Đây là một thành quả bất ngờ và đáng khích lệ bởi lần đầu tiên ở nước ta, một CLB văn chương “dám” tuyển chọn và xuất bản một tuyển thơ song ngữ Việt-Anh viết hoàn toàn theo thể thức mới với một chủ đề duy nhất.
N Trac
Nguyễn Trác
THU NAMKAU- TÌNH YÊU THIÊN NHIÊN, KHÁT VỌNG CÁI ĐẸP VÀ NHỮNG CÂU THƠ KỲ THÚ
Thu Namkau là tập thơ song ngữ do NXB Hội Nhà Văn phát hành 9.2025 gồm 125 bài thơ của 41 tác giả với chủ đề Mùa thu và theo thể thức Namkau (năm câu), một thể thơ mới do cố nhà thơ Trần Quang Qúy khởi xướng.
Phần thơ do nhà thơ Lôi Vũ, chủ nhiệm CLB và nhà thơ, nhà LLPBVH Đỗ Ngọc Yên, cố vấn CLB tuyển chọn. Phần tiếng Anh do nhà thơ, nhà LLPBVN Đỗ Ngọc Yên đảm nhiệm.
Đây là một thành quả bất ngờ và đáng khích lệ bởi lần đầu tiên ở nước ta, một CLB văn chương “dám” tuyển chọn và xuất bản một tuyển thơ song ngữ Việt-Anh viết hoàn toàn theo thể thức mới với một chủ đề duy nhất. Chỉ ở góc độ này Thu Namkau đã khiến bạn đọc phải kính nể, trân trọng sự táo bạo của những người thực hiện và các nhà thơ CLB tham gia.
Tao hóa đã ban cho Con người một thiên nhiên kì diệu với bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông, trong đó mùa thu là mùa kì diệu nhất.
Viết về mùa Thu, dù Văn hay Thơ đều rất khó. Ngoài tài năng, trước hết nó đòi hỏi người viết phải có một tình yêu thiên nhiên, yêu mùa thu tha thiết và sau đó là sự tinh tế của tâm hồn, nhạy bén của cảm xúc.
Văn học nghệ thuật nếu không bắt nguồn từ cảm xúc thì sẽ không còn là VHNT.
Hầu hết các nhà thơ trong tập, ở mức độ khác nhau nhưng đều có những phẩm chất đó. Ngoài cái chung mỗi nhà thơ lại đem đến cho độc giả một mùa thu riêng của mình với những chiêm nhiệm riêng về cuộc đời những tứ thơ và thi ảnh độc đáo riêng.
Với nữ sĩ Nguyễn Việt Hằng mùa thu thật thiêng liêng và kì ảo .Nó như một phép màu huyền diệu truyền gửi tuổi trẻ nhan săc cho những ai tin yêu nó ai và chạm được vào nó: Người đàn bà đang tuổi hồi xuân Chạm vào Thu ngỡ mình còn con gái.
Nguyễn Xuân Đạt nhà thơ Phú Thọ lại yêu mùa thu giản dị như yêu một mái tóc (48): Ta ngồi ướp nắng trung du Thoảng hương cỏ mật thơm từ tóc em
Nhà thơ Dương Văn Lương ngây ngất say: Tôi ngây ngất cái bay say lá rụng Yêu thu như yêu một mối tình (112)
Nhà thơ Tây hồ Nguyễn Trọng Nghĩa yêu mùa thu từ một kỉ niệm: Lơ đãng khói sương hồ Lãng Bạc Mình sương khói trong nhau
(Câu trên khói sương là của thiên nhiên câu dưới sương khói đã là của bạn tình).
Nếu nhà thơ Nguyễn Trọng Nghĩa mới chỉ thấy sương khói của mùa thu, thì “ghê gớm” hơn nữ thi sĩ Giang Đăng lại thấy thu như một thứ bùa ngải: Đậu tôi một giấc đàn bà Đêm thu hoang hoải những là mị mê Lao xao gió rũ hẹn thề Liêu trai lạc cõi phu thê lạ lùng
Mùa thu là mùa của cái Đẹp, của khao khát. Nhà thơ Hồ Thiên Nga ghi nhanh những khoảnh khắc trẻ trung tinh tế của mùa thu phố cổ: Rưng rức thu len từng ngõ nhỏ Tà áo thiên thanh eo con hé lộ Tuổi đôi mươi căng tràn vũ điệu
Làm sao những phố cổ Hà Nôi có thể già được trước cái “rưng rức” của eo thon , thiên thanh màu áo và trước vũ điệu căng tràn của tuổi đôi mươi.
Gặp tiết thu, nhà thơ Đỗ Thị Minh Cầm không tả cảnh thu mà lại tậm sự với Mẹ: Mẹ đã sinh mùa thu cho con. Mẹ đã gom hương muôn hoa cho mái tóc con. Gom sự dịu dàng của đất cho nụ cười con. Gom thăm thẳm trời xanh cho đôi mắt con…
Chị ca ngợi Mùa thu nhưng cũng là ca ngợi Mẹ. Chị yêu mùa thu như yêu một Người Me.
Nhưng rồi chị lại viết: Thu vẫn chẳng thành mùa vàng Nếu thiếu tà áo em bay
Khi nhà thơ Phạm Thị Hồng Thu tả gót son thả dáng/ chao nghiêng kinh thành ta cũng có thể hiểu gót son đây không chỉ là gót son một cô gái mà còn là gót son của mùa thu.
Mùa thu làm cho con người đẹp hơn, cuộc sống con người có ý nghĩa hơn nhưng Con người cũng làm cho chính Mùa thu và thiên nhiên đẹp hơn lên. Những tà áo bay bay của các thiếu nữ cũng làm “chao nghiêng” mùa thu thiên nhiên.
Nhà thơ Trần Cường lại mang tới những câu thơ dịu dàng se lạnh và giàu mau sắc hội hoa: Bồng bềnh mây trắng cảnh quê êm đềm Heo may se lạnh đón Thu về Rắc vàng lên sắc lá Dịu dàng thiên nhiên tặng con người (34)
Thiên nhiên mang đến săc vàng cho lá sự dịu dàng cho trời đất .nhưng phải chăng thiên nhiên cũng mang đến cho Con người sự dịu dàng của nó như một quà tặng. Sau đại dịch covit, ai đó bảo tôi hình như con người đã “biết mình biết ta biết trời đất hơn” biết sống chậm lại bớt “tham lam” để tránh sự giận dữ của thiên nhiên để giữ gìn sức khỏe.
Sống nhanh để phát triển bản thân để bắt kịp các xu hướng thời đại để hội nhập nhưng con người cũng cần biết sống chậm để suy ngẫm, để lắng nghe cảm xúc, để nuôi dưỡng tình yêu thương và ý nghĩa thực sự của hạnh phúc
Khi nhà thơ Nguyễn Thị Phượng buồn và tiếc nuối: Thêm một mùa thu Thêm một tuổi đời đi về phía hoàng hôn,
thì nhà thơ Nguyễn Văn Tạo lại trầm tư khi thấy “mùa thu vàng hoa cúc “trên mộ người chiến sĩ vô danh: Mắt mẹ nhòa Lệ khóc ướt đêm thu (182)
Dẫu trước đó ông vừa rất tài hoa với những câu thơ đầy ấn tượng ở hai bài Tắm đêm và Trăng thu: Trăng nửa đêm lấp lánh Đồi núi cao chập chùng Ta chạm vào trăng run rẩy Cúc áo mềm Ngực em
VÀ NHỮNG THI ẢNH LẠ
Đọc Thu Namkau tôi còn thích thú với nhiều sáng tạo khác của các thi sĩ. Ngước nhìn mùa thu cố nhà thơ Trần Quang Qúy viết: Những lá vàng bay xao động con đường Thu Hà Nội như mắt người thiếu nữ
Vâng. Mùa thu đến không chỉ lòng người xao động mà ngay đến con đường tưởng khô khan là thế mà cũng xao động trước những lá vàng bay. Và ông kết luận “chỉ ai đó cỗi già gốc rễ” già cỗi về tâm hồn mới không xao động, không cảm nhận được sự kì diệu của nó. Và trước những trái tim “phẳng bẹt” ấy thì “mùa ngoảnh mặt đi”.
Tôi rất thích chữ phẳng bẹt mà ông đã dùng.
Một so sánh của Trần Quang Quý Thu Hà Nội như mắt người thiếu nữ ngước vào trời vẻ đẹp kiêu sa đã hay nhưng có gì đó vẫn như quen thuộc còn hai câu cuối trong bài Cảm thức thì thật kì thú và sinh động: Trong rón rén bình minh chợt nhú Ban mai vừa cởi cúc mùa thu.
Thơ Trần Quang Qúy độc đáo, lạ và gợi ở những thi ảnh và chi tiết như cởi cúc (áo) mùa thu hay Hàng cây cơm nguội vàng hổn hển thay áo gió.
Nếu Trần Quang Qúy thấy bình minh rón rén thì nhà thơ Đỗ Ngọc Yên lại có một cảm nhận lạ lùng rón rén Thu mơn man bò trên ngực. Một sáng tạo kì thú. Không chỉ có vậy, ở bài sau ông bỗng chuyển sang một tông khác, một giọng thơ khác trong một chủ đề khác, đượm buồn và sâu săc. Ông bảo vì “con nhà nghèo, mẹ sinh ra từ vạt áo nâu sồng, thuở bé tôi đâu đã biết yêu tà áo dài thướt tha tốn vải nên: Lớn lên tôi biết yêu áo dài không phải vì sặc sỡ màu hay kiểu dáng thướt tha trong những ngày hội lễ. Tôi yêu thận phận mỗi con người sau tà áo mỏng manh
Nếu nhà thơ Nguyễn Văn Tạo chạm tay vào trăng run rẩy, thì nhà thơ Mai Hân Hạnh nhìn mùa thu trên sông lại nghe thấy sóng sông Hồng thở dốc yêu thương.
Nhiều luênh loang say, và rất nhiều những run rẩy, thở dốc, hổn hển, rưng rức nhiều ngực gió, cúc áo (tất nhiên là cúc áo mùa thu) bung mở khiến đôi khi tôi phải “kinh ngạc” và tự hỏi sao các ông các bà đều U nọ U kia cả rồi mà vẫn có được những câu thơ tươi mát trẻ trung tràn đầy cảm giác vậy.
Và còn một khía cạnh khác trong sáng tạo của các nhà thơ Thu Namkau. Nếu nhà thơ Đỗ Thu Hằng mang vào thơ một khái niệm vật lý là “rơi tự do: Và thế là chúng ta rơi tự do vào thu Bồng bềnh tình yêu xưa Bồng bềnh kỉ niệm….
đã tạo ra một bất ngờ thú vị thì nhà thơ Lôi Vũ lại độc đáo và khác biệt ở cả tứ lẫn ý và thi ảnh khi mang vào thơ những khái niệm kinh tế học “thặng dư “ “tư bản” : Tôi thặng dư một mùa heo may Chừng chẳng làm Tư bản Em ế trọn đời con chữ Kẻ trồng niềm tin mọc thặng dư như cỏ ngọt Và cả những ngôn ngữ đời thường như phường cơ hôi.
Việc đưa vào thơ những khái niệm khoa học, những ngôn từ tưởng như “phi thơ” ấy của hai nhà thơ Lôi Vũ, Đỗ Thu Hằng là một cách vừa làm mới thơ vừa tạo ra những từ trường kì thú và đưa thơ đến gần hơn với cuộc sống hiện đại…..
Vâng còn nhiều những bài thơ những bài thơ những tứ thơ thi ảnh khác mà do khuôn khổ bài viết tôi không thể trích dẫn và đưa vào bài viết .Xin dành lại các bài viết khác các tác giả khác.
Xin chúc mừng Thu Namkau, chúc mừng 41 nhà thơ. Trân trọng cảm ơn Ban tổ chức và tất cả các bạn.