Thơ: Nguyễn Địch Long, Nguyễn Thanh Kim, Nguyễn Thị Mai và Lời bình của Trần Trung

Chủ nhật - 27/12/2020 20:40
Trần Trung gt:
 
      
CÔ HÀNG HƯƠNG*
                                            Nguyễn Địch Long
 
Em, ba mươi tết đến nhà
Cô hàng hương gió lật tà áo nâu
Khăn sư buộc phận lên đầu
Sắc hương trời nước nhuốm màu sắc không.
 
Sao em vội với nâu sồng
Câu thề xuống tóc má hồng lặn đi?
Dấn thân khổ hạnh còn gì
liễu gày nương bóng từ bi cầm lòng.
 
Hồ thu đáy mắt lửa hong
Nhấn hồn bao kẻ lụt trong đấy rồi
Sông tình sóng vỗ ngược xuôi
Mình em nỡ mắc cạn nơi cửa thiền.
 
Hương mua rồi muốn mua thêm
Cũng là mua chút nỗi niềm đa đoan
Nén trầm thơm cháy dở dang
bước chân xô lệch chiều vàng em đi.
 
*Cô hàng hương- Nguyễn Địch Long (Thơ lục bát,
NXB Hội Nhà văn - Tháng 8-2010).
 
 Lời bình của TRẦN TRUNG:
 
  Nhà thơ Nguyễn Địch Long gửi “chút nỗi niềm đa đoan” với cô hàng bán hương vừa rời cửa Chùa. Tâm tình được giãi bày, trao gửi theo điệu kể quen thuộc, bình dị cùng cả sự quan sát về cô gái ấy, nhà sư ấy. Thời gian “Em” đến “ba mươi tết”; và, con gió cuối năm, có trớ trêu thay, lại giúp chi người thơ nhận thêm ra, rõ ra chân dung cô gái từ “tà áo nâu”, đến cái khăn đội đầu: “Khăn sư buộc phận lên đầu”. Thế là chân dung “Cô hàng hương” đã được định hình mà cũng rành ra cuộc sống và môi trường gìn giữ, ràng buộc cô (em):
          Khăn sư buộc phận trên đầu
           Sắc hương trời nước nhuốm màu sắc không.
  Chỉ một đôi nét phác họa, cũng là phác thực, hình ảnh cô hàng bán hương ngỡ như hiện ra trước mắt ta, từ vẻ ngoài tới thân phận.
 
  Từ đây, điệu thơ kể cùng quan sát, nhanh chóng dấy lên một chuỗi tâm tư trong băn khoăn, pha cả chút tiếc nuối cho cô hàng hương trẻ tuổi. Này như “sao em vội” lại đi liền với những liên tưởng, nghĩ suy từ chính trái tim “đa đoan”, đa tình của thi sỹ. Chẳng biết những điều suy tư đa cảm ấy có đúng bao nhiêu phần trăm về thân phận của cô hàng hương, của nhà sư nữ trẻ trung !? Điều trăn trở đầy chất Nhân văn-Đời thường của nhà thơ họ Nguyễn, có thể còn “vướng” vào một đôi con chữ cũ càng (má hồng,liễu gày, cầm lòng, hồ thu...). Song, ta vẫn nhận ra được nỗi niềm tiếc nuối một cách rất thành thực, rất đời (và, cũng rất thi sỹ nữa chứ!) trước hình ảnh một cô gái trẻ, đi bán hương cho Nhà Chùa-Nhất là lại vào ngày cùng tháng tận, ba mươi tết. Mà, lẽ ra-thời điểm ấy, cô phải được gặp gỡ người thân, người yêu; phải được sống trong không gian xum họp gia đình, ấm áp tình người. Cũng bởi thế, đọc hai khổ thơ tiếp theo (khổ 2 và 3, trong bốn khổ của bài thơ), sao ta cứ thấy dâng lên nỗi niềm cảm thương, xúc động. Có lẽ những câu thơ này, không còn chỉ dừng lại chút tâm tình đa mang-thành thực của nhà thơ với một “Cô hàng hương” nào đó. Mà, có lẽ còn bay lên và lan tỏa trong cảm nhận và suy tư của người nghệ sỹ với thân phận-con người, trước một cảnh huống cuộc đời:
           Sao em vội với nâu sồng
           Câu thề xuống tóc má hồng lặn đi
           Dấn thân khổ hạnh còn gì
           Liễu gày nương bóng từ bi cầm lòng.
 
           Hồ thu đáy mắt lửa hong
           Nhấn hồn bao kẻ lụt trong đấy rồi
           Sông tình sóng vỗ ngược xuôi
          Mình em nỡ mắc cạn nơi cửa thiền.
 
  Có lẽ trái tim vốn nhạy cảm và đa đoan của nhà thơ, đã khéo “vơ vào” mà day dứt, mà cảm thương, mà tiếc nuối cho cô gái-nhà chùa đã sớm phải/được “buộc phận lên đầu”; sớm “ vội với nâu sồng”; để rồi “mắc cạn nơi cửa thiền”...
   Người thơ đã lặng lẽ quan sát cô em gái-nhân vật trữ tình của mình, trong cuộc giao đãi không thành lời đối đáp. Để rồi, khoảnh khắc giã từ cũng đến:
 
         Hương mua rồi muốn mua thêm
         Cũng là mua chút nỗi niềm đa đoan
         Nén trầm thơm cháy dở dang
         Bước chân xô lệch chiều vàng em đi.
 
   Hình như có một chút vồi vội, thảng thốt trong những tiếng “Hương mua rồi muốn mua thêm”. Ở đây, đâu phải là chuyện gấp gáp bán mua như giữa phiên chợ cuộc đời ! Nhà thơ tự thổ lộ chút “nỗi niềm đa đoan” của một kẻ sỹ, một thi sỹ trước một cảnh đời, một thân phận: Nén trầm thơm cháy dở dang/ Bước chân xô lệch chiều vàng em đi.
   Những câu chữ trong khổ thơ cuối của Nguyễn Địch Long như chẳng hề muốn nâng lên những điều giáo lí nhân sinh; Cũng chẳng hề giăng mắc những lời lãng mạn, tình tứ, mộng mơ. Mà, thoáng chút tiếc nuối như “nén trầm thơm cháy dở” lan dần, tan dần trong không gian chiều ba mươi tết. Tiếc nuối mà không hề buồn bã. Phải chăng tình ý của nhà thơ đã đứng phải chăng, chừng mực mà cũng đầy ám ảnh giữa đường biên Đạo và Đời.
 
                                                                                                                                       Hà Nội, 1/7/2019.

CẢNH TỈNH*
                                  
                              Nguyễn Thanh Kim
 
  Nhà lại mọc. Và tường xây quây kín
  quảng cáo giăng che khuất cả tầm nhìn
  bức bối quá khiến lòng ta tẻ nhạt
  anh chai lì vô cảm như em!
 
  Chẳng mong thế. Đừng bao giờ như thế...
  lũ cuộn dâng muôn đợt sóng gầm gào
  bàn tay trắng ướt nhèm lưng gạo hẩm
  thực đấy rồi, đâu chỉ lạ chiêm bao!
 
  Chẳng mong thế. Đừng bao giờ như thế...
  mới nghĩ thôi chợt thoáng rùng mình
  xin mặt đất không là sa mạc lửa
  vây riết hồn, chụp giật cả trời xanh!
 
  Chẳng mong thế. Đừng bao giờ như thế...
 
*Cảnh tỉnh- Thơ Nguyễn Thanh Kim, trong tập “Miên man cỏ”-
 Nhà xuất bản Hội nhà văn 12/ 2008.
 
       Lời bình của TRẦN TRUNG :
 
  Với hơn chục tập thơ in riêng từ “Nắng triền sông” (1981) đến “ Miên man cỏ” (2008), nhà thơ Nguyễn Thanh Kim, có lẽ đã tạo được dấu ấn riêng, cũng là ấn tượng riêng trong lòng bạn yêu thơ !?
   Thế này chăng trong cảm nhận của Tôi về điệu hồn, điệu cảm của Nguyễn Thanh Kim : xúc cảm và suy tư ân tình, sâu nặng với cuộc đời, con người. Hình tượng thơ của Nguyễn, cũng vì thế bao trùm lên không chỉ là Hiện-Thực-Bề-Mặt, mà dường như còn lia chạm tới những vùng miền xa thẳm, diệu vợi mà ám ảnh, mà cảnh tỉnh cho ta cách nhìn, cách nghĩ ...
   Trong tập “ Miên man cỏ” (NXB Hội Nhà Văn-2008), trong số những bài thơ đi theo mạch cảm xúc trên, tôi có ấn tương với thi phẩm “Cảnh tỉnh” của Nguyễn Thanh Kim. Nhà thơ buông ra lời tâm tình mà cũng là lời thơ cảnh tỉnh trong một điệp khúc “Chẳng mong thế. Đừng bao giờ như thế...”-Toàn bài, nhắc tới ba lần, kèm theo dấu chấm lửng (...). Và, câu thơ ấy lại đứng riêng trong khổ thơ kết, mang dư vị riêng, ám ảnh riêng, thật lạ !
 
  Vậy, Thanh Kim ám ảnh và “Cảnh tỉnh” bởi những gì mà nhà thơ “mục sở thị”, mà nhà thơ bức xúc khôn nguôi trước hiện thực cuộc sống. Ấy là hiện thực mắt nhìn lẫn hiện thực khuất lấp:
    Nhà lại mọc. Và tường xây quây kín
    quảng cáo giăng che khuất cả tầm nhìn
  Những điều được (  có khi,cũng là mất !) từ sự “mọc”, “quây”, “che” dường như đã đánh thức nỗi “bức bối”, “tẻ nhạt”; đánh thức cả những xôn xao “vô cảm” của lòng người nữa : “bức bối quá khiến lòng ta tẻ nhạt/anh chai lì vô cảm, như em”. Tôi thú vị với cách diễn đạt trong hai câu thơ trên của  Nguyễn Thanh Kim. Bởi nó không diễn theo lối “xuôi chèo mát mái”, dễ dàng mà “đánh thức” cảm suy cho con người, từ những điều nghịch lí , trớ trêu  đang hiện hữu, đang “mọc” lên, đang “ giăng che” một cách chóng vánh, ngông nghênh-nhất là ở nơi phố phường đô hội. Những câu thơ của Nguyễn Thanh Kim như dựng lên tới tấp những không gian dựng xây của thời hiện đại, thời kinh tế thị trường, xâm lấn cảnh quan thanh bình... làm nhức mắt và nhức lòng người, thậm chí làm méo mó cả cảm quan rung động bình dị nhất của con người. Thì ra, nhiều lúc sự đổi thay của Cái-Mới không phải đi liền với Cái-Đẹp. Có điều gì, có thể khác nhau về bản chất trong cảm quan hiện thực, song, những câu thơ của Thanh Kim, khiến ta chạnh lòng mà nhớ lại những câu thơ của nhà thơ đất Thành Nam, viết lúc Tây sang, từ những ngày đầu của Thế kỉ trước :
               Sông kia rày đã nên đồng
               Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
               Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
                Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò
                                         ( Sông lấp- Tú Xương)
  Tú Xương nhói đau trước những cuộc biến cải, đổi dời khi quê hương mình, đất nước mình đã mất độc lập, mất chủ quyền. Điều hiện hữu của cái thời mở cửa, thời ào ạt và chóng vánh của kinh tế thị trường hôm nay, nhà thơ họ Nguyễn lại nhận ra mặt trái của nó với nhiều điều đau buồn, đáng nghĩ. Không đau buồn sao được trước hiện trạng mà dân ta vẫn còn gánh chịu bởi thiên tai, bởi miếng cơm, manh áo. Bởi , “thực đấy rồi, đâu chỉ lạ chiêm bao!”. Bởi, “lũ cuộn dâng muôn đợt sóng gầm gào/ bàn tay trắng ướt nhèm lưng gạo hẩm”...
 
  Có một thời những gian khổ, lao lung của đất nước và con người, ta còn viện cớ  do chiến tranh đưa tới. Còn nay, trong thời kì đổi mới và hội nhập này của đất nước, vẫn còn nhiều điều cấp thiết đáng quan tâm. Những lời thơ “Cảnh tỉnh”, cảnh báo của Nguyễn Thanh Kim chuyển sang khổ thơ thứ ba, bỗng trở nên thẳng thắn đến quyết liệt, khi nhà thơ : 
                mới nghĩ thôi chợt thoáng rùng mình
                 xin mặt đất không là sa mạc lửa   
                 vây riết hồn, chụp giật cả trời xanh!
 
  Chỉ vỏn vẹn mười ba dòng thơ trong “Cảnh tỉnh”, Nguyễn Thanh Kim đã thực sự lay thức người đọc nhận ra những điều không bình yên, phải tiếp tục thay đổi, chuyển hóa một cách quyết liệt trong dựng xây xã hội và con người; Phải biết gạt bỏ đi những vật cản còn yếu kém, tồn đọng trong cuộc sống hôm nay-Những điều mà nhà thơ đã lên tiếng thẳng băng, tới ba lần trong bài thơ : “Chẳng mong thế. Đừng bao giờ như thế...”
  Ngỡ như chỉ chiếu một góc nhìn hẹp từ hiện thực thời mở cửa trong công cuộc dựng xây đất nước, hóa ra nhà thơ Nguyễn Thanh Kim đã nâng tầm khái quát về những điều đang diễn ra, đang đổi thay chóng mặt trong xã hội ta những năm tháng này-nhất là ở các đô thị. Bài thơ kiệm lời nhưng ôm chứa nhiều điều trăn trở, đáng nghĩ suy cho tất thảy chúng ta, đặc biệt những người gánh vác trách nhiệm trong công cuộc đổi thay bộ mặt của đất nước.
                                                                                                                                                Hà Nội, 26/10/2019.

 

 VẺ ĐẸP BUỐT TRỜI
                                Nguyễn Thị Mai
  Rủ nhau náo nức đi chơi
 Xem miền biên viễn tuyết rơi trắng rừng
  Đường chênh vênh, núi trập trùng
  Ngồi trong xe, ấm tận cùng…móng chân
  Đời mơ thấy tuyết một lần
  Thì đi cho thỏa muôn phần khát khao
 
  Đẹp buốt trời, đẹp nôn nao
  Vốc lên trắng muốt, lội vào trắng tinh
  Post lên “phây buk” trăm  hình
  Nụ cười mãn nguyện như mình ở Tây…
 
  Cho người vẻ đẹp ngất ngây
  Tuyết vùi lụi cỏ, chết cây, chết vườn
  Lúa ngô tàn tạ trên nương
  Em thơ tím tái đến trường ngồi run
  Rừng không còn củi mà đun
  Mái tranh lẩy bẩy, khói hun tuổi già…
 
  Đẹp não lòng, đẹp xót xa
  Ẩn trong cái đẹp bao la nỗi đời
 
   Ô hay ! Kỳ vĩ tuyệt vời
  Mà sao gió khóc bên trời cỏ hoang ?
 
                  Ngày 20 tháng chạp Ất Mùi (29/1/2016)
                  Những ngày miền núi rét âm độ C.
 
Bài trong tập thơ cùng tên
của Nguyễn Thị Mai, NXB Hội Nhà văn - 2018.
 
Lời bình của Trần Trung:
    Mới đây, trong một lần gặp gỡ có hẹn của mấy anh chị em nhà thơ-Nhà giáo Sài Gòn-Hà Nội, tôi nhận được tập thơ mới của nhà thơ Nguyễn Thị Mai-Tập “Vẻ đẹp buốt trời” (NXB hội Nhà văn-2018); Mừng nữa, nhà thơ nữ muốn được “trao tận tay” cùng lời đề tặng cho tôi.
  Nguyễn thị Mai, hẳn là tâm đắc khi nhà thơ lấy tên bài thơ “Vẻ đẹp buốt trời” (Trang 13) mà đặt tên cho toàn bộ tập thơ của mình ! Hẳn là, khi ghi lại thời điểm sáng tác bài thơ này (Ngày 20 tháng chạp Ất Mùi-Những ngày miền núi rét âm độ C). Và, cũng hẳn là, miền đất lạnh Sa pa luôn là điểm cuốn hút khách du lịch thập phương, đã đánh thức cảm hứng cho nhà thơ.
Tôi hiểu dụng ý, dụng công của nhà thơ, khi đặt tên cho thi phẩm tâm đắc đến gan ruột này ! nhà thơ, không hề dừng lại ngoại cảnh, ngoại giới nơi miền đất lạnh giá này. Mà, còn muốn đào sâu vào suy tư để tìm ra những điều suy ngẫm, triết lý về thế sự, về cuộc đời cần quan tâm- điều ấy được thổ lộ :
Đẹp não lòng, đẹp xót xa
Ẩn trong cái đẹp bao la nỗi đời
Ô hay!Kỳ vĩ tuyệt vời
Mà sao gió khóc bên trời cỏ hoang? ( Những câu thơ cuối bài )
  Tôi muốn bàn (tất nhiên vẫn biết: bàn về sáng tạo cũng như cảm nhận về thơ, không có điểm dừng và, cũng vô cùng mông lung ! ) Hai tiếng “Vẻ đẹp”- nếu chiết tự mà cắt nghĩa cả nội dung cùng sắc thái biểu cảm của từ ghép này, hai tiếng “vẻ đẹp” dường như đều thăng lên trong ngợi ca, ghi nhận và sủng ái !? Nhà thơ Nguyễn Thị Mai quả là đã “vẽ” ra trong ngôn ngữ thi ca vẻ đẹp quyến rũ đến nao lòng của xứ Sa Pa; Cái-Đẹp lại gắn với Cái-Lạ “Đường chênh vênh, núi trập trùng /Ngồi trong xe, ấm tận cùng…móng chân”; Cái-Đẹp gắn với cảm hứng lãng du, tìm thú chơi, tìm cảm giác lạnh, tìm cả niềm vui náo nức khi “rủ nhau”: “Xem miền biên viễn tuyết rơi trắng rừng”; “Đời mơ thấy tuyết một lần/Thì đi cho thủa muôn phần khát khao”.
  Cảm nhận về Cái-Đẹp của nhà thơ họ Nguyễn, nhanh chóng chuyển từ vẻ ngoài của xứ lạnh Sa Pa, sang cái buốt đau trong chiều sâu nội tâm, xin được trích ra, khổ thơ thứ ba của “Vẻ đẹp buốt trời :
  “Cho người vẻ đẹp ngất ngây/ Tuyết vùi lụi cỏ, chết cây, chết vườn/Lúa ngô tàn tạ trên nương/Em thơ tím tái đến trường ngồi run/Rừng không còn củi mà đun/Mái tranh lẩy bẩy, khói hun tuổi già..”
 Theo cảm nhận của riêng tôi, đây là khổ thơ hay nhất trong toàn bài thơ. Bởi, nhà thơ đã nhận ra, ngộ ra cảm giác buốt lạnh buồn đau của thế giới bên ngoài và, nhất là nỗi khổ hạnh của Cõi-Người xứ sở này ! Nỗi đau buốt có chừa ai đâu ! Ngữ nghĩa sóng đôi cùng sắc thái tu từ, quyện chặt và bổ sung cho nhau trong một chuỗi ngôn từ tượng hình, tượng cảm.. quả thật xúc động đến nghẹn lời !
 Trở lại tên bài thơ của Nguyễn Thị Mai. Cảm giác đau buốt tận lòng người, cũng là tận lòng của thi sỹ, thực sự mới là ý tưởng, là cảm hứng chủ đạo, sâu sắc của bài thơ này.
 Xin lỗi bạn Mai, cho tôi và theo tôi, nếu đặt tên cho thi phẩm này, tôi sẽ đặt theo cách của tôi, mấy cái tên sau đây : “Đẹp đến buốt trời”; “Đẹp buốt lòng trời”; “Đẹp mà đau”.
 Từ bài thơ “Vẻ đẹp buốt trời” của Nguyễn Thị Mai, tôi muốn bàn rộng ra một chút của tập thơ của tác giả. Đến tập thơ này (Vẻ đẹp buốt trời-NXB Hội Nhà văn 2018), nhà thơ Nguyễn thị Mai đã ra mắt bạn đọc tới 12 tập thơ. Thế cũng là nhiều và, thế cũng là định hình trước thiên hạ Một-Giọng-Điệu ! (Tôi chưa muốn dùng khái niệm lý luận: PHONG CÁCH !)
 Trong 12 tập thơ của Nguyễn Thị Mai, tôi có trong tay 4 tập “Tảo tần gót khuya”; “Không xóa nổi lời hoa”; “Tầm xuân mắt biếc”; và, “Vẻ đẹp buốt trời”, cùng một số bài thơ lẻ in trên các báo của nhà thơ.
 Đến tập “Vẻ đẹp buốt trời”, cảm hứng ám ảnh nổi bật, gần như đi suốt tập vẫn là nỗi niềm về thân phận con người trong và sau những cuộc chiến tranh.
 Nhà thơ buồn cho nỗi khổ của “Những con người nhỏ bé” (chữ của nhà văn Go rơ ki) heo hút vùng sơn cước, chưa hết lạc hậu, và gửi gắm ước muốn về họ, cho họ :
  Buồn thì lại đẻ cho nhiều
  Dắt con xuống chợ mà tiêu nỗi buồn
 Ước gì chưa phải địu con
  Lưng em khoác cặp chân son tới trường
                       (Em gái Mông xuống chợ )
Trong một đêm “ Nằm  giường bộ đội” nơi biên giới, nhà thơ gửi thầm cảm giác, cảm thông đến tái tê, nỗi cơ cực của những người lính Cụ hồ. Để rồi,tinh tế và ân tình gửi lại “sợi tóc mềm” khi “Sáng mai trở dậy” :
 _ “Nằm giường bộ đội đêm biên giới
  Nghe rõ sương rừng thả giọt khuya
  Cảm rõ hiên ngoài run bước gió
 Thấm tận thang giường lưng tái tê”
  “Sáng mai trở dậy phòng lưu luyến
  Biết để lại gì chuyến ghé thăm
  Có sợi tóc mềm vương lại gối
  Xin gửi làm tin một đêm nằm”
                            (Nằm giường bộ đội)
  Chiến tranh luôn là hiện thực-Thử thách nhiều  với những người ra trận; Sau cuộc chiến, cái tình đồng đội vẫn thấm thía, thiêng liêng. Trong bài thơ “Chuyện  của các anh”, những câu thơ của Nguyễn Thị Mai như đi về của thời gian, không gian và sau trước vẫn ân tình, thủy chung Cái-Tình, Chất-Tình giản dị mà thiêng liêng của những người lính :
  Có một bát hương thờ chung đồng đội
  Các anh thay nhau cất giữ tại nhà
  Mỗi năm một lần ngày vinh danh quân đội
  Người đến lượt mình lại bưng bát hương ra
  Các anh thắp hương và cúi đầu tưởng nhớ đồng đội xa
  Rồi sau đó mới là đàn, là hát
  Là kỷ niệm kể một thời trận mac
  Là buồn vui cuộc sống tuổi đông về…
  Những câu thơ như trên của nhà thơ, ngỡ như chẳng cần viện lấy điệu, lấy vần mà, cứ tuôn chaỷ tự nhiên trong niềm chân thành, xúc động. Nhiều lúc, nhà thơ mượn sự im ắng, “ lặng im” của tạo vật mà lại gợi ra cái giá của những hi sinh của những người lính Trường Sơn :  “Lặng im như mảnh trăng trời/ Không ai biết lính một thời Trường Sơn” ( Anh rể).
   Khi bàn luận về Hiện-Thực-Trong-Thơ, tất nhiên có nhiều ý kiến đã thống nhất : đấy không phải là những điều nhìn thấy từ mắt (mục sở thị) mà là xúc cảm cùng suy tư của người nghệ sỹ trước cuộc đời và con người,. Thế nên, từ bài thơ và cũng là tên tập thơ “Vẻ đẹp buốt trời” của nhà thơ Nguyễn Thị Mai, có thể ghi nhận bước đường thơ của nhà thơ: luôn ý thức về sự gắn bó với những gì từ cuộc sống và nhất là những gì đáng quan tâm trong thế giới tâm tư của con người. Mà, trong đó niềm vui , niềm kiêu hãnh, tự hào và cả nỗi buồn đau trong hi sinh, mất mát của con người, sẽ mãi là điều khắc ghi trong tâm trí.
                                                                                         
                                                                                                                               Tr. Tr.  Hà Nội  9/2020.
 

 

Nguồn tin: ,bài: HNV.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây