Demo

ANH QUẢNG

Thứ năm - 03/05/2018 11:33
Trở về từ Afganistan người đầu tiên trong số bạn bè tôi muốn đến thăm là anh Quảng. Tôi háo hức xếp vào ba lô một tập vở nhỏ xinh, một chiếc khăn chùm đầu, một đôi găng tay và một đôi bốt lính, những thứ cần thiết để anh đi lãng du. Tôi đã mường tượng trong đầu cảnh hai anh em gặp nhau, nụ cười và đôi mắt sáng của anh. Hai anh em sẽ lên ngay kế hoạch rong nhan. Tôi đã xa anh chẵn chục năm. Tôi huýt sáo vang cả ngõ nhỏ. Năm nay mùa xuân không có mưa phùn, không có cái nắng hao gầy. Nắng vàng như rót mật cuối thu, lá úa bay tả tơi trong cơn gió chớm hè.
Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Tôi không bấm chuông mà gọi toáng lên:

- Anh ơi anh ơi, em đã về.

Cánh cửa toang ra trước mắt , tôi mở vồng ngực thật rộng và ngoác mồn cười thật tươi để chờ anh lao vào tôi. Không phải anh ở khuôn cửa, là một người đàn bà

- Chú đã về rồi à, vào đi.

Anh đón tôi trên chiếc ban thờ nghi ngút khói. Tôi chết lặng để rơi bịch chiêc ba lô trên sàn đá hoa. Tôi gào lên:

- Anh ơi, sao lại thế này em về rồi đây, em về rồi anh ơi.

Tôi không kiểm soát được hành vi lao về phía ban thờ cầm di ảnh của anh quật xuống nền nhà. Những mảnh thủy tinh bắn tóe ra, tôi di chân đất trên những mảnh thủy tinh. Máu bắt đầu nhuộm đỏ nền đá. Không một ai can ngăn tôi, không gian yên tĩnh đến ghê rợn. Khi tôi đã tĩnh tâm lại chị đốt ba nén nhang đưa cho tôi.

-Anh đã có ý đợi chú về nhưng không đợi được.

Tôi lập cập cắm ba nén nhang vào bát hương. Tôi chắp tay trước ngực, nước mắt bắt đầu tứa ra. Tôi gào khóc như trẻ nhỏ. Trong tiếng nức nở đứt quãng tôi nói với anh.

- Anh ơi em đã làm thơ, em mang chúng về cho anh đây.

Tôi lập cập mở ba lô để lấy cuốn vở nhỏ xinh. Chai rượu mang cho anh đã vỡ rượu thẫm đẫm cuốn vở. Tôi để cuốn vở nhỏ thẫm đẫm rượu lên bàn thờ anh rồi tôi về. Tôi không về nhà mà vòng lên Bờ Hồ. Tôi lang thang qua những con phố nhỏ. Tôi tìm chốn xưa. Thời gian vật đổi sao rời nhưng những người ham mê đánh cờ tướng vẫn còn đây. Không ai trong số họ còn biết tôi, kể cả những người già đã sáu bảy mươi tuổi. Gần 20 năm tôi không chơi cò tướng nữa. Tôi đã thề với anh không chơi thêm một ván cờ nào nữa.

Tôi khệnh khạng kéo một cục gạch bọc trên mặt một tờ giấy kẻ ô ly có chữ màu mực tím kê vào đít.

- Bố nào cao cờ nhất ở đây có dám tỉ thí với tôi một ván không?

Tất thảy đều ngửng lên nhìn tôi, sau mươi giây quan sát cái mẹt của một kẻ từ trên trời rơi xuống thấy chẳng có gì đặc biệt bèn tất thẩy lại cúi xuống, đang trong thế bí tất thảy đều căng thẳng.

- Sao? Không có bố nào muốn tỉ thí với tôi à. Đây, tôi chấp tất một hai ba bốn năm là mười ông, kể cả mấy ông chầu rìa. Thắng, tất cả số tiền này là của các ông.

Tôi móc ví ném một xấp tiền xuống sàn đất.

Tất thảy đều dừng cuộc chơi. Kính trễ xuống mũi được nâng lên ngay ngắn. Một ông già nhất trong hội râu tóc trắng tinh, nước da hồng hào cất giọng nghiêm nghị.

- Chú ở đâu đến đây, chú có biết chú vừa nói gì không đây?

-Bẩm cụ có nhẽ cụ không biết cháu nhưng cái không gian này nó biết cháu đấy ạ. Hai mươi năm trước cháu ngồi nhẵn đít ếch ở đây đấy ạ. Rồi cháu thề với một người cháu không bao giờ đánh cờ ăn tiền nữa nhưng nay người ấy chết rồi, chết rồi thì lời hứa cũng chết theo. Cháu chẳng cần phải giữ lời hứa làm gì nữa. Cháu lại quay về ngón nghề cũ của cháu.

- À thì ra thế. Tôi đã hiểu rồi, chú cất tiền của chú đi chúng tôi sẽ tỉ thí với chú. Cờ cao không chơi chấp cứ thẳng băng mà đấu trí. Tôi xin đấu với chú trước

Tôi đấu cờ với tất cả các bậc cao cờ ở đất thần kinh chẵn ba ngày ba đêm mà vẫn chưa tìm ra người hạ gục tôi. Bước sang ngày thứ tư thì tôi không còn hứng chơi tiếp. Tôi lảo đảo đứng dậy cáo từ. Hội cờ tất thảy đứng dậy chắp tay cung kính chào tôi. Tôi cũng chắp tay cung kính chào mọi người. Tôi lao sang hàng Giầy vào hàng phở Vui làm một bát tái gân. Ấm dạ rồi tôi ra bãi gửi xe máy, nhằm hướng quê anh Quảng tôi đi.

Lần đầu tiên tôi gặp anh Quảng là lúc tôi 18 tuổi. Một thằng bé mồ côi mẹ từ lúc lên ba mồ côi cha từ khi lên bảy sống với ông nội. Tôi ngồi chầu rìa bên hông ông nội thâu canh suốt sáng. Ông nội đêm đánh tổ tôm ngày chơi cờ tướng. Những thế cờ cao của ông tôi nhập vào dạ rất nhanh. Lên 10 tuổi tôi đã ngồi thế chân ông nội trong ván cờ chơi dở dang mà ông không muốn chơi nữa hoặc ông mệt. Đến năm 15 tuổi tôi đã một mình vừa đi chơi cờ ăn tiền vừa đi học. Đến năm 18 tuổi tôi không đi học nữa nên toàn bộ thời gian là để đi chơi cờ ăn tiền. Hành trình của tôi như sau. Buổi sáng chín giờ thức dậy, tắm xong ăn vận chải chuốt, vuốt keo lên tóc cho rủ một chùm nho xoăn xoăn xuống trán. Sang dãy phố phía bên chẵn làm tô cháo vịt hoặc bánh cuốn rồi bắt tàu điện lên bờ hồ. Đi dọc theo phố hàng Đào rẽ vào hàng Buồm. Lên đến nơi cũng non trưa. Tôi ngồi đánh cờ xuyên ngày đến rạng sáng ngày hôm sau. Trong túi rủng rỉnh tiền, bấy giờ đã hết tàu điện. Có một ông xích lô hay tá túc qua đêm ngay trên xe ở đấy. Tôi gọi ông dậy trở tôi về nhà. Về đến phố nhà tôi hàng ăn bên phố chẵn đã thức dậy chuẩn bị bán ăn sáng. Tôi là vị khách đầu tiên.

Anh Quảng đi theo sau tôi từ lúc nào. Anh bảo:

- Này nhóc đi rong chơi thiên hạ không?

- Đi đâu anh.

- Đi khắp. Đi vênh vang với đời.

- Thì đi. Đi luôn nhé.

- Đi luôn

Cữ ấy đang tiết xuân các hội làng vẫn đang tấp nập. Anh Quảng bảo tôi về quê anh.

- Cho nhóc một lần được rước kiệu nhé.

- Là thế nào?

- Cứ đi rồi biết

Thì ra ở quê anh có tục ai thắng trong ván cờ ấy thì được bốn cô gái trẻ xinh nhất làng rước kiệu từ hội chợ về đình làng. Thằng nhóc khi ấy là tôi mặt non choẹt đường nét thanh tú có một nọn tóc chùm nho rủ xuống trán được mọi người tung hô rồi đỡ lên kiệu. Bọn trẻ con rồng rắn theo sau kiệu cười toáng cả thinh không.

- Lêu lêu lêu lại đây mà xem ông cụ non này.

Tôi xấu hổ nhảy xuống kiệu đi bộ cùng lũ trẻ con.

Chơi ở quê anh vài ngày rồi anh bảo.

- Đi thôi, đất nước ta đẹp lắm anh sẽ cho chú mày khám phá.

Anh hơn tôi đúng một giáp. Anh 30 tuổi là thầy giáo dạy văn.

Chúng tôi bắt xe đi Hải Dương. Anh dẫn tôi đến một làng quê thanh bình đẹp đẽ. Hội làng ở đấy hết rồi. Lúa đã xanh rì chân trời. Những mương nước trong vắt. Anh dẫn tôi đi giữa cánh đồng lúa. Anh dang rộng lồng ngực, mặt ngửa lên trời mắt nhắm nghiền. Tôi có cảm giác anh sắp bay lên.

- Nhóc có cảm nhận thấy sự khác biệt không?

- Em không. À có anh ạ, Ở quê cũng thích anh nhỉ.

- Nhóc có thích văn chương không?

- Em không biết.

- Rồi thì sẽ biết. Hãy ghi nhớ vào đầu nào, Cẩm Giàng-Hải Dương.

- Nhất Linh.

- À thì ra nhóc cũng biết đấy.

- Em đã tốt nghiệp lớp 10.

- Sao không học tiếp?

- Em không thích

Trời đã sẫm mặt người anh dẫn tôi đi tìm cái ăn. Phố thị quê ngày ấy kiếm đâu ra hàng quán như bây giờ. Anh rò re róc rách thế nào mà cuối cùng cũng dẫn tôi đến được một nhà. Nhà chìm trong bóng tối dày đặc. Chủ nhà chặn anh ở sân.

- Có cho thằng nhóc kia vào cùng không?

- Cho nó vào, nó cũng lớn rồi

Chúng tôi được dẫn vào một căn buồng tối. Có hai cái thân xác đang nằm ườn quanh một cái bàn gỗ nhỏ, trên bàn gỗ nhỏ có một cái đèn dầu không bóng. Mỗi cái thân xác kê đầu cao bằng một chiếc gối mây, hai tay đỡ một cái điếu dài. Sau này đi theo anh rồi tôi mới biết đấy là bàn đèn thuốc phiện. Tôi ở trên phố thuộc hạng con nhà giàu nhưng ông tôi vô cùng nghiêm cẩn tránh xa cái thứ này. Tôi lần mò ngồi xuống đất, đụng vào một người nữa cũng đang ngồi dưới đất. Khi hai cái thân xác kia để rơi hai cái điếu cạch xuống chiếc sập gỗ thì cái bóng đen ngồi cạnh tôi vội lao dậy vớ lấy cả hai cái điếu cắm vào mồm. Đợi cho hai thân xác kia phê xong lảo đảo ngồi dậy thì đến lượt anh. Trước khi nằm xuống anh bảo chủ nhà.

- Có cơm không cho nó ăn đi, nó đói rồi từ sáng đến giờ đã ăn gì đâu.

Chủ nhà dẫn tôi xuống bếp. Mâm cơm vẫn còn đầy ắp trong lồng bàn. Tôi đánh chén no nê thì anh cũng đã phê xong. Anh không ăn uống gì. Cái bóng đen ngồi cạnh tôi trong buồng kia là một tay đạp xích lô. Hắn đồng ý chở hai anh em đi chơi đêm ở đồng quê. Tối mò tối mẫm hắn lạch cạch dong chiếc xích lô ra đường. Hai anh em ngồi lên. Hắn hỏi

- Đi đâu

- Cứ đi, không chủ đích. Anh bảo

Hắn chầm chậm đạp. Hai anh em như ngồi trong cái chuông úp ngược tinh khiết của vũ trụ. Anh cất giọng mê say

“Lều tranh lạnh lẽo mất canh thâu

Lạnh cỏ cây trời lạnh đến đâu

Hé cửa nhìn trăng trăng tái mặt

Cài then thắp nến nến rơi châu”

( Thơ Hàm Mạc Tử)

- Văn chương là cái thứ gì nhóc có biết không?

- Em không.

- Đời nhóc nhóc say mê nhất thứ gì? Đến giờ ấy

- Cờ tướng.

- Ừ cũng phải thôi.

- Sao anh không đi dạy học nữa?

- Tù túng lắm, có cái thứ gì đó đang muốn bứt ra mà chửa ra được. Khổ cái thân anh quá.

Phía trước con đường bỗng cứ sáng dần ra, trong veo. Từng lá cây in bóng đen sẫm xuống mặt đường. Trong tim tôi có thứ gì đó cựa quậy. Các nơ ron thần kinh bung ra. Cảm giác của sự hưng phấn, ấy là sau này khi đã trưởng thành rồi đọc trăm cuốn sách tôi mới biết gọi tên nó ra như thế, còn khi đó cảm xúc lần đầu vương vào khiến tôi nấc cụt. Anh vỗ nhẹ vào vai tôi.

- Sao thế nhóc?

- Lạ.

- Chả sao rồi sẽ quen

“Hoa cười nguyệt rọi cửa lồng gương

Lạ cảnh buồn thêm nỗi vấn vương”

( Thơ Hàn Mạc Tử)

Tiếng hắn phía sau thở nặng nề.

- Bác đi đâu nữa không?

- Cứ đi chả biết đi đâu. Anh đáp

- Hay bác về nhà em ngủ vậy

- Ừ thì về

Thực anh và tôi định đi cho hết đêm chứ biết tấp vào đâu mà ngủ

Hắn cời lửa ở bếp cho sáng lên. Căn bếp nhỏ siêu vẹo. Hắn ra rút rơm ở đống rơm ôm vào rải xuống nền đất. Hắn lên nhà lấy manh chiếu rách trải lên ổ rơm.

- Bác với em nằm tạm. Lạnh quá thì cời đống rấm ra cho nóng

Tôi với anh nằm ôm nhau trên ổ rơm chìm vào giấc ngủ. Lần đầu tiên tôi ngủ dưới nền đất. Tôi là con nhà giàu có tiếng ở phố.

Sáng ra hắn mời anh và tôi lên nhà để vợ hắn xuống luộc khoai với đun nước nóng hãm nụ vối.

Đánh một bụng no khoai lang vụ đông bở như đỗ tôi với anh từ biệt hắn.

Tôi đã về đến quê anh. Quê khác xưa nhiều lắm. Đường đổ bê tông chứ không còn hàng gạch nghiêng nữa. Nhà bét nhất lụp xụp nhất cũng mái ngói. Quán xá nhiều như mắc cửi. Tôi tấp vào quán nước tơ hơ dưới gốc cây si. Gió biển mặn mòi tấp vào mặt nghe ran rát. Làng quê anh sát biển. Tôi gọi một cốc nước trà mạn. Cô chủ quán đội nón lá trắng quai nón bằng vải diềm bâu, mắt nhìn xa xăm. Tôi bắt chuyện.

- Quê mình giờ khác xa quá. Đường xá tốt quá

- Cõng đủ loại đóng góp còng gập cả lưng.

- Cụ Tốn còn ở đây không?

- Bác hỏi Tốn nào?

- Cụ Tốn nhà ở gần đê quai chắn sóng ấy

- À, cụ mất rồi cả ông con trai cũng đã kịp mất rồi

Cô chủ quán đang nói về anh. Tôi thẫn thờ đứng dậy. Tôi quay về không theo đường cũ. Tôi vòng qua Hải Phòng để qua Hải Dương. Tôi đến Cẩm Giàng. Tôi định tìm đến nhà hắn. Tôi cười buồn, mò kim đáy bể. Làng quê thay đổi quá nhiều, sao có thể tìm ra cái thứ đã chìm trong đêm tối.

Có một vạt cỏ non cạnh bờ mương nước trong vắt mời gọi tôi. Tôi dựng xe và ngồi bệt xuống bãi cỏ. Tôi lấy cái khăn trong ba lô che lên mặt.

Anh bàn với tôi.

- Chúng mình đi Cao Bằng nhé. Đất địa linh nhân kiệt đấy. Nhưng anh không có tiền

- Em có. Em sẽ bán cái lắc vàng của hồi môn mẹ để lại cho em. Mấy hôm trước ông em giao cho em cả rồi.

- Nhưng em bảo anh này, anh đừng hút thuốc phiện, nghiện rồi khổ lắm

- Nhóc yên tâm đi, anh có cách hút để không nghiện. Mới lại anh chỉ hút khi bế tắc thôi.

Về Hà Nội tôi bán chiếc lắc vàng ròng 5 chỉ của mẹ. Hai anh em lên đường. Ngày ấy đi lại rất khó khăn, hai ngày giời chúng tôi mới lên được Cao bằng. Chúng tôi chỉ chơi ở thị xã hai ngày sau đó thuê xe ngựa cứ xuyên đường mòn mà đi về phía biên giới. Dừng chân ở một thị trấn nhỏ sát biên giới anh Quảng lại rò re róc rách mà biết có một chú khách rất mê cờ tướng. Anh bảo tôi.

- Kiếm tiền để đi buôn nhé. Nghèo quá chả làm nên cái bộ dạng gì đâu.

Hai chúng tôi đến nhà chú khách được nuôi ăn ba bữa chỉ để chơi cờ tướng. Chú Khách mê mẩn cờ tướng đến mức quên ăn quên ngủ, càng chơi càng thua. Chú khách quyết giữ chân chúng tôi để mong kiếm một bàn thắng. Chú khách không thiếu tiền nhưng mòn mỏi sức khỏe. Một ông già sáu mươi sao đọ được với gã trai mười tám như tôi. Anh Quảng phải mua một chiếc túi du lịch có hình chiếc máy bay để đựng tiền. Trở lại thị xã Cao Bằng anh Quảng bàn.

- Mua hai cỗ xe ngựa để về xuôi bán, anh em ta đi lại cũng đỡ khó khăn. Tôi mười tám tuổi đầu đã biết gì đâu nghe theo anh răm rắp. Anh một xe em một xe chúng tôi rong ruổi về xuôi. Đi theo đường mòn có những đoạn xuyên qua rừng. Thảm có xanh rì, ánh nắng khỏe khoắn chiếu qua vòm lá những vệt sáng lung linh. Tiếng chim hót véo von. Bất chợt có một khoảng trống giữa rừng nắng ùa xuống chan chứa. Những cây cố thụ vươn thẳng lên vòm trời xanh ngắt. Anh Quảng dừng xe lại giữ khoảng trống. Anh đứng thẳng lên trên thùng xe. Và anh đọc, giọng anh to, trầm ấm.

“ Hỡi con sóng ai bắt ngươi dứng lại

Ai đã ngăn cơn thác đổ ầm ầm

Ai đã bắt cả dòng dông vĩ đại

Thành ao tù nước đứng lặng quanh năm?

Chiếc gậy thần trong tay ai chi phối

Hại đời tôi giết hy vọng vui buồn

Và đã biến một tâm hồn sôi nổi

Thành biếng lười ngái ngủ lệ sầu tuôn”

- Thơ hay không nhóc.

- Rất hay anh ạ. Tôi vỗ tay đôm đốp và reo lên.

- Anh ơi em đã cảm nhận được một chút hay ho của thơ ca rồi. Thơ anh hay quá.

- Ngốc ạ, không phải thơ của anh đâu mà thơ của Puskin đấy. Ông ấy là người Nga. Ông ấy là người giời đấy, vút qua chúng ta để lại những vần thơ tuyệt tác rồi lại bay về giời. Anh rất mê những vần thơ của ông ấy

Nắng đang rạng rỡ bỗng tắt ngúm, gương mặt đang cười của anh bỗng nhăn rúm .Tôi sợ hãi vội ngoảnh đi nơi khác, tôi không muốn nhìn gương mặt đó của anh. Dường như nó sắp vỡ vụn ra.

- Nó vẫn mắc ở đây này nhóc ạ. Nó chưa cất được thành vần điệu. Nó khiến anh đau đớn khốn khổ.

Hai tay anh bóp chặt phía ngực bên trái.

Anh đứng thẳng trên thùng xe ngựa quất roi vào lưng con ngựa. Con ngựa tung bốn vó phi nước đại. Tôi cũng làm theo anh.

Về Hải Dương chúng tôi bán hai cỗ xe ngựa. Số tiền của chúng tôi tăng lên thành hai túi du lịch. Anh Quảng đưa tôi vào một tiệm vàng. Anh mua một cái lắc tay vàng ròng 5 chỉ trả lại cho tôi.

- Trả lại vốn cho chú, nhớ cất kỹ mai kia tặng cho vợ. Nhớ anh dặn này, lấy vợ phải lấy người vô tư chất phác hồn nhiên giản dị nhé. Lấy được người như thế thì mới mong có một gia đình yên ấm.

- Nào chúng ta đi chu du tiếp.

Chúng tôi đi ngược về Hòa Bình rong ruổi hết bản Mường này sang bản Mường khác. Tắm suối tắm sông ăn chán chê cá sông Đà thì anh bảo.

- Đóng bè vầu luồng nứa về xuôi.

Anh thuê người vào rừng chặt vầu luồng nứa rồi đóng bè. Một cái bè khổng lồ dài gần cây số. Anh lại còn thuê một đội chống bè chứ hai anh em tôi biết làm gì đâu.

Khi bè sắp nhổ neo thì bỗng đâu có 20 cô gái trẻ ào xuống bè.

- Ông chủ ơi, xin ông rủ lòng thương chị em chúng tôi cho chúng tôi đi nhờ về xuôi.

Quần áo họ rách rưới thảm thương, khuôn mặt nhầu nhĩ. Anh Quảng đứng chắn ở đầu bè rồi nhìn trân trân vào mặt từng cô. Anh thở dài không nói gì. Họ xum xúp tìm chỗ ngồi

Kế hoạch thay đổi. Thay vì chỉ ngồi bè xuống thị trấn rồi hai anh em lên bờ đi đường bộ về nhà thì anh Quảng quyết định sẽ theo bè về xuôi. Thay vì bè cập bến sông Hà Nội thì bè đi thẳng về quê anh. Một tháng chúng tôi lênh đênh trên bè ăn uống ngủ nghỉ. Mỗi lần lên bờ anh Quảng dẫn theo hai phu chống bè để đội đồ ăn. Nấu ăn cho gần ba mươi người đâu phải là chuyện chơi. Hai mươi cô gái đã thắm da đỏ thịt rồi. Họ bắt đầu rúc rích cười nói. Họ nói với anh Quảng.

- Chúng em là công nhân nông trường, khổ quá nên trốn về nhà.

Anh Quảng lặng ngắt không nói gì.

Có đêm trăng tuyệt đẹp. Ánh trăng rải bạc lấp lóa trên mặt sông, gió nồng nàn. Mọi người trên bè đều xáo trộn trong lòng không ai ngủ được. Bè dài gần nghìn mét nên mọi người có thể chọn một chốn riêng tư mà không phải làm phiền người khác. Anh Quảng ngồi ở đuôi bè trầm ngâm hút thuốc. Một cô bé xinh xắn nhất trong đám các cô ngồi xán vào anh Quảng. Anh Quảng đã mua quần áo cho các cô lành lặn cả. Cô gái quỳ xuống ôm ngang lưng anh.

- Anh ơi em muốn trả công anh đã cưu mang chúng em.

Anh Quảng không ngoảnh mặt lại giọng rít lên.

- Bỏ ngay cái tay ra. Sống tử tế là trả công tôi rồi.

Tôi đang rúc đầu trong mớ chăn chiếu nửa thức nửa ngủ nghe tiếng bèn thò cổ ra. Cô gái bèn buông anh ra rồi đứng dậy. Tôi rón rén đến bên anh Quảng.

- Anh ơi anh buồn vì việc gì thế, sao anh không đọc thơ đi.

- Thơ ca bất lực rồi nhóc à.

- Này anh bảo nhóc này, đến Hà Nội nhóc lên bờ đi nhé. Anh đưa bè về quê bán rồi sẽ mang tiềng  cho nhóc

- Em không cần tiền đâu.

- Nhóc sẽ cần đấy, tin anh đi. Này nhóc, nhóc có biết nhóc rất thông minh không? Ngao du ra với thế giới đi, được vần thơ nào áng văn nào thì cũng hay nếu không được thì cũng thỏa chí tang bồng. Nhóc đừng theo anh nữa, anh vào ngõ cụt rồi. Nghe anh đi. Nếu suôn sẻ thì anh em mình sẽ hẹn ngày tỉ thí thơ ca chứ không phải là tỉ thí cờ tướng đâu nhé.

- Anh cứ đùa cái mặt em như vầy mà anh bảo làm thơ được ư?

- Anh cũng không biết nhưng anh hy vọng là thế

- Thơ là cái gì thế anh? Nó có giống tiền không mà anh cứ đau đáu thế?

- Anh biết trả lời nhóc thế nào đây? Tất nhiên thơ ko phải là tiền, thơ không tiêu được chỉ có tiền mới tiêu được. Nhưng thơ là một con quái vật mà khi ta đam mê nó rồi nó sẽ hút hết tất thảy sinh lực của ta khiến ta có thể chết vì nó. Thơ ca là gì ư? Là thứ mà không có thứ vật chất nào trong vũ trụ này có thể tạo ra nó. Thơ ca là hoang tưởng và ảo giác, có nhẽ là thế. Nó là một sự tinh túy, tinh khiết như sương sớm, hoang hoải như ban trưa và mê đắm như chiều tà.

- Thật thế ư anh, vậy em chẳng nên dính vào nó làm gì. Vả lại em cũng không thể biến thành trời đất được để mà làm ra những thứ như anh nói ấy. Em không thể chưng cất được ban mai để những giọng sương đọng lại. Em cũng không thể làm ra ban trưa để có mùi vị hoang hoải của nó. Em lại càng không thể là mặt trời, thứ duy nhất của vũ trụ này làm ra ánh hoàng hôn của chiều tà để mà mê đắm.

- Thằng nhóc.

Đột ngột anh vồ thẳng vào hai vai tôi rồi lắc. Anh lắc tôi như trong cơn cuồng lộ.

- Thằng nhóc mày lớn thật rồi, không uổng công anh đưa mày đi ngao du. Thằng nhóc. Anh bật cười ha hả. Vang vọng cả một khúc sông đêm.

- Này nhóc ơi nghe anh này. Con người, tất nhiên không thể là trời đất là vũ trụ. Con người càng không thể là mặt trời. Nhưng con người sẽ biết làm ra cảm xúc. Cảm xúc ấy là là trời là đất là ánh sáng là vũ trụ là mặt trời là mặt trăng. Khi cảm xúc dâng tràn thì những vần thơ sẽ ra đời. Đi đi nhóc, hãy ra với thế giời ngoài kia và sống thật đẹp vào nhé, nhóc.

- Anh xin lỗi nhóc, đúng rồi nhóc ơi đừng dính vào nó. Cái thứ gọi là thơ ca ấy. Nhóc chỉ cần đi ra với thế giới rộng lớn kia thôi.

Tôi lên bờ còn anh xuôi theo dòng sông về phía biển.

Tôi chờ anh quay lại tìm tôi để rủ tôi đi rong nhan cùng với anh. Tôi chờ mãi chờ mãi mà không thấy anh quay lại. Tôi cũng không muốn về quê tìm anh. Tôi lại quay về với hành trình cũ, sáng chín giờ dậy, tắm táp ăn vận chải chuốt, sang dãy phố chẵn ăn sáng rồi bắt tàu điện lên bờ hồ. Tôi lại chơi cờ ăn tiền. Đỉnh vinh quang trong nghiệp chơi cờ của tôi là cuộc tỉ thí ở Văn Miếu. Tôi đã được xướng tên sau một ván cờ ba ngày ba đêm. Sao lại cứ ba ngày ba đêm tôi cũng không biết.

Ông nội tôi mất rồi. Không kịp chờ ngày tôi lấy vợ. Tôi chưa lấy vợ vì tôi còn chờ anh đến gặp tôi.

Năm tôi 27 tuổi thì anh đến tìm tôi. Trông anh rất già da sạm đen tiều tụy. Anh quẳng cho tôi cái túi du lịch.

- Tiền của chú đây. Anh không gọi tôi là nhóc nữa. Đi đi ra với thế giới rộng lớn kia đi.

- Thế anh không đi với em nữa sao?

- Anh mệt rồi muốn nghỉ ngơi. Khi nào quay về nhớ đến tìm anh nhé. Đi đi em thế giới rộng lớn lắm.

Tôi viết đơn xin nhập ngũ khi đã 27 tuổi. Hai năm sau tôi được cử vào Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp Quốc sang Afganistan. Tôi đã đi qua các làng mạc bị phá hủy bởi chiến tranh. Tôi đã ám ảnh bởi những đôi mắt tròn xoe trong veo của những em bé. Và những vẫn thơ đã nảy mầm trong trí não của tôi.

Những vần thơ, những vần thơ? Chắc chắn anh đã để lại những vần thơ. Tôi mở choàng mắt kéo cái khăn che mặt. Tôi tống tất cả vào ba lô xốc lên vai. Tôi phi nước kiệu trên con chiến mã 110 phân khối có tên là Dream.

Tôi nhè nhẹ bấm chuông. Một cánh cửa mở ra. Chị nép vào một bên. Di ảnh của anh đã được đặt ngay ngắn trên ban thờ.

- Chị biết chú sẽ quay lại. Anh gửi cho chú cái này, dặn phải đưa tận tay cho chú.

Chị đưa cho tôi một gói vuông vức. Tôi run rẩy mở nó ra. Những cuốn vở nhỏ xinh và những con chữ kín trên mặt giấy.

- Chú có muốn biết vì sao mãi mà anh Quảng không lên đấy gặp chú không?

- Biết bây giờ còn có nghĩa gì nữa chứ.

- Chú nên biết. Ngày đấy 20 đứa chúng tôi là tù nhân trốn tù.

- Cái gì?

- Ngày đấy 20 đứa chúng tôi là tù nhân trốn tù.

- Tại sao tôi lại không biết chứ?

- Chỉ có mình anh Quảng biết thôi. Anh ấy có con mắt tinh đời. Chúng tôi không phải mắc tội gì tày đình đâu. Chúng tôi cùng quê rủ nhau đi làm công nhân lâm trường, gian khổ quá lại rủ nhau bỏ lâm trường về quê. Thế là bị bắt đi tù. Ở trong tù càng khốn khổ hơn nên lại cùng nhau bỏ trốn. Về đến quê chúng tôi đứa nào cũng được ngủ với bu mấy đêm rồi bị bắt lại. Anh Quảng cũng bị bắt. Ra tù chúng tôi đã cưới nhau.

- Chị đừng kể nữa tôi không nghe thêm gì nữa đâu. Tôi đã biết anh ấy sống như thế nào thôi chứ tôi không cần biết anh ấy phải chết như thế nào.

- Cũng đúng.

Tôi về nhà chui vào nhà của ông nội. Thực ra bây giờ nó là từ đường. Tôi cài cái then gỗ. Tôi dở những cuốn vở nhỏ xinh. Trang đầu tiên cuốn vở đầu tiên là những dòng thơ.

Thơ tự do của một người quen tự do phóng khoáng.

 Không bến bờ, không có trạm nghỉ chân.

 Thoáng nghĩ ra là viết cóc cần.

Nội dung, chủ đề, kết luận.

 Viết đi viết mãi viết dài vô tận.

 Những câu thơ không vần điệu ngang phè.

 Nếu bực mình bạn hãy cố mà nghe.

Thơ như thế của một con người như thế”


Truyện ngắn, Y Ban - 18.4.2018

 Từ khóa: Truyện ngắn Y Ban

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây