CÓ MỘT TÌNH YÊU HÀ NỘI...Thanh Ứng

Chủ nhật - 23/08/2020 23:19
Đọc tập thơ “Hà Nội còn lời yêu bỏ ngỏ” của nhà thơ Nguyễn Thị Mai, nxb Hội Nhà văn-năm 2019
CÓ MỘT TÌNH YÊU HÀ NỘI...Thanh Ứng

          Với Hà Nội, thật khó có thể so sánh tình yêu của người này hơn người kia. Mỗi một con người, mỗi một hoàn cảnh, mỗi tâm trạng … lại thể hiện tình yêu với Hà Nội khác nhau. Vì thế, nên khi được đọc 41 bài thơ trong tập “Hà Nội còn tình yêu bỏ ngỏ” của nhà thơ Nguyễn Thị Mai tôi cảm nhận được ở trong đó  chất thơ  riêng của nhà thơ nữ người Hà Nội gốc này trong tình tình &yêu với Hà Nội. Chị sinh ra, lớn lên ở Hà Nội. Sau vài năm xa thủ đô lên dạy học trên miền núi, chị trở về công tác ở Hà Nội và gắn bó với vùng đất thủ đô cho đến bây giờ khi tuổi đã ngoại lục tuần. Hà Nội trở thành máu thịt, thành tình yêu, niềm thương, nỗi nhớ không nguôi trong cuộc đời và trong thơ chị. Thơ chị viết về Hà Nội ẩn chứa nhiều suy tư và những niềm vui, nỗi buồn. Đó là sự thương cảm, xót xa với “ngoại thành” nơi chôn nhau cắt rốn của mình: “Ở đó mẹ cha tròn hai nấm đất / Ở đó em ta khổ nghèo tất bật / Có căn nhà bỏ giột nắng mưa”, đó là nơi chị đã sống một tuổi thơ đáng nhớ: “Đi mót ngô khoai dọc triền sông vắng / Chân mải mê đồng cải vàng hoa nắng …Rồi thời gian, phố xá đổi thay, có thêm cầu mới nhưng cây cầu thân thương với chị vân còn:“Còn lại Long Biên bộ hành xe nhỏ / Gồng gánh chuyển thồ củi, than, rau, cỏ…Tối mặt rau đi, rõ mặt người về”  (Ngoại thành). Đó là xóm Đạo, ngõ Nhà thờ, phố Ngọc Lâm, Gia Lâm ngày xưa “hơn chục nóc nhà / Hơn chục cảnh đời lam lũ / Đàn ông lấm lem áo thợ /Đàn bà gồng gánh sớm hôm / Trẻ con ít được chăm nom…”(Xóm Đạo của tôi) . Một vùng Hà Nội trong thơ Nguyễn Thị Mai  chưa hết vất vả, khó khăn nhưng vẫn ngập tràn niềm yêu thương, nhung nhớ mỗi bận đi xa. “Bây giờ xóm Đạo là quê / Đêm đêm thương nhớ dội về trong tim” (Xóm Đạo của tôi). Trong tâm hồn nhà thơ, xóm Đạo ngoại thành là hình ảnh của cả một thời nghèo khó, gắn bó với người mẹ muôn vàn thân thương của mình :“Bao giờ mẹ lại gánh gồng / Luộc khoai, bán bún…kiếm đồng nuôi con / Xóm nghèo nhưng tấm lòng son / Người già tin kính, trẻ con vâng lời…?” (Xóm Đạo của tôi). Thời gian xa Hà Nội lên vùng cao dạy học “Ngọn đèn leo lét đêm đêm / Soạn bài xong gối đầu lên tiếng suối / Trong cơn mơ cồn cào Hà Nội / Năm cửa ô tay vẫy hoa chào…Liễu mềm nghiêng phia xa xôi / Tháng ngày tôi nhớ khôn nguôi / Đồng Xuân chợ có đông người?” (Tâm tình ngày xa Hà Nội). Có bao nhiêu người xa Hà Nội, nhớ về Hà Nội với những kỉ niệm đẹp của những mối tình, của thời hoa niên trong sáng tươi vui, của những thắng cảnh đẹp đẽ nên thơ, của những đền đài cổ kính, hoa lệ,với Nguyễn Thị Mai, nhớ Hà Nội là nhớ về một miền quê, nhớ về một vùng kí ức của  tuổi thơ nhọc nhằn, lam lũ với những người thân phải vất vả mưu sinh. Tuy nhiên trong đời sống ngặt nghèo đó, vẫn ánh lên nụ cười, niềm vui giản dị, ấm áp của người trong cuộc mà tiêu biểu là người mẹ đáng kính: “Mẹ lại ngồi mơ những đêm trăng, chiếu hoa trải trên nền sân gạch, có đàn cháu quây quần nghe cổ tích, dòng sông sau làng sóng ì oạp bờ tre, thoang thoảng hương vườn gió hát say mê…ngõ bỏ ngỏ láng giềng sang xin lửa…”(Mẹ lại ngồi mơ những đêm trăng). Những bài thơ chưng cất lên từ cuộc sống thực đã làm xúc động người đọc. Mỗi trang thơ như là những trang nhật kí tâm hồn, là phần lí lịch trích ngang giúp người đọc hiếu thêm về cuộc đời nhà thơ một cách chân thật, nghĩa tình.

         Từ tình yêu xóm Đạo, ngoại thành, nơi chôn nhau cắt rốn, Nguyễn Thị Mai yêu Hà Nội Hà Nội không chỉ với “Hà Nội 36 phố phường” mà cả Hà Nội thời mở rộng với nhiều cảm xúc chân thành, mới mẻ. Do tính chất công việc và lòng ham mê những chuyến đi mà thơ chị đã có nhắc tới nhiều dịa danh của Hà Nội. Đó là một “Ngõ nhỏ thanh xuân” nơi chị đang sinh sống ấm êm với bao gia đình  trong tình cảm thuận hòa “Bên nhau chung sống ân tình / Buồn vui chia sẻ nỗi mình nỗi ta” (Ngõ nhỏ thanh xuân), là làng gốm Bát Tràng, là Hà Đông khi chưa thành quận, là đoạn đường sắt qua ngã tư Kim Liên, là chợ đêm Long Biên, là nhà máy toa xe Hà Nội… Xa hơn nữa là Chúc Sơn (Chương Mỹ), xóm chài Tân Tiến, Ba Trại, Minh Quang (Ba Vì), Vân Hà, chợ Bãi, đền thờ Hai Bà Trưng  (Phúc Thọ), bãi Tự Nhiên (Thường Tín), Bích Hòa (Thanh Oai), quê hương cuả hát Chèo Tàu (Đan Phượng)…Với tấm lòng nhân hậu dễ cảm thông, sẻ chia, Nguyễn Thị Mai đến với những vùng đất, vùng quê bằng cảm xúc chân thật và tình yêu thương, sâu đậm.Đây là một lần đến xóm chài Tân Tiến (Ba Vì): “ Vạn chài-Làng nổi là đây / Trước tôi, sương nước khói mây nhạt nhòa… Những căn nhà gió thông thênh / Ngược nguồn xuôi bể lênh đênh một thời” và rồi “Vạn đò chỉ một trưa thôi / Mà bồng bênh mãi hồn tôi đến giờ” (Bồng bênh xóm Vạn). Đến “Chợ bãi” (Phúc Thọ), chị cảm nhận được một hương vị chợ quê rất riêng của một vùng đồng bãi: “Lao xao nghẹt ngã ba đường / Khoai lang đất cát , chuối vườn phù sa …Thật thà từng mớ rau xanh / Bu gà, chục trứng bán nhanh vài lời” và thoáng gửi vào đó một niềm thương cảm xót xa: “ Hút nhìn thắt đáy lưng ai / Thương sông uốn khúc đất đai đồng màu” (Chợ bãi). Thơ chị viết về những địa danh Hà Nội thường gắn với tâm tình của chính mình. Đến thăm bãi Tự Nhiên, Thường Tín nơi có huyền thoại tình yêu Chử Đồng Tử với công chúa Tiên Dung, Nguyễn Thị Mai bộc bạch: “Người ơi ràng buộc mà chi / Sông trong ngại tắm còn gì Tự Nhiên” (Tự Nhiên). Qua đường sắt Ngã tư Kim Liên, nhà thơ cũng suy tư để người đọc cùng nặng lòng nghĩ ngợi về những gì sâu xa hơn, không còn là chuyện đi đường, giao thông nữa: “Thanh chắn nằm ngang / Người dừng lại hai bên /Em cầm tay anh sợ bàn chân nóng vội…/ Phút vượt chắn, phút lòng ta nóng vội / Biết chuyện gì đau mãi tới mai sau” (Qua đường sắt ngã tư Kim Liên)…Đã có biết bao nhiêu thơ viết về Hà Nội với những “dáng kiều thơm”, liễu rủ hồ Gươm, ghế đá công viên và những mối tình ngọt ngào nhưng ít ai biết có một Hà Nội khác: Hà Nội cần lao, lam lũ. Khác với “chợ bãi” một chợ xa của huyện Phúc Thọ ngoại thành , “Chợ đêm Long Biên” là chợ đầu mối nằm ngay nội thành Hà Nội. Chợ họp về đêm và là nơi lao động mưu sinh của những người phụ nữ phần lớn họ nhập cư từ xa về: “Chuyển khuân, bốc dỡ gánh gồng / Nón che kín mặt, kiếm đồng sinh nhai  / Nữ nhi cửu vạn đêm dài / Vác khiêng hùng hục, sụn vai vẹo người/…Đồng công năm bảy sẻ chia / Nẻo cơm quán trọ, nẻo về nuôi con / Chợ trăng đêm khuyết, đêm tròn / Khiêng sương, vác gió cũng mòn hai vai” (Chợ đêm Long Biên). Bài thơ là một bức tranh chân thật, sinh động về một mảng tối của đời sống Hà Nội, đã gây xúc động nhiều độc giả khi nó được xuất hiện trên báo chí. Không lâu, một thời gian sau, khi phát hiện những bảo kê tàn bạo của những kẻ có quyền ở chợ này, bài thơ càng có giá trị như một điều cảnh báo. Thơ Nguyễn Thị Mai không chỉ là thơ tâm tình, là tiếng thơ của một trái tim yêu thương, nhân hậu mà thơ chị còn là tiếng nói của một công dân yêu cuộc sống mong muốn mọi sự tốt đẹp đến với cuộc sống con người. Thơ chị nhạy cảm với những vấn đề xã hội của thủ đô. Một thời khi người dân Hà Nội bức xúc về việc chặt cây, chị có bài thơ “Gọi cây” khá ấn tượng: “Buồn nghe cưa xẻ ầm ầm / Trong cây có tiếng khóc thầm của ve / Buồn trông lá trút xuống hè / Lộc xuân mở mắt bóng đè cơn mơ / Buồn thương gốc ấy ngày xưa / Có bao đôi lứa trú mưa thì thầm”(Gọi cây). Thơ “thời sự” nhưng vẫn có khả năng neo đậu lâu dài vào tâm hồn người đọc  bởi tình cảm nồng hậu chân thành của người viết. Chị còn viết “Lời gọi rác” để tặng một Công ty môi trường đô thị: “Leng keng từ lúc chiều tà/ Rác ơi!/ Lời gọi xót xa đêm dài / Nỗi niềm che mặt bưng tai / Làm sao thấy rõ mắt ai tủi buồn” (Lời gọi rác). Một sự cảm thông chia sẻ thật quý giá…Từ đó, ta thấy trong thơ Nguyễn Thị Mai có một Hà Nội gần gũi, đời thường, hiện đại đang trong quá trình phát triển đi lên.

       Sâu xa hơn, đậm đà hơn ,“Hà Nội còn lời yêu bỏ ngỏ” của Nguyễn Thị Mai còn là sự thổ lộ tâm tình của một một người con gái Hà Nội, sinh ra, lớn lên trong tình yêu, tình bạn và bao mối quan hệ tình cảm lắng đọng khác.Đó là lần hẹn hò, khi chia tay: “Lời anh chia tay bên hàng liễu rủ / “Em đi vùng cao, rồi Hà Nội đón em về…”(Tâm tình ngày xa Hà Nội), là ngày xưa để thương, để nhớ khi về lại Bát Tràng: “Giá ngày xưa nói một câu /Thì nay em đã là dâu Bát Tràng” (Về với Bát Tràng), là mối tình ngỡ là đã mất nhưng lại còn khi về lại Thị xã Hà Đông “ Bây giờ mình em thôi / Quay về tìm Thị xã / Vấp tơ vàng óng ả / Mới hay còn tất cả” (Thị xã còn tất cả). Nhà thơ có một lần “Tản mạn với tầm xuân”. Lần ấy kí ức ùa về xao xuyến “Tầm xuân ơi tầm xuân!/ Đêm trăng xưa có hàng cau chứng giám / Anh rất gần, chỉ một bàn tay nắm / Trái tim anh, em thấy đập ngực mình.”. Tình yêu đầu đời ấy không kết thành hoa trái “Dông bão từ đâu gạt hai ta về hai phía chân trời / Con tàu đưa anh đi rồi / Hà Nội rỗng không. Toàn gió / Hà Nội còn tình yêu bỏ ngỏ / và em ngơ ngác, vô hồn” (Tản mạn với tầm xuân). Cả bài thơ ngập tràn kỉ niệm, những kỉ niệm ngọt ngào, đắng đót của một người đã xa, của một người thương nhớ và cuối cùng vẫn là một sự thủy chung đáng trân trọng: “Giá hỏi tầm xuân lần thứ nhất / Cánh cuối cùng hoa vẫn nói yêu anh” (Tản mạn tầm xuân). Nhiều bài trong tập thơ này của Nguyễn Thị Mai  cũng chứa chất nỗi niềm của những cuộc tình chia xa, của những hẹn hò lỡ dở và khi nhớ lại thành những kí ức nhói đau liên quan đến Hà Nội: “Thôi, em đi dù ghế vắng một đầu / Anh đừng buồn đó là điều rất đủ / Em đã mang theo phương trời em ở /Hình ảnh anh ngồi và Hà Nội không em” (Điều em đã mang đi). Xa nơi hò hẹn cũ, người con gái ấy mang theo cả một khoảng trống mênh mông của Hà Nội ngày xưa với những kỉ niệm và nỗi buồn chia xa. Viết cho mình, thơ Nguyễn Thị Mai còn viết cho bạn bè. Bài thơ “Tim căn nhà cũ- viết tặng bạn ở căn nhà 44 thị trấn Gia Lâm xưa” là bài thơ có địa chỉ cụ thể, câu chuyện cụ thể: “Bây giờ thị trấn đổi tên  / Nhà xưa đổi số, huyện lên quận rồi/ Con đường cũng đã có đôi / Người sao đã quá xa xôi còn về” và rồi những trớ trêu, những luyến tiếc, dùng dắng làm cho bài thơ không có kết cục rõ ràng để lại những vấn vương trong lòng người đọc. Chính vì thế bài thơ có dấu ấn riêng về một mối tình thời chiến và đã được giải trong một cuộc thi thơ tình của báo Văn Nghệ. Viết cho mình hay viết cho bạn bè, Nguyễn Thi Mai đều kí thác gan ruột vào từng câu chữ nên thơ chị mang sức nặng của những tâm tình sẻ chia đồng cảm.

      Có thể nói, 41 bài thơ trong tập “Hà Nội một tình yêu bỏ ngỏ” viết về Hà Nội là những trang thấm đẫm tâm tình, tràn ngập lòng yêu của một người con Hà Nội. Tình yêu đó bắt nguồn từ sự nâng niu,  trân trọng với quá khứ khổ nghèo và chứa chan lòng tin yêu với con ngừơi, với tương lai tốt đep của một thủ đô “Thành phố vì Hòa bình” trong thời kì hội nhập, phát triển. Đọc tập thơ của Nguyễn Thị Mai, chúng ta càng thêm tin yêu Hà Nội và con người Hà Nội.

 

                                                        Hà Đông những ngày cuối năm 2019

                                              Nhà thơ Thanh Ứng

 

Nguồn tin: BVM

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây