Những hạt sạn trong bản dịch tiếng Anh Truyện Kiều của Dương Tường

Thứ sáu - 12/06/2020 20:15
Nguyễn Chí Thành: Trong cuốn sách này, Dịch giả Dương Tường không cho biết rõ là dịch từ phiên bản Kiều nào? Vì Truyện Kiều rất nhiều phiên bản khác nhau. Tôi lấy bản tiếng chữ quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký, in năm 1911, tựa là Kim Vân Kiều Truyện 2 để đối chiếu vậy. Sau đây là một vài hạt sạn tôi bắt gặp khi mới đọc qua.
Kiều, Dương Tường’s version
Kiều, Dương Tường’s version
       Trong tất cả chúng ta ai mà không biết Truyện Kiều của Nguyễn Du, một
kiệt tác văn học nổi tiếng, một tập thơ hơn ba ngàn câu lục bát, được dạy
trong chương trình phổ thông của Việt Nam.
     Nguyễn Du, tự là Tố Như, sinh năm 1765, đỗ tam trường (tương đương cử
nhân bây giờ) vào năm 19 tuổi. Năm 1813, ông làm Chánh sứ sang cống
nhà Thanh, Trung Quốc. Nhờ đó, ông được đọc cuốn truyện của Thanh
Tâm Tài Nhân, ông liền viết lại truyện này bằng chữ Nôm theo thể thơ lục
bát, đặt tên là Đoạn Trường Tân Thanh. Bối cảnh trong truyện xảy ra vào
đời nhà Minh, Trung Quốc, viết về cuộc đời trầm ải của Thúy Kiều, một
kỹ nữ lầu xanh. Sau đó Phạm Quý Thích đem khắc in, đổi tên là Kim Vân
Kiều Tân Truyện, thường được gọi là Truyện Kiều.1
    Trương Vĩnh Ký có lẽ là một trong những người đầu tiên chuyển Truyện
Kiều từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ. Bản Kiều của Trương Vĩnh Ký xuất
bản năm 1875 gọi là Túy Kiều, Túy Vân chứ không gọi là Thúy Kiều,
Thúy Vân như các sách xuất bản sau này. Nội dung của Truyện Kiều
không phải xuất sắc, nhưng tác phẩm này nổi tiếng nhờ việc Nguyễn Du
đã kể chuyện bằng thơ lục bát. Truyện Kiều được phổ biến rộng rãi cũng
một phần nhờ lối thơ lục bát rất dễ đọc, dễ thuộc. Tác phẩm này đã
được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới: Pháp, Anh, Đức, Tiệp…
nhiều không kể xiết. Dịch Kiều khó lắm, dịch thơ, lại là thơ lục bát, dịch
Kiều qua một ngôn ngữ khác, từ chữ Nôm, chuyển sang tiếng Việt, rồi
dịch sang tiếng Anh. Công trình dịch Kiều sang tiếng Anh của Dương
Tường quả thật lớn lao. Bản dịch tiếng Anh là bản tôi chờ đợi bấy lâu,
nhưng phải chờ tới mấy ngày trước, khi hết cách ly dịch Covid-19 tôi mới
có cuốn Kiều, Dương Tường’s version, trong tay, hăm hở đọc ngay, nhưng
thất vọng quá, vì gặp quá nhiều sạn. Trong cuốn sách này, Dương Tường
không cho biết rõ là dịch từ phiên bản Kiều nào? Vì Truyện Kiều rất nhiều
phiên bản khác nhau. Tôi lấy bản tiếng chữ quốc ngữ của Trương Vĩnh
Ký, in năm 1911, tựa là Kim Vân Kiều Truyện 2 để đối chiếu vậy. Sau đây
là một vài hạt sạn tôi bắt gặp khi mới đọc qua.
1. Ex-voto
    “Ex-voto strewed the gazon, ashes of paper coins whirled in the wind.”
Đây là câu 50 trong bản tiếng Kiều, Dương Tường’s version. Câu này
tiếng Việt gốc là: “thoi vàng bỏ rắc, tro tàn giấy bay”.
Trong lễ hội Thanh Minh, mọi người đi tảo mộ, thắp hương, đốt vàng mã,
cúng tế. Đây là phong tục của người Trung Hoa xưa kia. Thoi vàng ở đây
tức là vàng mã, miếng vàng được làm từ giấy. Dương Tường dùng từ Ex-
voto là không chính xác. Khi một Kitô hữu nhận được một ơn lành, phép
lạ hoặc khi một Kitô hữu xin khấn, họ mang các vật như bia tạ ơn, bảng tạ
ơn, tượng tạ ơn… đến nhà thờ, đền thánh để tạ ơn. 3 Những vật này được
gọi là Ex-Voto, lấy từ chữ Latin “ex voto suscepto.” 4 Từ điển Tiếng Anh
cũng nói rõ là lễ vật để tạ ơn (an offering made in fulfilment of a
vow). 5 Cái Ex Voto này nó chẳng liên quan gì đến việc đốt vàng mã, cúng
vàng mã ở lễ Thanh Minh của người Trung Hoa cả.
Huỳnh Sanh Thông dịch “thoi vàng” này là sham gold 6 (vàng giả, vàng
mã). Lê Xuân Thủy dịch là Ritual ingots 7 – nghĩa là “thỏi vàng để cúng”.
Tôi không hiểu Ex-Voto này Dương Tường lấy từ đâu? Hay lấy từ bản
tiếng Pháp Kim Vân Kiều 8 của Nguyễn Văn Vĩnh? Nguyên văn câu tiếng
Pháp là: “Des lingots d’or en ex-voto sont semés partout, la cendre des
papiers imprimés de sapèques s'éparpille.” Nguyễn Văn Vĩnh dịch “thoi
vàng” là lingots d’or (lingot – thoi; or – vàng), còn chữ ex-voto ở đây
mang nghĩa cúng tế; tuy không thật đúng với hoàn cảnh; lingots d’or en
ex-voto - là thoi vàng cúng. “Des lingots d'or en ex-voto sont semés
partout” tạm dịch là “những thoi vàng cúng rải khắp nơi”.
    2. A damned kismet
    Tôi rất thích từ “damned” này. Từ này không có nghĩa nào tốt cả. Bạn mà
nghe thằng nào nói với bạn là “damn you” thì nó đang chửi bạn đó, dịch
một cách văn hoa là “mẹ mày”.
Câu 83-84 trong Kiều, Dương Tường’s version, là: “Doleful is women’s
fate! A damned kismet is their common lot”. Nguyên tác là “Đau đớn thay
phận đàn bà. Lời rằng: bạc mạng cũng là lời chung”. Bạc mạng hay bạc
mệnh, tức là vận mệnh, số mệnh mỏng manh, không ra gì. 9 Người Tàu xưa
thường cho những người xấu số là số phận hay số mệnh mỏng không được
dầy. Người tốt số là người mệnh hậu tức số mệnh dầy. Cả câu này nghĩa
là: thì ra câu hồng nhan bạc mệnh là chung cho hết thảy đàn bà. 1 Từ điển
Hán Việt thì giải nghĩa rằng “bạc mệnh là số vận mỏng manh hoặc chết
sớm hoặc chịu nhiều đau khổ.” 10 Cái từ “damned kismet” tạm hiểu là “số
mệnh chết tiệt, số mệnh đáng nguyền rủa” dùng ở đây có vẻ không hợp lý.
     3. A quatrain
     Câu 131-132 của Kiều, Dương Tường’s version: “to the verses just carved
on the tree, she added a quatrain by way of acknowledgement” dịch từ câu:
“Lòng thơ lai láng bồi hồi. Gốc cây lại vạch một bài cổ thi”. Cổ thi, là bài
thơ làm theo điệu cổ phong (tức điệu cổ), không theo luật thơ Đường (tức
là luật thi). 1 Cổ thi tồn tại trước thơ Đường rất lâu, thơ không theo luật lệ
nghiêm ngặt như thơ Đường (chẳng hạn thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát
cú…) có thể bốn câu, năm câu, bảy câu… Còn quatrain là một khổ thơ bốn
câu.
     4. High walls checked him dead
     “…he headed straight for the Blue Bridge. There, fast closed gates and
high walls checked him dead: No stream for a red leaf, nor passage for
messenger birds!” đây là câu 266-268 chuyển thể tiếng Anh trong bản
Kiều, Dương Tường’s version, từ câu thơ: “…xăm xăm đè nẻo Lam Kiều
lần sang. Thâm nghiêm, kín cổng, cao tường, cạn dòng lá thắm, dứt đường
chim xanh.” Câu này mô tả việc Kim Trọng vì nhớ Kiều nên đã đi tìm
nàng. Nhưng không thể vào trong vì tường cao, cửa đóng, không cách nào
liên lạc được với người bên trong. Oh, There, khi tôi đọc đến đoạn “fast
closed gates and high wals checked him dead” thì thú thật tôi chẳng hiểu
câu này nói gì? Tại sao lại “checked him dead”? Thôi thì nhờ anh Gúc
dịch vậy. Anh Google dịch như vầy: “Ở đó, cánh cổng đóng nhanh và
những bức tường cao khiến anh chết”. Tìm mãi không thấy từ “chết” trong
các truyện Kiều khác, tìm từ “dead” hay tương tự trong các bản dịch tiếng
Anh của Huỳnh Sanh Thông, 6 của Michael, 11 hay của Zoukov 12 cũng chẳng
thấy; thôi để tôi nói Nguyễn Du hợp thức hóa sau.
Kiều, Dương Tường’s version
      5. A porch named “For King’s View”
      Kim Trọng muốn tán tỉnh Thúy Kiều, liền thuê một căn nhà cạnh đó. Căn
nhà này là của một thương gia, xây một ngôi vườn rất đẹp, gồm cây xanh,
hòn non bộ, chim chóc… Trên hiên nhà có một tấm biển sơn son thiếp
vàng đề là “Lãm Thúy Hiên”, tức là hiên xem các cây xanh. 1
Nguyễn Du tả: “Có cây có đá sẵn sàng. Có hiên Lãm túy nét vàng chưa
phai”. Dương Tường dịch câu 279-280 trong bản Kiều, Dương Tường’s
version là: “Bedecked with trees and rocks, the place also boasted a porch
named “For King’s View” inscribed in fresh gold letters.”
Ở đây Nguyễn Du chơi chữ, chữ Thúy trong Lãm Thúy Hiên nó mô tả cái
hiên ngồi ngắm cảnh hoa viên, cây xanh, chim cảnh, hòn non bộ; nhưng
Kim Trọng lại cho rằng chữ Thúy là nói đến Thúy Kiều, và Lãm Thúy
Hiên là nơi để ngồi chiêm ngưỡng nàng Kiều. Khó dịch sang tiếng Anh
phải không? Cách đơn giản nhất được Lê Xuân Thủy 7 sử dụng là để
nguyên chữ “Lãm Thúy”. Sau đó Xuân Thủy giải thích rõ ràng phía dưới –
Lãm Thúy actually means "Comtemplation of kingfishers", but also can be
interpreted as "Comtemplation of Thuy Kieu" – Lãm Thúy nghĩa đen là
“ngắm chim bói cá”, nhưng cũng có thể hiểu là “ngắm Thúy Kiều”.
Cách thứ hai, khó hơn, đó là dịch “Lãm Thúy Hiên” sang tiếng Anh. Đây
là cách mà Huỳnh Sanh Thông làm. Thúy là tên người, nhưng Thúy cũng
là nghĩa là chim bói cá. 14 Cho nên Huỳnh Sanh Thông đã dịch “Lãm Thúy
Hiên” thành “Kingfisher View”. Kingfisher cũng là Kiều, và Kingfisher
cũng là chim bói cá. Như vậy, cả Lê Xuân Thủy và Huỳnh Sanh Thông
đều dùng Kingfisher, chỉ có khác là Xuân Thủy không dịch, chỉ giải thích,
còn Sanh Thông dịch thẳng tiếng Anh luôn. Michael 11 thì dịch thành “for
watching lovely birds” – ngắm chim cảnh; còn Zhoukov 16 cũng dịch là
“Kingfisher View”.
Dương Tường đã cắt “fisher” ra khỏi chữ “Kingfisher” để thành chữ cụt
ngủn, vô nghĩa – King’s View. Làm gì có vua nào vào ngôi nhà bỏ hoang
này mà ngắm cảnh? Đây đâu phải là hiên để vua ngồi thưởng ngoãn?
     6. Don’t make it a sheer sport
     Khi Kim Trọng tán tỉnh Thúy Kiều, Nguyễn Du viết: “Sóng tình dường đã
xiêu xiêu. Xem trong âu yếm có chìu lả lơi. Thưa rằng đừng lấy làm chơi.
Giẽ cho thưa hết một lời đã nao” Dương Tường dịch trong Kiều, Dương
Tường’s version, câu 499-502 thành: “As waves of lust invanded him, his
tenderness got tinged with some bawdiness. She said: “Don’t make it a
sheer sport. Please stay away from me and let me say something”.
Khi tình dục nổi lên như sóng dào dạt trong lòng, Kim Trọng không giữ
được vẻ đứng đắn với Kiều nữa. Kiều phải kháng cự lại sự tấn công suồng
sã lả lơi của Kim Trọng, nên nói Kim Trọng đừng có nghĩ tình cảm là trò
đùa, là trò chơi, không phải mối quan hệ nhân tình nhân ngãi, phải giữ gìn
trinh tiết, chưa chi đã ăn nằm với nhau. Dịch “lấy làm chơi” mà dùng
“sheer sport” thì chán quá. Huỳnh Sanh Thông 6 và Michael 11 đều dùng
“game” thay cho “sport” và dĩ nhiên, hay hơn hẳn. “Treat not our love as
just a game” hay “Please do not go too far in games you play” dịch sát
nghĩa hơn là “Don’t make it a sheer sport”.
    7. Neighbors turned a deaf ear
    Câu 591-592, Kiều, Dương Tường’s version, viết: “All day long, they
groveled and begged. Neighbors turned a deaf ear as the thugs dealt out
brutal blows.” Nguyên bản Truyện Kiều là: “Hạ từ van vái trót ngày. Điếc
tai lân tuất, phụ tay tồi tàn.” Hạ từ là lời van xin. Lân truất là thương xót.
Phụ tay tồi tàn là đánh đập mạnh tay. Ở đây nói rằng bọn sai nha giả điếc
trước những lời van xin, vẫn đánh đập mạnh. 1
Neighbors là hàng xóm, Dương Tường viết là hàng xóm giả điếc khi nhà
Kiều bị tra tấn. Chi tiết này không có trong Truyện Kiều, Dương Tường
sáng tác thêm vào. Nguyễn Du ở dưới suối vàng chắc đang khóc thét vì tác
phẩm của mình bị xuyên tạc đến thế.
     8. She enjoyed
     Thúy Kiều sau khi bị lừa lấy Mã Giám Sinh, về nhà Mã Giám Sinh (là nhà thổ) thì gặp vợ
cả Mã Giám Sinh là Tú Bà. Tú Bà sau khi bắt Thúy Kiều quỳ lạy tiên sư, ông
tổ nghề buôn phấn bán hương, thì bắt Thúy Kiều phải quỳ lạy mình, sau
đó quỳ lạy Mã Giam Sinh, mục đích là cho Kiều thấy Kiều không phải là vợ Mã Giám Sinh,
 chỉ là con nuôi của Tú Bà, làm gái để tiếp khách lầu xanh.
Nguyễn Du viết: “Dạy rằng con lạy mẹ đây. Lạy rồi thì lạy cậu mày bên
kia”. Dương Tường dịch câu 951-952 như sau: “To your knees and
kowtow to your mum here, then to your uncle over there! She enjoyed.”
Tú Bà ra lệnh cho Thúy Kiều lạy, sao lại dịch là enjoy – thích thú? Phải
dịch là “ordered” – ra lệnh như Huỳnh Sanh Thông 6 hay “bid” – truyền
lệnh ở bản dịch của Zhoukov, 16 hoặc chí ít ra cũng “said in tone severe” –
nói xẵng giọng như Michael 11 chứ, ai lại “enjoyed” bao giờ.
     9. Two gifts from our church
     Câu 2045-2046 bản Kiều, Dương Tường’s version, viết: “My prioress
who’ll come later bade me, to present you with these two gifts from our
church” được dịch từ câu “Bổn sư rồi cũng đến sau, dạy đưa pháp bửu
sang hầu sư huynh”.
Pháp bửu hay pháp bảo, tức là vật quý báu (chuông vàng, khánh bạc) để
thờ Phật. 9 Khi Hoạn Thư ghen với Kiều, bắt Kiều phải vào Quan Âm các
để ở. Rồi Kiều biết chuyện Hoạn Thư nhìn thấy Kiều và Thúc Sinh gặp gỡ,
Kiều đã ăn cắp chuông vàng khánh ngọc của chùa rồi trốn đi. Khi gặp
Giác Duyên, Kiều mới lấy ra đưa cho Giác Duyên. Dương Tường có lẽ
không phân biệt được Chùa (Pagoda) là nơi thờ Phật với Nhà thờ (Church)
của Kitô giáo. “Two gifts from our church – hai kỷ vật từ nhà thờ của
chúng tôi” là sai hoàn toàn, phải dùng từ Pagoda.
      10. Pure Stream và Pure Spring
     “Nàng còn ngơ ngẩn biết sao. Trạc Tuyền nghe tiếng gọi vào bên tai.”
Trạc Tuyền là pháp danh của Thúy Kiều khi nàng đi tu tại Quan Âm các ở
nhà Hoạn Thư. Đến khi Thúy Kiều trầm mình xuống dòng sông Tiền
Đường, được cứu lên, nghe Giác Duyên gọi tên mình (Trạc Tuyền) thì
bừng tỉnh lại. Dương Tường dịch Trạc Tuyền là Pure Spring lúc Thúy
Kiều đi tu (câu 1922) nhưng đến câu 2726 khi Thúy Kiều sống lại thì lại
dịch Trạc Tuyền là Pure Stream. Hết mùa xuân (Spring) rồi đến dòng suối
(Stream), chẳng biết đường nào mà lần.
    11. Zen fare – Zen garb
    Câu 3043-3044 phiên bản Kiều, Dương Tường’s version, được in: “I’ve
got used to salt and green in Zen fare, and grown to love the darb of Zen
garb.” Bản gốc là: “Mùi thiền đã bén muối dưa, màu thiền ăn mặc đã ưa
nâu sồng”. Nhiều phiên bản khác không viết “mùi thiền” mà viết “mùi
thuyền”, không viết “màu thiền” mà viết “màu thuyền”. Bản của Trương
Vĩnh Ký 2 và bản Truyện Kiều sách giáo khoa 12 dùng chữ thiền. Bản của
Nguyễn Càn Mộng 13 dùng chữ thuyền.
Mùi thuyền là vị ăn nhà chùa, tức là vị thanh đạm chay tịnh. Mầu thuyền
là mầu y phục nhà chùa. 1 Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh còn giải
thích rõ ràng hơn: Thiền, tương đương với chữ phạn là “dyana”, thường
được dùng để chỉ nhà Phật, nhà chùa. Có khi nói là chiền theo âm xưa. Y
phục của nhà chùa là áo màu nâu, nhuộm bằng củ nâu hay vỏ sồng, gọi là
nâu sồng. 9 Thế nên người ta hay nói hai chữ "chùa chiền".
Do đó, không thể dịch cái áo nâu sồng nhà chùa thành Zen garb được. Đâu
phải cứ nói đến thiền là nghĩ đến Zen như hiện nay. Dịch theo Đào Duy
Anh 9 là đúng. Bản dịch của Huỳnh Sanh Thông 6 dịch là “Dhyana fare” và
“Dhyana garb”, còn bản của Michael 11 dịch là áo nicô nhuộm màu nâu –
wearing only clothes dyed as a nun’s in deepest brown”.
Bỏ qua những lỗi tiếng Anh (có lẽ do biên tập chăng?) như: match (câu
475), phải là mate; port (câu 871), phải là post; Kin (2949) phải là Kim;
yemen (3059) từ đúng phải là yamen; thì tôi thấy Dương Tường kiệm lời
quá. Người Anh cầm bản này đọc chắc khó hiểu lắm, vì không có được
giải thích nhiều, từ những tên người, tên địa phương, những tích cũ, toàn
những chuyện xa xưa ở nước Tàu mà không cắt nghĩa thì ai mà hiểu nổi.
Đến như câu “trải qua một cuộc bể dâu” mà Dương Tường dịch thành
“The sea’s surging there where once stretched mullberry fields” mà không
giải thích rõ ràng thì người đọc sẽ không hiểu tại sao có biển (bể), tại sao
có vườn dâu ở đây? Sao lại có biển dâng trào nơi đã từng là bãi dâu? Bể
dâu, tức là bể xanh ruộng dâu (Thương hải tang điền) ý để chỉ sự thay đổi
trong vũ trụ và trong đời sống của đời người. Sách “Thần Tiên Truyện”
của Trung Hoa nói rằng “Tam thập niên vi nhất, thương hải biến vi tang
điền.” Nghĩa là cứ ba mươi năm một lần; biển xanh lại hóa thành ruộng
dâu. Sách “Tầm Nguyên” kể chuyện có một ông lão sống đủ một trăm
tuổi, thường nói với con cháu rằng: “Ta đã sống đủ một trăm tuổi. Trong
đời ta, ta đã thấy biết bao lần có sự thay đổi trong vũ trụ như biển cả sóng
vỗ muôn trùng rồi biến thành nơi đất bồi để người ta đem dâu ra trồng. Rồi
có nơi ruộng dâu lại biến thành biển cả, nước xanh sóng vỗ. 15 Đây là cái
tích của chữ “bể dâu”.
Đọc qua Kiều, Dương Tường’s version này, tôi có cảm tưởng (có lẽ tôi
sai) là Dương Tường cầm cuốn The Tale of Kiều của Huỳnh Sanh Thông,
rồi modifier thành bản Dương Tường’s version, vì tư tưởng, ý nghĩ, cách
dùng từ… giống nhau.
Thôi, viết vậy thôi, mua vui cũng được một vài trống canh cho các bạn.
 
Nguồn:
[1] Truyện Kiều chú giải, Lê Văn Hòe, Nhà xuất bản Ziên Hồng, 1956.
[2] Kim Vân Kiều Truyện, Trương Vĩnh Ký, F.H. Schneider,1911.
[3] Từ Điển Thuật Ngữ Báo Chí Công Giáo.
[4] Understanding Ex Votos, by Mariolina Rizzi Salvatori.
[5] Collins English Dictionary.
[6] The Tale of Kiều, Huỳnh Sanh Thông, Yale University Press, 1983.
[7] The Soul of Poetry Inside Kim-Van-Kieu, By Thuy Lexuan, 2010.
[8] Kim Vân Kiều, Nguyễn Văn Vĩnh, Nhà xuất bản Alexandre de Rhodes,
Hà Nội, 1942.
[9] Từ điển truyện Kiều, Đào Duy Anh, Nhà xuất bản văn hóa thông tin,
Hà Nội, 2000.
[10] Từ điển Hán Việt.
[11] Kiều, Việt-Anh, Michael Counsell, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội,
1994.
[12] Truyện Thúy Kiều, Nguyễn Du, Nhà xuất bản Thanh Tâm, 1958.
[13] Truyện Kiều, Nguyễn Càn Mộng, Imprimerie D’extrême-Orient, Hà
Nội, 1936.
[14] Từ điển Hán Việt.
[15] Điển tích trong Truyện Kiều, Trần Phương Hồ, Nhà xuất bản Đồng
Nai, 1996.
[16] The Kim Van Kieu of Nguyen Du, Vladislav Zhoukov, Pandanus
Books, 2004.

Tác giả bài viết: NCT

Nguồn tin: Nguồn tin, bài: BVM:

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây