Văn học Hà Nội: Hành trình sáng tạo tiếp nối sau 1000 năm

Thứ năm - 07/11/2019 03:23
Nhà văn Bùi Việt Mỹ
Nhà văn Bùi Việt Mỹ
Nhà văn Bùi Việt Mỹ

I. Đặc trưng hợp lưu và lan tỏa của văn chương Hà Nội

Hà Nội không chỉ là một vùng quần cư của các cộng đồng người vốn gốc của Hà Nội ngay cả thời kỳ trước ngàn năm Thăng Long mà là từ nhiều vùng đến sinh sống và làm ăn tạo lên một vùng văn chương vừa được hợp lưu từ các dòng chảy văn chương khác nhau, như văn chương Kinh Bắc, văn chương Nghệ - Tĩnh, văn chương Sơn Nam hạ, chưa kể đến văn chương Trung Hoavà sau này thêm văn chương các châu lục… Nhưng nhìn sâu vào lịch sử hình thành và phát triển thì văn chương Hà Nội không chỉ biết “hút vào” mình những tinh túy của văn chương Việt và văn chương thế giới. Thực tế cho thấy, ở bất cứ thời đại nào văn chương Hà Nội luôn là một vùng “văn chương mở”, có sức lan tỏa mạnh mẽ đến dòng chảy văn học cả nước hiện nay. Khái niệm “văn chương Hà Nội” bao gồm cả những tác phẩm ưu tú của nhiều người, thuộc nhiều thế hệ các nhà văn trong cả nước hội tụ về, coi Hà Nội như một phần máu thịt của mình. Có thể họ không sinh trưởng ở Hà Nội, nhưng lại viết về mảnh đất này một cách đầy tâm huyết, sâu sắc, thể hiện rõ năng lực sáng tạo cá nhân đối với Thủ đô của cả nước. Chính họ thực sự là những “nhà văn kẻ sĩ” của Hà Nội với một đội ngũ đông đảo, lại kinh lịch khắp mọi vùng miền, nên “hút” được những tinh hoa văn chương Việt đem về cho Hà Nội.

Từ đầu thế kỷ đến nay, qua thời gian, văn học Thăng Long – Hà Nội được hiện lên từ thẳm sâu tâm hồn người Hà Nội cung cách ứng xử mang đậm tính chất lưỡng hợp của văn hóa, văn chương chốn thị thành. Tính chất lưỡng hợp của văn chương Hà Nội thể hiện khá rõ ở sự  khuôn phép, quy phạm, quan phương, nhưng lại rất cởi mở, ít mang tính chất cục bộ, gia trưởng hay địa phương chủ nghĩa.

a. Tiếp nối từ mạch nguồn 1000 năm

Trong khoảng thời gian mà chúng ta có thể điểm đếm, văn Việt nói chung, Hà Nội nói riêng khởi xuất từ vị thế của bề dày văn hóa lịch sử. Những áng văn chương mang tâm thế tự nhiên, mềm mại như phong dao. Tản Đà vàNguyễn Nhược Pháp (1914-1938)viết theo lối ấy. Còn Nguyễn Bính (1918-1966) “chân quê” đến đắm đuối trong tình yêu mà vẫn thích “dan díu với kinh thành”, dù ở miền quê nào, trong Nam hay ngoài Bắc, ông vẫn lai láng hồn thơ. Một Quang Dũng (1921-1988) chỉ cần vài nét bút khắc họa hình bóng chàng trai Hà Nội cũng đã làm xao động con tim hàng triệu người của nhiều thế hệ. Tiếp sau đó là Văn Cao (1923-1995) người đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật thi ca trong tư thế đặt cái tôi cá nhân đối diện một cách bức xúc với thân phận của chính nó. Những câu thơ của cụ không cần phải làm duyên làm dáng gì mà vẫn thấm đẫm một nỗi đau ở tận đáy sâu tâm khảm của con người. Một Nguyễn Đình Thi (1924- 2003) với các bài thơ không vần, với những âm sắc mới lạ, mà hết sức cô đơn, đã vượt khỏi cách cảm và cách nghĩ của số đông công chúng thơ đương thời; rồi Hoàng Cầm nuột nà, đắm đuối, nhưng phá cách. Thạch Lam (1910-1942), ngọt ngào, đằm thắm; Vũ Bằng (1913-1983) với Thương nhớ của riêng Hà Nội; Tô Hoài hóm lẹm; Nguyễn Tuân (1910-1987) kiêu sa, đài các; Nam Cao (1917-1951) mòn mỏi trong tâm khảm; Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960) chân chất, dày vò tronggiữa nghệ thuật vị nghệ thuật và vị nhân sinh... Rồi tiếp nối là hàng loạt truyện của Ma Văn Kháng, Đỗ Chu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường,… lúc đầu thật sự đã gây sốt trên văn đàn không chỉ của riêng Hà Nội mà khắp cả nước và “vượt biên” ra nước ngoài.

b. Sáng tác trong ảnh hưởng của bùng nổ công nghệ thông tin và bước đệm tới cách mạng công nghiệp 4.0:

Ngay sau sự kiện trọng đại của Thủ đô và cả nước: tổ chức Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, cùng thời điểm này. Thành phố tổ chức Tổng kết Cuộc vận động sáng tác Văn học nghệ thuật Thăng long- Hà Nội ngàn năm văn hiến đồng thời phát động đợt sáng tác tiếp nối cùng chủ đề, trên cơ sở Chương trình 04 của Thành ủy Hà Nội, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh. Đây là dấu ấn quan trọng, một luồng gió mới tạo bước chuyển lớn về nhận thức sáng tác và quy mô xây dựng tác phẩm cho cả lĩnh vực văn học nghệ thuật, trong đó, theo thường lệ, văn chương chiếm vị trí quan trọng hàng đầu.

Đây cũng chính là thời kỳ bắt đầu của một xã hội công nghệ thông tin. Mạng thông tin điện tử du nhập và phát triển rầm rộ như không có gì có thể ngăn cản nổi. Hình thức sáng tác và truyền tải - nhất là đối với tác phẩm văn học bước sang khúc ngoặt lớn, đánh dấu một mốc lịch sử như một cuộc cách mạng của thị hiếu bạn đọc tiếp cận tác phẩm và tác giả. Tuy vậy, theo chúng tôi, phần tác phẩm có giá trị cốt lõi vẫn nằm ở thời kỳ sáng tạo VHNT ngàn năm Thăng Long. Các tác phẩm mới vừa chịu trách nhiệm kế thừa lại vừa chuyển mình sang vận tốc cao nên phần nào ảnh hưởng đến bề dày chất liệu và quy mô tác phẩm. Đó còn chưa kể đến sự vận hành của cơ chế kinh tế tác động trực tiếp đến giá trị đời sống sáng tác và thị hiếu bạn đọc.

Mặt khác, cũng cần khẳng định về hình thức tác phẩm văn học từ sau 1000 năm Thăng Long đến nay còn đượcthể hiện khá nhiều, đưới dạng đồng thời là một tác phẩm điện ảnh,tác phẩm sân khấu, thậm chí là một ca khúc trong âm nhạc…Có thể kể ra một số kịch bản gần đây như: Đập cánh giữa không trung, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Mùi cỏ cháy, Người phán sử, Mẹ chồng nàng dâu, Quỳnh búp bê và các kịch bản tái hiện các tình thế xã hội lịch sử…

c. Nơi hội tụ của đội ngũ sáng tác tinh hoa:

Có thể nói, Hà Nội là nơi tập hợp điển hình nhất về đội ngũ tác giả và tác phẩm. Chính cái bề chìm, bề nổi của đội ngũ các tác giả đương đại ấy tạo bề dày của giá trị văn chương Hà Nội, có thể đứng đại diện cho văn học hiện đại và đương đại Việt Nam.

Nói thế, không phải chúng tôi đã để ra một phần các tác giả cũng như các cây bút ở nhiều miền vùng khác nhau trong nước bởi tôi cho rằng sáng tác của họ cũng mang tính kế thừa của văn hóa Dân tộc cũng như tầm ảnh hưởng của văn hóa Thăng long. Về cơ bản, các tác giả là Nhà văn Việt Nam hội tụ, sống và viết ở Thủ đô Hà Nội chiếm số lượng đông đảo nhất, chiếm tỷ lệ gần ½ trên tổng số 700 hội viên của Hội Hà Nội. Thứ nữa, các cơ quan quản lý chuyên ngành và các NXB, các cơ quan chuyển tải và phổ biến tác phẩm cũng chủ yếu là ở đây.

Cũng thật thiếu sót nếu chúng ta không kể đến một lực lượng sáng tác ngoài hội viên. Đó là các cây bút phong trào từ nhiều thế hệ tiếp nối, họ cũng thực sự chịu ảnh hưởng và hưởng ứng cuộc vận động sáng tác lớn của Thủ đô Hà Nội như đã nói ở phần trên. Hiện có tới trên 20 tổ chức CLB tự nguyện với hàng ngàn thành viên. Tuy nhiên, sáng tác của họ thật dàn trải mà ít tư duy sáng tạo, không thể nhận ra đường đi của tác phẩm theo dòng chảy, khuynh hướng học thuật nào.

II. Đóng góp tác phẩm văn học kế tiếp từ sau 1000 năm Thăng Long – Hà Nội đến nay

a. Tiếp nối thành tựu ngàn năm và trẻ hóa sáng tác:

Khép lại những năm nghiên cứu, sáng tác chủ đề Nghìn năm Thăng Long, lực lượng sáng tác khu vực Hà Nội tiếp tục chuyển mình với xu hướng cởi mở, nhanh nhạy. Tác phẩm của họ giàu sáng tạo, trội về cá tính, đa dạng, nhiều màu sắc, ứng với đời sống xã hội đang nhanh chóng đổi mới, nhất là về công nghệ thông tin.

Đó là bước đi khá suôn sẻ nhiệm kỳ vừa qua của Nhà văn Hà Nội sau ngàn năm Thăng Long. Lực lượng sáng tác của Hà Nội mang đặc điểm riêng của vị trí trung tâm văn hóa - xã hội của đất nước, nơi mang nhiều yếu tố mới, nhạy cảm, nơi tập trung nhiều tên tuổi, nhiều thế hệ truyền thống. Về số lượng nhà văn đồng thời là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam tại Hà Nội cũng là đóng góp có ưu thế về lực lượng, theo đó lả giá trị sáng tạo nói chung. Thật khó mà phân định được phạm vi nào hoặc đến giới hạn nào là thành tựu riêng của các nhà văn Hà Nội.

Những năm gần đây, sự chuyển giao thế hệ đang rõ nét hơn. Các tác giả nổi trội trong thời kỳ đánh Mỹ lắng lại và chậm dần theo thời gian. Tuy nhiên có một ngoại lệ của thế hệ, chất “ gừng càng già càng cay” đã tạo một số bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ về các vương triều Lý - Trần của Hoàng Quốc Hải, Nắng kinh thành của Siêu Hải, Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh. Các tiểu thuyết này đều đã được trao giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội và giải thưởng văn học Thăng Long. Các tiểu thuyết Hồ Quý Ly và Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh được các nhà xuất bản tái bản hàng chục lần. Những năm này, một số tác phẩm truyện và tiểu thuyết của Lê Minh Khuê, Nguyễn Văn Thọ, Hồ Anh Thái và Tạ Duy Anh... nổi bật với những cung bậc đa dạng đời sống, ký ức và tình yêu. Các tác phẩm này giữ nhịp cho dòng chảy sáng tác chung ở quãng đổi khúc cần thiết. Một số nhà thơ thế hệ đó đồng điệu với thời cuộc bằng các sáng tác chiêm nghiệm, triết lý như Hữu Thỉnh: Đi suốt cả ngày thu chưa về tới ngõ; Bằng Việt: Chấp theo lối cũ là không đúng; Vũ Quần Phương: Nghe những lời vô nghĩa/ lại thành lời thấm thía/ Nhân gian; Vương Trọng thì níu kéo thêm thời trai trẻ: Đã yêu thì quý nhất khoảng lặng im... Một loạt các tác phẩm thơ của Dương Kiều Minh,Trần Quang Quý, Lê Cảnh Nhạc, Vũ Từ Trang, Nguyễn Địch Long, Đoàn Mạnh Phương, Giáng Vân… Phê bình tiểu luận của Phạm Khải, Lê Thành Nghị, Trần Đăng Suyền, Bùi Việt Thắng; dịch văn học nước ngoài của Dương Tường và Lê Bá Thự... ra mắt bạn đọc và được dư luận đánh giá cao. Một số tác giả đã và đang tập hợp tác phẩm để làm tuyển tập, tổng tập. Đặc biệt ở nhà thơ Gia Dũng – một thời vang mãi bài ca Trường Sơn, nay ông miệt mài định vị lại các mảng chủ đề, tập trung thơ của nhiều tác giả, làm thành các bộ thơ vài chục ngàn trang, đạt tới một kỷ lục.

Một nhịp cầu nối từ cách nhìn mới, đáp ứng thị hiếu mới, không đơn điệu, hai tác giả song hành: Nguyễn Thị Minh Thái và Phạm Xuân Nguyên, muốn tránh lối phê bình giản lược và xuôi chiều. Những bài bình cập nhật đã trở thành tác nhân giúp các cây bút trẻ tự tin thể hiện các sáng tạo mới. Tác giả thơ xuất hiện nhiều, thậm chí chia thành nhiều “phái cách tân” khác nhau. Tuy vậy, bạn đọc Thủ đô vẫn đón nhận hướng sáng tạo thẩm mỹ. Sau ánh ngày tinh khôi của Hoàng Nhuận Cầm đến sự chuyển động bề bộn, phát động nội hàm của Nguyễn Quang Thiều, trào lộng của Nguyễn Linh Khiếu. Rồi tác giả trẻ hơn, “8X” hoặc thậm chí “9X”. Có thể từ Hữu Việt, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Phan Quế Mai và Nguyễn Quang Hưng ... có lúc, họ cũng chưa hẳn đã nhận được sự hưởng ứng. Song, bản năng thơ không thay đổi, họ đang tạo dựng một cấu trúc mới, một bố cục mới thật mở, xác lập một giai đoạn mới của thơ. Cùng thời điểm này còn nổi lên hai nhà văn quân đội cùng đoạt giải với tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy và thơ của Nguyễn Bình Phương. Đặc điểm sáng tác của họ là lối viết tương tác với cách cảm, cách nghĩ của thời điểm, tác phẩm thể hiện cái nhìn mới, không câu nệ vào bất kỳ một khuôn mẫu nào.

Có thể nói, hoạt động của Hội Nhà văn Hà Nội đều hướng về chất lượng tác phẩm, nâng cao uy tín công tác, ngày càng có tầm ảnh hưởng rộng lớn. Quan trọng nhất là Hội phát hiện và tạo đà cho các tài năng. Khá nhiều giải thưởng hàng năm thuộc về những tác giả chưa và không phải là hội viên Hà Nội như Đỗ Phấn với tập truyện Dằng dặc triền sông mưa và Đoàn Ánh Dương với tập lý luận văn học: Không gian văn học đương đại. Năm 2014 - 2015, trước sự kiện lớn về bảo vệ chủ quyền của ta ở biển Đông, lực lượng văn nghệ sĩ Hà Nội đã đồng loạt lên tiếng bằng bản Tuyên bố chung. Nhiều tác phẩm tham góp có sức nặng, đặc biệt là những sáng tác chủ đề Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Việt Chiến,Tổ quốc gọi tên mình của Nguyễn Phan Quế Mai đoạt giải thưởng từ hoạt động rộng khắp của các tổ chức từ sáng tác chuyên nghiệp đến các tổ chức xã hội khác.

Thành tựu tác phẩm văn chương Hà Nội nếu nhìn qua giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội mười năm qua, chúng ta thấy có sự đổi mới nhìn nhận, bứt phá sáng tạo bằng những tác phẩm khá ngắn và khá nhiều. Thành công ấy có vẻ phù hợp với đặc điểm của trào lưu đời sống xã hội hiện nay. Bởi vậy, yêu cầu cần tác phẩm văn học có quy mô, xứng tầm với vị thế của Thủ đô Hà Nội thì chưa tới, có thể còn chưa so với văn học Hà Nội thập kỷ trước ngàn năm Thăng Long.

b. Giá trị nhân văn:

Thật khó mà phân chia rạch ròi thành tựu tác giả vănhọc Hà Nội trước và sau 1000 năm Thăng Long. Thành tựu của họ được kế thừa từ chương trình của cuộc vận động sáng tác VHNT TL- HN ngàn năm văn hiến. Bởi thế,trong gần 10 năm qua, thế hệ Nhà văn cùng với các chuyên ngành khác trong tổng thể liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Hà Nội đã được Đảng, Nhà nước ta đánh giá giá cao về phẩm chất và sáng tạo của họ. Văn chương của họ đã thực sự đóng góp giá trị cao quý trong sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta. Đó là tấm gương phản ánh rất sâu sắc về đời sống lao động, chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Thủ đô và Tổ quốc; sự nghiệp xây dựng Người Hà Nội thanh lịch, văn minh và thiên chức phản biện xã hội với ý thức, trách nhiệm cao. Với đóng góp cao quý ấy, nhiều Nhà văn của Hội Hà Nội đã vinh dự được Đảng , Nhà nước ta trao tặng các danh hiệu cao quý với ba Giải thưởng Hồ Chí Minh và khoảng 25 Giải thưởng Nhà nước.

Có thể nói, qua số lượng Giải thưởng được Nhà nước ghi nhận, chúng ta rất tự hào nhận về những đóng góp xứng đáng bằng tác phẩm của các thế hệ Nhà văn Hà Nội kế tiếp 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, đến nay đang tròn 10 năm.

Tác giả bài viết: Nhà văn Bùi Việt Mỹ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây