THAM LUẬN CỦA N.T.M.BẮC

Thứ năm - 13/11/2025 17:52
Năm câu thơ không chỉ là hình thức, mà còn là một nguyên lý thẩm mĩ, gợi mở tư duy thiền và chiều sâu triết lý Phương Đông. Trong thế giới ấy, mỗi con chữ không chỉ để đọc, mà còn để chiêm nghiệm, không chỉ để nói, mà để lắng nghe.
IMG BAC
IMG BAC

Thạc sĩ Nguyễn Thị Minh Bắc

ẤN TƯỢNG VỀ MỘT THỂ THỨC

THƠ VIỆT MỚI ĐƯƠNG ĐẠI

1.  Vài nét giới thiệu Thơ NamKau

 - Nguồn gốc xuất xứ: Thơ NamKau là sáng tạo của cố nhà thơ Trần Quang Quý, một cây bút có ảnh hưởng trong thi đàn Việt Nam đương đại. Ra đời khoảng năm 2016, thơ NamKau như một thử nghiệm tìm kiếm hình thức thơ ngắn gọn, cô đọng, hiện đại. Câu lạc bộ Thơ NamKau hiện nay do nhà thơ Lôi Vũ làm chù nhiệm, Nhà LLPB Đỗ Ngọc Yên làm cố vấn đã quy tụ nhiều cây bút đương thời.

 -  Đặc trưng thể thức: Mỗi bài chỉ có 5 câu, không phụ thuộc vào số chữ hay vần điệu cố định. Các câu có thể ngắn- dài, tự do, thường thiên về tính gợi và triết luận, không tả thực. Cấu trúc 5 câu thường tạo thành một chuỗi ý, hoặc cảm xúc liền mạch, giống như 5 nốt nhạc trong một khúc dạo. Ngắn mà vang, dứt khoát mà trọn vẹn cả về ý tứ, cảm xúc.

  Nhiều nhà phê bình gọi Thơ NamKau là một “hình thức thơ ngắn Việt hóa”, có nét đối ứng với Haiku (Nhật Bản) hay Tanka, nhưng mang tư duy Việt, nhịp điệu Việt, và hơi hướng mang tính triết lý, tâm linh của người Việt đương đại.

 -  Về giá trị nghệ thuật: là một thể nghiệm đổi mới thơ Việt, góp phần mở rộng không gian sáng tạo. Thể thơ ngắn, giúp người viết tập trung vào chiều sâu ý tưởng, thay vì tản mạn cảm xúc. Cấu trúc 5 câu, tạo nhịp điệu và gói cảm xúc cô đọng, gắn với tinh thần “thiền - triết - tĩnh lặng”.

- Về tư tưởng thẩm mỹ: một bài Thơ NamKau giống như một mảnh suy tư, “một khúc dạo nhỏ cho con đường lớn”, con đường đời, con đường thơ, hay con đường tâm linh.

  Thơ không hướng tới kể chuyện, mà gợi mở đối thoại nội tâm, để người đọc tự chiêm nghiệm. Nó thể hiện tinh thần thơ hậu hiện đại: phá vỡ quy phạm, hướng nội, khơi dậy cảm xúc bằng những lát cắt ngắn, nhưng sâu sắc.

 -  Tác dụng, ý nghĩa với thơ Việt hiên đại: Góp phần làm mới thi pháp thơ Việt trong thời kỳ hội nhập, toàn cầu hóa. Đặt người làm thơ trước thách thức cô đọng ngôn ngữ, “lời ít - nghĩa nhiều”. Khuyến khích tư duy thơ như một hình thái triết học ngắn, gần gũi với tinh thần “thiền ngôn - đạo ngữ”.

* (“Thiền ngôn”: hướng người nghe ngộ ra chân lý qua trực cảm, tỉnh thức, chiêm nghiệm nội tâm; “Đạo ngữ”: lời của đạo. Tinh thần đạo học, Đạo lão, đạo Phật, đạo làm người)

2. Giới thiệu chung về tuyển tập Thu Nam kau - thơ song ngữ Việt - Anh

    Tuyển tập Thu Namkau- thơ song ngữ Việt- Anh, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành, năm 2025, chính thức đến với bạn đọc. Đây là kết quả của một hành trình sáng tạo miệt mài và đầy tâm huyết, quy tụ 41 tác giả, với 125 bài thơ được chọn lọc công phu. Mỗi bài thơ là một thế giới nhỏ, nhưng khi hòa chung lại, tất cả tạo nên một “vũ trụ” thi ca thống nhất, trên tinh thần Namkau- ngắn gọn mà sâu sắc, tĩnh lặng mà vang vọng. Nó ra đời từ khát vọng đổi mới tư duy thi ca, tìm đến sự giản dị mà tinh luyện, ngắn mà hàm súc, lời ít, ý nhiều.

   Năm câu thơ không chỉ là hình thức, mà còn là một nguyên lý thẩm mĩ, gợi mở tư duy thiền và chiều sâu triết lý Phương Đông. Trong thế giới ấy, mỗi con chữ không chỉ để đọc, mà còn để chiêm nghiệm, không chỉ để nói, mà để lắng nghe.

Điểm đặc biệt của Thu Namkau là hình thức song ngữ Việt- Anh, một bước tiến lớn, mở ra hi vọng, giúp thơ Việt có thể đối thoại trực tiếp với độc giả quốc tế. Sự song hành giữa hai ngôn ngữ, không làm mất đi linh hồn bản địa, mà ngược lại, mở rộng biên độ cảm thụ và giác ngộ giáo dục. Góp phần đưa tiếng nói thi ca Việt Nam bước ra khỏi biên giới văn hóa, đến gần hơn với thế giới.

   Sự ra đời của Thu Namkau không chỉ là một thành công nghệ thuật, mà còn là một hiện tượng văn học mang sức cổ vũ mạnh mẽ. Nó chứng minh rằng, thơ ca dù trong thời đại công nghệ, giữa những ồn ào của mạng xã hội, vẫn có thể tồn tại, lan tỏa và chạm đến trái tim con người. Những bài thơ năm dòng, tưởng chừng nhỏ bé ấy, lại có thể gói trọn cả một cảm thức nhân sinh, một chiều sâu tâm linh, một khát vọng sống hướng thiện và hướng tới cái đẹp.

    Tuyển tập Thu Namkau không chỉ mang đến cho công chúng niềm hứng khởi sáng tạo, mà còn thắp lên niềm tin: thơ ca vẫn đang sống, vẫn đang lan tỏa, và vẫn có thể chạm đến những miền sâu thẳm nhất của trái tim con người trong thời đại hiện nay. Tập thơ có thể coi là một dấu mốc đổi mới trong hành trình thơ Việt đương đại, nơi truyền thống và hiện đại, cảm xúc và triết lý, cá nhân và nhân loại cùng hội tụ trong một hình thức nghệ thuật tinh khiết và bền vững.

    Mỗi bài thơ trong tuyển tập Thu Namkau đều được chuyển dịch song ngữ iệt- Anh, thể hiện tâm huyết và tầm nhìn của Ban Chủ nhiệm CLB trong việc

quảng bá thơ Việt ra thế giới. Đây là nỗ lực đáng trân trọng, nhằm giới thiệu một thể thơ Việt mới- ngắn gọn, hàm súc, đậm chất triết lý, đến với bạn đọc quốc tế. Thu Namkau không chỉ góp phần làm phong phú thêm diện mạo thơ ca đương đại Việt Nam, mà còn mang theo hi vọng về sự lan tỏa, kết nối và đóng góp của thi ca Việt vào dòng chảy văn học thế giới- nơi bản sắc dân tộc gặp gỡ tinh thần nhân loại.

3. Đến với vẻ đẹp của một số bài thơ trong tuyển tập Thu Namkau

   Đến với một số bài cụ thể trong Thu Namkau, ta có thể thấy rằng: tuyển tập Thu Namkau không chỉ là thi phẩm tuyển chọn thơ theo chủ đề mùa thu, mà còn là sự khẳng định sức sống của một thể thức thơ Việt, rất mới.

Với cấu trúc 5 câu ngắn gọn, Thu Namkau mở ra một thi pháp mới của sự cô đọng và suy tưởng. Ở đó mùa Thu không chỉ là thời khắc của đất trời, mà là mùa của nội cảm, của sự thức nhận và buông bỏ. Thu Namkau tạo nên một chiều sâu thiền tính, giúp người đọc không chỉ thưởng thức mà còn được mời gọi chiêm nghiệm và đồng cảm.

a/ Về bài thơ “Đường Thu” của Trần Quang Quý

  Đường Thu là bài mở đầu tuyển tập Thu Namkau. Từ những rung động nhỏ bé, đời thường, bài thơ hướng tới sự chiêm nghiệm sâu sắc về kiếp người, thời gian và cái đẹp. Ở đây, Trần Quang Quý mở ra một “con đường thu”, vừa là con đường của cảnh sắc, vừa là con đường vào tâm hồn thi nhân:

Những lá vàng bay xao động con đường.

Thu Hà Nội như mắt người thiếu nữ.

Ngước vào trời vẻ đẹp kiêu sa.

 

Chỉ ai đó cỗi già gốc rễ.

Mùa ngoảnh mặt đi phẳng bẹt không mùa

  Đường Thu, bài mở đầu tuyển tập Thu Namkau như một khúc dạo dịu dàng mà thấm thía, nêu tinh thần chủ đạo cho cả tập thơ. Trần Quang Quý đã vẽ nên sắc thu Hà Nội vừa thân quen, vừa mơ hồ như ánh mắt người thiếu nữ, trong trẻo, kiêu sa, man mác buồn. Những lá vàng bay xao động con đường, không chỉ làm rung động phố thu, mà còn gợi nhịp chênh chao của lòng người. Khi thi sĩ ngước lên trời tìm vẻ đep, cũng là lúc ông nhận ra phía sau lưng mình, mùa đã “ngoảnh mặt đi”. Cảm giác phẳng bẹt không mùa vang lên như một triết luận nhân sinh: khi lòng người đã cỗi già, cái đẹp cũng trở nên xa vắng.

  Bài thơ khép lại mà mở ra, vừa gợi nỗi nhớ, vừa mời gọi suy tư- một khởi đầu đầy tinh tế cho hành trình Thu Namkau, nơi cái đẹp và sự sống được chiêm nghiệm qua từng khoảnh khắc nhỏ bé nhất của thời gian.

 b/ Về bài thơ “Chớm Thu” của Đỗ Ngọc Yên

Chớm Thu của Đỗ Ngọc Yên là bài thơ tiêu biểu cho tinh thần “khai mở tâm thức” của Thu Namkau. Câu mở đầu Bất ngờ rón rén thu mơn man bò trên ngực rất ấn tượng, bởi cách nhân hóa tinh tế, mùa thu như một thực thể sống, nhẹ nhàng, đánh thức giác quan và tâm hồn. Khoảnh khắc ta chợt nhận ra hè đang dần qua, chính là điểm bừng ngộ thiền tính, nơi con người nhận ra sự biến thiên vô thanh của thời gian.

   Từ cảm thức giao mùa, nhà thơ mở rộng trường liên tưởng nhớ “Mùa hè rớt” thời sinh viên đắm đuối một Olga. Việc nhắc đến Olga Bergolts- thi sỹ Nga tài hoa nhưng nghiệt ngã, thể hiện sự đối thoại văn hóa và tri âm thi ca, đồng thời gợi nhớ một thời tuổi trẻ đắm say với lý tưởng và nghệ thuật.

Hai câu kết là lời tri ân và suy tưởng: thơ sinh ra từ đắng cay, nhưng vẫn “bùng cháy”. Chỉ trong 5 câu ngắn, Chớm Thu đã kết tinh (thiên nhiên- ký ức- con người-  thi ca), trong một nhịp cảm xúc liền mạch, cô đọng mà ám ảnh.

Có thể xem bài thơ Chớm Thu của Đỗ Ngọc Yên như một minh chứng cho tính triết lý và tính nhân văn của thơ Namkau (ngắn, sâu, giàu dư ba), hướng tới một thi pháp tinh lọc, hiện đại, hi vọng có thể hướng tới tầm đối thoại quốc tế.

  c/ Về bài thơ “Thu say” của Lôi Vũ

Trong dòng chảy thơ Namkau (thể thức thơ 5 câu),  bài Thu say của Lôi Vũ cũng là một thi phẩm tiêu biểu, hướng tới sự cô đọng và tinh lọc cảm xúc. Bằng ngôn ngữ giản dị mà gợi cảm, bài thơ khắc họa vẻ đẹp say đắm của thu và tâm thế say mê, hòa điệu của thi nhân trước thiên nhiên:

Thu sáng nay mới thật là thu.

Heo may ùa đến ghẹo sương mù.

Cánh nhạn ngang trời chừng thấp thoáng.

Lá uốn cong lưng vàng nhuộm cuống.

 

Nắng nhòe lên nắng gió còn ru.

   Câu mở đầu là một lời thức nhận thu không chỉ đến, mà đã ở đương độ khi thu “thật là thu”- thi nhân cảm bằng mọi giác quan. Khiến cái “say” trong bài thơ, vì thế không phải do men rượu, mà là say trong vẻ tinh khiết và miên man của mùa Thu.

Từ “heo may” đến “sương mù”, “cánh nhạn”, “lá vàng”, “nắng gió”..., mỗi hình ảnh đều mang vẻ chuyển động tinh tế, làm nên nhịp điệu uyển chuyển của thu. Đặc biệt hai động từ “ghẹo” và “ưỡn” nhân hóa thiên nhiên, khiến bức tranh thu trở nên sống động và đầy sức gợi.

   Câu kết Nắng nhòe lên nắng gió còn ru đưa cảm xúc vào cảnh giới mơ hồ, nơi mọi ranh giới giữa thực và ảo, giữa người và cảnh, đều tan chảy vào men say của cảm xúc thuần khiết. Ở đó, Lôi Vũ đạt đến độ thiền cảm, khi con người hòa nhập tuyệt đối với vũ trụ trong nhịp ru của nắng và gió.

  Với Thu say, Lôi Vũ đã thể hiện trọn vẹn tinh thần của thơ Namkau: ngắn gọn, tinh tế, nhưng mở ra chiều sâu trí cảm và triết lý. Đây là một trong những bài thơ góp phần định hình bản sắc thẩm mĩ của phong trào Namkau đương đại- nơi thi ca trở lại với vẻ đẹp nguyên sơ, tĩnh tại và đầy nhân bản.

   Có lẽ mỗi bài thơ trong Thu Namkau đều như một khoảnh khắc tâm linh, ngắn mà sâu, giản dị mà đa nghĩa. Bên cạnh Đường Thu của Trần Quang Quý, giàu cảm quan thẩm mỹ, chiêm nghiệm nhân sinh, mở đầu con đường Thu Namkau, đến Chớm Thu của Đỗ Ngọc Yên, giàu chất hồi tưởng và tri âm văn hóa, hay Thu say của Lôi Vũ, đậm thiền cảm và men say sáng tạo, tuyển tập Thu Namkau còn nhiều thi phẩm hay, gây ấn tượng như: Mẹ đã sinh ra mùa thu, Mùa vàng của Đỗ Thị Minh Cầm; Bồng bềnh mây trắng, Thu xanh, Heo may của Trần Cường; Trăng rằm, Quỳnh hoa của Đặng Quốc Việt; Heo may, Chiều thu của Đỗ Thu Yên... Nhìn chung mỗi tác giả trong Thu NamKau, bằng cách nói riêng, đều góp một tiếng nói tinh tế trong “bản giao hưởng” NamKau - nơi mùa thu trở thành biểu tượng của cái đẹp, của sự tĩnh lặng và thức nhận nhân sinh.

    Xin trân trọng cảm ơn các nhà thơ Namkau, các dịch giả, các cộng tác viên, và đặc biệt là Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã đồng hành, để Thu Namkau- thơ song ngữ Việt- Anh được ra mắt trọn vẹn và đẹp đẽ như hôm nay. Hi vọng rằng, từ Thu Namkau, chúng ta sẽ cùng nhau bước tiếp hành trình, gieo những “hạt thơ” để khẳng định sức sống sáng tạo và khả năng hội nhập của thi ca Việt Nam trong thời đại toàn cầu hóa./.            

                                                                               N.T.M.B

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây