác ơi (1969) và trường ca Theo chân Bác (1972). Nhà thơ Chế Lan Viên khắc họa hình tượng Bác, học tập thơ Bác, nêu bật tầm ảnh hưởng của Bác với sáng tác là Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi (khoảng 1961-1967), sau này còn có tập thơ Hoa trước Lăng Người và bài Người đi tìm hình của nước (1976)…Tiếp đó, các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu và đặc biệt là Lê Đạt viết trường ca về Bác vào năm 1970 v.v.. Nhà văn Sơn Tùng đã giành cả quãng thời gian dài, từ 1948 đến 1980, dụng công viết Búp Sen xanh - tiểu thuyết viết trọn về thời tuổi trẻ của Bác. Tập sách đã được giải thưởng lớn, lưu trong Tủ sách vàng của NXB Kim đồng. Tái bản đến 25 lần, có lần in đến100.000 bản. Đủ thấy sức ảnh hưởng của Bác tới thế hệ trẻ là rất lớn. Còn nhà văn Sơn Tùng, sau này được Nhà nước ta trao tặng danh hiệu Anh hùng lao động.

    Bên những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng, những câu ca về Bác lưu truyền trong dân gian và sáng tác về Bác của thế hệ các cây bút trẻ ngày càng nhiều, thật không kể xiết. Ví như các văn nghệ sĩ của Thủ đô hôm nay hẳn không có ai đã không một lần sáng tác ngợi ca lãnh tụ - người Cha già của Dân tộc. Trong đó, khá nhiều nhà văn đã đi lên và thành danh chính từ đề tài H Chí Minh. Viết về Người và sáng tác từ ảnh hưởng tư tưởng và phong cách của Người trong nhiều năm qua, có thể được xắp xếp theo các hình thức: Một là các nghiên cứu mang tính chính luận, đúc kết, giảng dạy và tuyên truyền sâu rộng. Hai là sáng tác xây dựng hình tượng nhân vật, truyền tải cảm hứng tới khán giả, đọc giả. Ba là các truyện dân gian, tâm sự, truyền miệng phác họa những cử chỉ và lời nói xúc động, cao đẹp của Người.

    Trong số các tác phẩm mới của Hà Nội, nhà thơ Trần Đăng Khoa là một điển hình, Anh khắc họa hình tượng Bác trong tình cảm của mình với bài Em gặp Bác Hồ. Trần Đăng Khoa tiếp tục khẳng định chắc chắn: viết về Bác Hồ là đề tài rất lớn của tôi, và anh đã thực sự có nhiều thơ cũng như bài viết về Bác với những tâm sự đã trở thành tư liệu quý. Ba nhà văn có tác phẩm khá dày dặn và độc đáo như: Vĩnh Quang Lê với  trường ca Những lời ca chưa đủ (1979) ca ngợi công ơn Đảng, trong đó hình tượng Đảng, Bác và nhân dân hòa quyện làm một, làm nên một dân tộc anh hùng; Trần Đương với khoảng 50 tác phẩm đều có câu chuyện kỷ niệm về Bác và quan hệ của Bác ở nước ngoài; Còn với nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, trong mấy năm gần đây, ông đã dày công xây dựng nhân vật ở góc nhìn của một nhà tiên tri Hồ Chí Minh. Tác phẩm văn học đã được chính tác giả đạo diễn, dựng phim và công chiếu.

    Đặc biệt, từ năm 2006, triển khai thực hiện cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, số lượng văn nghệ sĩ nói chung và nhà văn nói riêng của Hà Nội đã có nhiều sáng tác tham gia ở thể loại này. Tại UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, từ khi triển khai phát động cuộc thi trong phạm vi hưởng ứng cuộc vận động, 2008 đến nay, đã nhận được nhiều sáng tác đủ thể loại, mỗi tác phẩm mỗi cách tiếp cận, mỗi cách gợi mở đến một tâm sự riêng.. Một kết quả hết sức tích cực như: dựng vở, triển lãm và in ấn tuyên truyền trong toàn quốc.

 

     3. Học tập và làm theo tấm gương Bác:

 

     Có thể nói, ở mọi thời gian và mọi lứa tuổi, chúng ta đều học được ở Bác từ mục đích, cách thức và lựa chọn phương pháp làm việc, học tập. Hoạt động văn học nghệ thuật là một ngành đặc biệt bởi tính đặc thù của nó. Về mặt này thì Bác cũng đã để lại cho chúng ta một di sản quý giá, như tấm gương sáng nhất để các thế hệ văn nghệ sĩ học tập, sáng tạo không ngừng. Chỉ riêng về văn chương, báo chí, Bác là một tác giả nổi tiếng thế giới mà ở đây những bài viết đầu tay được thực hiện trong hoàn cảnh éo le nhất từ nước ngoài. Tuy nhiên, theo chúng tôi, để hiểu thêm và học thêm ở Bác, chúng ta lại trở lại với Bác từ những thực tế đơn giản nhất. Đó là:

- Viết do nhu cầu nên phải có mục đích rõ ràng. Về điểm này, chúng ta có thể bắt gặp ở bất cứ bài viết nào, ngay cả ở trong thơ của Người: thân thể ở trong lao nhưng tinh thần ở ngoài lao, và để làm gì, là: muốn lên sự nghiệp lớn. Hay, ngay trong ngày Đại lễ lớn nhất của đất nước 2/9/1945, câu nói đầu tiên của Bác là: Tôi nói đồng bào nghe rõ không? Tức là phải nói cho đồng bào tôi nghe về những điều muốn nói. Nói rộng ra là viết với mục đích là để phục vụ nhân dân, phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc. Xin nhắc lại câu nói của nhà thơ Tố Hữu khi ở Việt Bắc là: làm thơ để làm cách mạng.

- Sử dụng ngôn từ phải đúng, phải dễ hiểu. Nói thì thế, song học được như ý Bác là một việc khó. Muốn nói, muốn viết cho dễ hiểu, người viết phải am tường, phải trau dồi kiến thức rất nhiều, về văn hóa, địa lý, về tập tục truyền thống, về ngôn ngữ địa phương...Bác, ở hoàn cảnh nào nói theo hoàn cảnh ấy. Người nói và viết thật giản dị mà đầy đủ, ngắn gọn, súc tích, hợp người, hợp cảnh nên cảm hóa được lòng người.

Trên tinh thần này, chúng ta, một mặt khẳng định chỉ có thể tồn tại các tác phẩm mang tính tích cực, mặt khác không khuyến khích các sáng tác tân kỳ, tục tĩu, không định hướng nội dung hay có dụng ý xấu, thiếu ý thức.  

- Tinh thần lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi luôn luôn hiện hữu trong thơ Bác. Chính đó là động lực làm tăng sức lan tỏa tư tưởng của tác giả đến bạn đọc. Điều này, chúng a, ai ai cũng dễ thấy. Khi Bác tìm giấy bút để chép thơ thì: bỗng nghe vần thắng vút lên cao, khi chúc tết đồng bào thì Bác không quên khẳng định toàn thắng ắt về ta. Đối với Bác, thơ văn của Người đã thực sự có nội lực cuốn hút, tạo một phong trào quần chúng sâu rộng tới mức nó đã trở thành một lực lượng làm tăng sức dân và lấn át kẻ thù, góp phần quan trọng vào thắng lợi trong kháng chiến và xây dựng XHCN ở nước ta. Chúng ta đã và đang tiếp tục phấn đấu, học tập ở phong cách công tác và sáng tạo tác phẩm ưu tú của Người.

5/2020. BVM

 

Nguồn tin: Phạm Đức Hạnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây