Chờ đợi

Thứ năm - 08/01/2026 09:34
Truyện


 

Truyện của Trung Thực Lê
 

    “Ai mua vé đê…ê…ê"...
    Tôi đang chăm sóc cho dàn hoa trước nhà thì nghe tiếng mời mua vé số. Nhà ở sát đường lớn nên tôi chẳng lạ việc này. Gần đây tôi hờ hững với nó. Bởi không nhìn tôi cũng biết đa phần họ mang gương mặt buồn như gái ế. Lần này thì không. Nhìn ra đường, tôi thấy một bà già đang xòe xấp vé số trên tay. Bà khoác trên vai cái túi nhỏ, đầu đội mũ sờn và đôi dép đã cũ. Nhìn nét mặt tôi nghĩ, ngày trẻ, đây là cô gái mỏng mày hay hạt. Trời mới sáng ra, gió nhẹ, không khí mát mẻ. Ngoài đường người đi lại đông dần. Quán ăn, tiệm cà phê rục rịch mở cửa.
    Ở Sài Gòn, hẻm ngách nào cũng có người bán vé dạo. Kể cả vùng ven như Thủ Đức, Cần Giờ… Sài Gòn như là điểm dừng không thể đi thêm được nữa của người lao động nghèo. Thành phố hàng ngày giang rộng vòng tay thu nạp bao mảnh đời nghèo khó, miễn là họ thiện lương. Đối tượng già cả, tàn tật, sức yếu, phần nhiều chọn công việc bán vé số dạo. Số đông đến từ mấy tỉnh cuối miền Trung. Trong cuộc đua chen ấy, phần thua thiệt thuộc về nhóm người tàn tật, già yếu, trẻ em.
     Một dạo tôi hay mua vé số. Không chỉ hy vọng trúng giải mà còn động viên cho người bán vé qua ngõ mỗi ngày. Nhà tôi có khu vườn nhỏ, nhìn ra đường lớn. Từ ngày thôi hành nghề y, tôi dồn sức chăm sóc hoa. Nhờ hoa, cuộc sống của tôi khá ổn. Trong khi người bán vé số đa phần khó khăn. Gần đây vé số giảm sức mua, đẩy sự thua thiệt về phía người bán dạo. Trong khi phần đông họ nhỏ gầy, hay chân tay teo tóp mốc meo như khúc củi khô. Nhiều người khiếm khuyết cơ thể, dặt dẹo trên xe lăn… Để bán được vài trăm vé, họ phải liên tục đổi chỗ, cả ngày dầu dãi mưa nắng. Nhưng đáng khen khi họ khiếm khuyết về hình hài mà dẻo dai về nghị lực. Trên bước đường mưu sinh, khó tránh những ánh mắt coi thường, nhưng họ học cách kiên nhẫn vượt qua.
    Đôi lần tôi trúng giải vé số, nhưng là giải đuôi. Mua vé số, tôi muốn ủng hộ chút nhỏ những người vất vưởng trên đường. Ở Sài Gòn, số bán vé dạo, đa phần người già; những cháu nhỏ áo quần bụi bặm, thất thểu, nhếch nhác. Nhiều đứa bé chỉ mới sáu, bảy tuổi, răng cửa trống hoác, tóc vàng cháy, gầy nhom. Lứa tuổi cần được vui chơi nô đùa, uống sữa, sớm hôm tới trường…
    Tôi lan man suy nghĩ. Chuyện quá khứ rồi hiện tại. Nghĩ về trước đây, anh em họ hàng nhà tôi có mấy người phục vụ cho chính quyền Sài Gòn. Sau giải phóng miền Nam, họ hàng nội ngoại có mấy người định cư sang trời Tây thì hai người gặp nạn trên biển. Biền biệt nửa thế kỷ, xa cách chân trời nên tôi chẳng nhớ dáng hình người anh họ thế nào, cuộc sống xa quê nhà nửa vòng trái đất ra sao.
    Chợt nhớ tới bà bán vé số, tôi vội ra cổng. Bà ấy đi được một quãng xa.
    Nhìn theo bà, không hiểu sao, tôi lại nhớ về cô du kích đẹp người đẹp nết năm nào. Sau giải phóng miền Nam, vì nhớ thương người ấy mà tôi dành mười năm lặn lội tìm khắp sông suối bưng biền. Nghe giọng nói, nhìn khuôn mặt của, tôi nghĩ: có thể người này là Liên, nữ du kích bị thương trong một trận chống càn cách đây hơn nửa thế kỷ. Bà ấy bị lính bên kia bắt giao cho trạm quân y của tiểu đoàn trong tình trạng bị đạn pháo xuyên vào đùi…
    Giống thật. Là Liên, nữ du kích năm xưa
    Tôi vội vàng chạy theo.
   “Bà vé sô… ố… ố. Dừng! Tôi mu…ua…ua.”
    Cái bà này, bán vé dạo mà đi nhanh thế. Tôi vừa đi vừa chạy đuổi theo. Chậm chút nữa, bà ấy sẽ hòa vào dòng người đang trôi trên đường Lê Văn Việt.
    Nghe tiếng bình bịch phía sau, bà ấy quay lại, một giọng thanh nhẹ cất lên: “Chào ông. Ông mua vé?” Tôi vừa thở vừa gật đầu. “Vâng, ông chọn đi.”
  “Tôi mua ba, à bốn vé. Tờ nào cũng được.”
    Nở nụ cười trìu mến, bà lễ phép đưa vé cho tôi.
    Tôi tranh thủ nhìn lần nữa. Từ khuôn mặt, giọng nói, nét người, tôi đinh ninh đây là người mình từng chữa vết thương hơn nửa thế kỷ trước. Người tôi từng tìm, từng chờ đằng đẵng suốt bao năm.
   “Xin lỗi khi hỏi bà chuyện tế nhị. Tôi muốn biết tên tuổi quê quán của bà... được không?”
    Bà Liên đứng như trời trồng, như tim đã ngừng đập: “Ông là ai mà muốn biết kỹ về tôi? Có cần không. Thôi chào ông.” Bà khẽ cúi đầu rồi đi.
   “Khoan, tôi chỉ là thường dân thôi, thưa bà. Có chuyện này vì gặp bà, tôi nhớ về một nữ du kích xinh đẹp năm xưa. Trong một trận chống càn ác liệt, cô ấy bị đạn xé một mảng đùi bên phải. Lính đưa về bệnh xá trong tình trạng bị mất nhiều máu. Không cấp cứu sớm, mạng sống sẽ nguy hiểm…” Bà ấy chăm chú nghe. Tôi ngơ ra một lúc rồi nói tiếp:
   “Tiếc là trường hợp của cô ấy không dễ được ưu tiên cấp cứu như lính quân đội Sài Gòn. Nhưng tôi thiết tha đề nghị cấp trên cho đặc cách làm phẫu thuật sớm nhất. Để chậm, chân sẽ bị hoại tử, rất hiểm nguy. Nhưng lượng máu trong kho đã cạn. Cuộc vận động hiến máu được triển khai. May sao tôi lại cùng nhóm máu.”
    Bà bán vé dạo chăm chú nghe tôi nói bằng vẻ mặt xúc động.
   “Hiến máu cho nữ du kích xong, tôi nghỉ lấy sức. Các y tá chuẩn bị mọi thứ cho ca mổ. Được tiếp máu, lại phẫu thuật kịp thời, đôi má của cô ấy dần hồng trở lại. Thưa bà, dáng đi hơi tập tễnh của bà gợi lại trong tôi chuyện năm xưa...”
    Giọng bà bán vé số hơi run: “Ông còn nhớ tên… không?”
    “Có, thưa bà. Sau hai tháng chữa trị, cô ấy lành vết thương. Một buổi chiều, sau ca trực, tôi nhận được mảnh giấy gấp nhỏ từ một người không quen. Giấy ghi là nhờ tôi dẫn cô du kích đến một địa điểm bí mật bên bờ sông Tắc. Khi sắp bước xuống thuyền, ấy nắm chặt tay tôi: “Anh à, em là Liên. Biết rằng chiến tranh có thể hủy diệt nhiều thứ nhưng khó mà làm mất đi lương tâm con người. Khi hai miền thống nhất, khổ đau, thắng thua, thù hận rồi cũng qua thôi anh. Ta cùng máu đỏ da vàng cả mà. Ngày nước nhà sum họp, nếu còn sống mình sẽ về Thủ Đức tìm nhau, được chứ? Anh đợi em không?”
    Bà bán vé run người.
   “ Tôi nhớ rồi, ông là bác sỹ Thành, ân nhân cứu mạng năm xưa. Vâng, tôi là Liên. Hôm bị lính bắt, mang về bệnh xá của quân đội Sài Gòn, dù khác chiến tuyến nhưng ông và các thầy thuốc sớm can thiệp vết thương, hết lòng chữa trị cho tôi. Vậy mà tôi đã không… đền đáp.”
   “Không bà. Đây là công việc của một thầy thuốc. Bà ăn sáng chưa? Món gì bà ngon miệng để tôi mời. Thật mừng, hơn năm mươi năm rồi, máu xương hai miền đã viết nên bản hòa ca vĩ đại mình mới gặp lại nhau! Cứ ngỡ chiến tranh chỉ dẫn đến chia rẽ, biệt ly, nhưng không; chúng mình cùng thấy, rồi mùa xuân cũng theo về. Ăn sáng xong mời bà lại nhà tôi, để biết nơi ở, vừa cùng ôn lại thời đầy bi tráng. Bà thấy không, trong chết chóc hiểm nguy nhưng tình người vẫn nảy mầm. Vậy là cuộc đời của hai ta giống như một câu chuyện tình yêu, hay một bài thơ, một câu thơ cũ mà đôi lứa yêu nhau vẫn tìm, vẫn đợi. Bà có thấy vậy không?

 
                                                ***
    truyenCuối năm bảy tư, trong trận chống càn, một nữ du kích trẻ, xinh đẹp bị lính Sài Gòn bắt. Cô ấy bị đạn pháo xuyên vào đùi phải, máu thấm đỏ lớp gạc dày. Xử lý chậm chắc chắn tính mạng sẽ nguy. Là bác sỹ, tôi xác định phải mổ gấp, dù là lính quân đội quốc gia hay người khác chiến tuyến. Vả lại, một cô gái xinh đẹp thế mà để... chết thì… Nhiệm vụ này rất phức tạp trong tình hình căng thẳng ở chiến trường. Tình báo phía Sài Gòn nhận định: Sau Tết, Bắc Việt sẽ đánh lớn. Nhận định rất đúng vì mới đầu năm, tỉnh Phước Long được giải phóng. Hai tháng sau cả vùng Tây Nguyên rộng lớn về tay cách mạng. Khi nữ du kích rời bệnh xá được mấy hôm, Tổng thống Thiệu thề sẽ tử thủ để bảo vệ Huế và nhiều nơi. Ít ngày sau, tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố: “Sẽ biến Sài Gòn thành một Leningrad thứ hai.” Nhưng các sư đoàn hùng mạnh vẫn thần tốc thọc sâu, xe tăng của quân giải phóng đã chồm tới cửa ngõ Sài Gòn…
    Tôi hỏi bà Liên: “Ngày ấy chính tôi bí mật dẫn bà đến bên bờ sông Tắc giao cho du kích. Chắc bà chưa quên?”
    Nhìn thẳng vào tôi một hồi lâu, bà nhẹ nhàng: “Dạ, nhớ. Chuyện ấy in sâu lắm. Trong bệnh xá, ông và mấy người nữa đã hết lòng chăm sóc, dù tôi không cùng chiến tuyến. Thật là thiêng liêng khi trong chiến tranh, chuyện sống chết nhiều khi chỉ tựa làn ranh mỏng…”
    Nhờ bóng cây lớn, chúng tôi ngồi ở bàn nước ngoài sân. Ký ức thời bom đạn hiện về. Mắt bà Liên ậng nước. T khi nào bà đổi giọng xưng hô. Ngày chia tay bên bờ sông, bà ấy nghiêm nghị lắm. Chắc là nhiệm vụ cách mạng giao cho quan trọng, thiêng liêng. Giờ hòa bình rồi, gặp nhau, sao bà ấy lại khóc? Khóc vì hơn nửa thế kỷ mới gặp hay khóc cho những đồng đội đã không trở về?
   “Hai miền sum họp, đội nữ du kích được chính quyền ghi công rồi cho giải thể. Em được trên cho giám định sức khỏe, được cấp thẻ thương binh hạng nhẹ. Về làng được vài ngày, em lên Tây Nguyên chăm bà ngoại ốm. Sau đó mới về quê khăn gói đi tìm anh. Em nóng lòng tìm gặp cho được người cứu mạng và trong sâu thẳm cũng là người mình thầm nhớ thương. Nhưng rồi hai năm trời, anh biền biệt như chim. Em sốt ruột sốt gan rồi nghĩ đến tình huống mà mình từng mường tượng: anh tử trận rồi, hoặc đã vượt đại dương sang trời Tây...”
    Hai người im lặng, nhìn thẳng vào mắt nhau. Đôi mắt bà đầy nước.
    Tôi nói với bà Liên: “Đất nước thống nhất, anh đi “học tập cải tạo” một tháng. Ngắn vậy vì chính quyền cách mạng xác nhận trong hồ sơ, anh “làm việc cho địch vì hoàn cảnh.” Ra trại, anh nhờ một họa sỹ vẽ hình em theo trí nhớ rồi đem về bệnh xá cũ hỏi tìm. Nhưng bao ngày trôi qua em vẫn bặt tin. Lòng như lửa đốt, anh mở rộng địa bàn tìm kiếm. Dọc sông Đồng Nai, anh lặn lội về đôi bờ sông Tắc; tiện chân dạt về vùng Cần Giờ, nơi sông Đồng Nai đổ ra biển. Nhưng không thấy, cứ như em chưa từng có mặt trên đời này. Anh đánh liều vào nghĩa trang liệt sỹ. Nước mắt anh trào ra khi nghĩa trang liệt sỹ Thủ Đức và mấy nơi nữa không có… tên em!”
    Bà Liên xúc động, người run lên từng hồi. Tôi nhìn bà… Phải rồi... Đôi mắt! Đôi mắt ấy, đôi mắt năm xưa...
   “Ngày Liên rời bệnh xá, vì nhiệm vụ, em không cho anh biết quê quán, người thân mà chỉ cho biết tên thật của mình. Hôm ấy, Liên dặn: đất nước thống nhất, nếu còn sống, mình sẽ về Thủ Đức tìm nhau. Lời của em khiến anh rưng rưng, thiêng liêng như một lời thề nguyền. Trong lúc súng của người du kích lăm lăm, anh không thể nói quê mình, sợ em bị liên lụy. Câu chuyện bên bờ song thật ngắn ngủi. Rồi thuyền chở Liên nhanh chóng mất hút trên dòng sông mờ sương…”
    Nước mắt chảy trên khuôn mặt bà Liên. Giọt nước mắt ngày gặp lại…
   “Suốt mười năm, bàn chân anh lặn lội tìm Liên khắp Sài Gòn. Giữa biển người mà anh thấy cô đơn. Nhiều người cảm kích giới thiệu cho anh Liên này Liên nọ, nhưng tới nơi thì không phải. Anh đã nghĩ đến chuyện buồn: em cố tình tránh người từng làm cho chế độ cũ, hoặc nhạt lời hẹn xưa, quên mình từng nắm tay nhau bên bờ sông Tắc hôm nào, quên buổi chiều mờ sương năm xưa mà theo chồng về một nơi xa lơ xa lắc…”
    Bà Liên quay hướng khác rồi nhìn tập vé số trên tay. Chắc bà ấy muốn đi…
    Ngày tiếp nhận cấp cứu cho Liên, tôi mới 23 tuổi, trai tân. Liên đẹp, mỗi lần ở gần em là tim tôi nhảy loạn. Lúc ấy nữ du kích tôi chưa biết tên thật (hồ sơ bệnh nhân của cô ấy tên là... Nhàn). Tôi cũng chỉ biết trong hồ sơ ở bệnh xá, có nữ du kích… 18 tuổi, quê Tiền Giang. Chà, anh hùng mà đầy bi thương. Một cô gái xinh đẹp như em nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh mà không được đến trường, không có điều kiện làm dáng, chưa từng nghĩ đến mình đáng được kiêu sa.
   “Mấy chục năm qua, cuộc sống của Liên thế nào? Các cụ thân sinh... Sao em lại làm nghề bán vé dạo?” Tôi hỏi.
   “Chuyện dài lắm, em vắn tắt thôi.” Rồi bà ấy kể về đoạn đời đầy thăng trầm của mình.
   Trở về đơn vị, chân phải của Liên hơi tập tễnh. Chỉ huy chuyển cô sang làm công tác binh vận. Cô cùng đồng chí, đồng đội kêu gọi, vận động ngụy quân đào ngũ, buông vũ khí trở về nhà. Sang tháng tư, Tổng thống Thiệu hô hào tử thủ nhiều nơi nhưng ngụy quyền trong tình cảnh mất sức chiến đấu, rã đám hàng loạt.
    Nghe bà ấy nói, tôi nhớ lại giọng này năm xưa. Và dáng người, nụ cười, làn môi mềm, hàm răng đều tăm tắp…
    Non sông liền một dải, Liên được cấp chế độ thương binh hạng nhẹ. Em lên Tây Nguyên chăm bà ngoại ốm. Về quê, Liên bỏ công tìm tôi nhưng không thấy. Sau đó ngày tiếp ngày, năm tiếp năm, Liên cùng cha mẹ cày bừa xáo xới để nuôi một đàn em. Hồi ấy ngăn sông cấm chợ, cả nhà quanh năm dãi dầu ruộng bãi. Rồi đất nước ngặt nghèo trong cấm vận, bao vây. chiến tranh ở hai đầu biên giới nổ ra làm cho cuộc sống dân tình thêm phần vất vả. Mấy chục năm, Liên cùng cha mẹ già chắt chiu nhặt nhạnh nuôi các em ăn học mà không giữ riêng cho mình đồng nào. Khi các em trưởng thành, rơi vào tình trạng quá lứa…
    Thực ra Liên có nhiều cơ hội lấy chồng. Khối người muốn được gần gũi, yêu thương. Nhưng trong thẳm sâu, em đợi chờ, vẫn tin là người ta không quên lời hẹn. Người ấy là lính quân y nên không trực tiếp đánh trậnHay anh ta quên lời hẹn vào một buổi chiều bên bờ sông Tắc mờ sương? Vả lại con gái có thì. Các em Liên nối nhau đi học, rồi lần lượt lấy vợ, lấy chồng. Liên làm ở hội phụ nữ xã và quán xuyến việc nhà. Khi cha mẹ lần lượt qua đời thì Liên tuổi ngoài năm mươi. Ngôi nhà của ba má giao cho người con trai cả để thờ tự tổ tiên. Liên gom góp mua mảnh đất bên bờ sông Tắc, dựng căn nhà nhỏ. Tuổi già đến, ngoài chế độ thương binh, Liên đi bán vé số dạo, tự lo cho cuộc sống.
   “Một ngày em bán được bao nhiêu vé, có đủ tiền trang trải không?” Tôi hỏi một câu ngớ ngẩn.
   “Mười năm em làm việc này thì trước đây, kiếm ngày vài trăm cũng nhẹ. Giờ khó hơn vì người bán vé số đông lên nhiều. Công việc cũng hợp với sức vóc của người già. Nhiều hôm trở trời, người mệt mỏi nhưng chân vẫn không ngừng bước. Gắng một chút vì nếu vé ế, đại lý không nhận lại. Đã từ chối vé thừa, họ còn trừ “chỉ tiêu” vé ngày hôm sau. Rơi vào hoàn cảnh ấy đành chịu lỗ. Mười năm, em len lỏi khắp các con hẻm chằng chịt ở Sài Gòn nhưng không phải ngày nào cũng bán hết. Bao lần, em gặp người ế vé, cầm tập vé trên tay, ánh mắt họ rưng rưng...
   Thời gian đầu, đi bộ nhiều làm chân em bị sưng. Rồi cũng quen. Động lực giúp em nỗ lực là mình còn căn nhà nhỏ, có phụ cấp thương binh. Dù tiền không nhiều nhưng khó khăn vẫn còn chỗ dựa. Hàng ngày đi làm, em thấy nhiều người phải chen chúc vất vả trong nhà trọ. Gặp trời mưa, người già không ngủ được vì tiếng mưa lộp bộp xuống mái tôn. Họ tất bật nào tiền thuê nhà, tiền ăn hàng ngày, dành dụm đề phòng lúc ốm đau, rồi trăn trở cả chuyện người này người kia bị bọn hỗn hào giật vé. Lấy ít vé thì kẹt tiền tiêu. Lấy nhiều lại lo ế. Thời giờ, dân bán dạo không nhiều người “gọn” được vài trăm vé. Hai trăm vé, là kiếm được hai trăm nghìn một ngày. Số tiền chẳng bao nhiêu khi sinh hoạt ở phố phường.
    Như muốn tránh cái nhìn của tôi, Liên ngước mặt nhìn lên bầu trời cao xanh thăm thẳm. Tôi hiểu. Những hôm trời mưa, trước cổng nhà, tôi thấy nhiều người cầm tập vé vẫy vẫy người lại qua. Nhìn cảnh ấy nhiều lúc thấy lòng nao nao. Rồi chuyện xưa, chuyện nay, cùng nỗi niềm của một người già khi nhà bên, tiếng loa rền rĩ: “Thành phố buồn lắm tơ vương, cơn gió chiều lạnh buốt tâm hồn... Và con đường ngày xưa lá đổ, giờ không em hoang vắng phố phường...”
    Sài Gòn nhiều người giàu và cũng lắm người nghèo. Có lần, một người bán vé thở dài với tôi: dân Quảng Ngãi quê bà vào đây bán vé dạo nhiều lắm. Biết là làm ăn chẳng dễ gì nhưng ở quê kiếm tiền rất khó. Chồng mất rồi, các con còn vất vả, đành vào đây. Vào rồi mới biết đồng hương dù đông nhưng muốn giúp nhau chẳng dễ. Thôi thì chỉ cần mọi người động viên, gửi đến nhau nụ cười là thấy nhẹ lòng. Bà chỉ mong ngày kiếm được đôi trăm... Ngoài tiền nhà, tiền ăn còn phải để dành, phòng lúc ốm đau cơ nhỡ, rồi vốn mua hàng cho hôm sau. Lại còn lo xa khi phải gom góp để mua sẵn cho mình bộ quan tài...
    Liên vẫn nhẹ nhàng trả lời câu hỏi của tôi. Em bảo nhà mình ở gần đây. Ngoài phụ cấp thương binh 4/4, nhà nước hỗ trợ một phần, anh em họ hàng giúp ngày công, em sửa lại ngôi nhà chắc chắn. Còn khỏe, em còn nỗ lực. Ngoài ra còn để cưu mang bầy chó. Nuôi rồi thì không nỡ bỏ rơi. Chúng là bạn bốn chân, nguồn động viên những lúc em mệt mỏi…
   “Em nuôi chó?” Tôi hỏi.
   “Dạ, tám con. Những ngày bán vé dạo, thấy chúng dặt dẹo bên vệ đường, nhìn nó gầy trơ xương, lông rụng loang lổ, em mang về. Ánh mắt nó nhìn như cầu cứu. Nhưng lắm bận, em phải giơ roi dọa vì những chú nhỏ tinh nghịch cắn nát dép của chủ. Con lớn trong đàn cụp mắt cầu xin… Nhiều khi chó ốm, không sẵn tiền tìm đến bác sỹ thú y, em chỉ biết chăm sóc, vỗ về. Ánh mắt nó tuyệt vọng nhìn chủ đến giây phút cuối. Hình ảnh ấy lấy đi một mảng tim của em. Chó chết, em không ngủ được nên bật nhạc buồn, rồi mở cửa sổ nhìn bầu trời đêm thăm thẳm.
     Bầy chó là những sinh linh gần gũi. Mỗi lần cho ăn, cả đàn ngẩng lên nhìn chủ trước khi cúi mặt xuống. Trong đàn, có một con em đặt là Đợi. Em mang về khi người nó chỉ còn da bọc xương. Giờ mắt bắt đầu mờ đục. Ánh mắt ấy hàng ngày vẫn dịu dàng, yếu đuối, yêu chủ vô điều kiện. Đôi tai cụp, mặt nhăn vì tuổi tác, nhưng tai nó luôn vểnh lên ngay khi có tiếng động. Chủ về đến ngõ, bao giờ Đợi cũng nhìn thấy đầu tiên. Nó uốn người. Ngoáy đuôi. Cào bàn chân xuống đất. Đến bữa ăn, nó chờ cho bầy đàn ăn trước. Chó là loài vật có trái tim biết nói, đôi mắt biết yêu thương. Cả đàn, nhất là con Đợi giờ đây là bạn của  em…”  
    Liên đứng dậy bảo phải đi, không thì ế vé. Vả lại hôm nay cô cháu hẹn trả tiền vay.
   “Em còn có tiền cho người ta vay?” Tôi ngạc nhiên.
   “Dạ, tiền dành mua hạt cho chó. Cô cháu này sống chân tình. Nhà ở xứ Quảng. Chồng chán cảnh nghèo, biệt xứ, bỏ lại hai đứa con. Nó mang theo mẹ già và hai con nhỏ vào Sài Gòn... Ngày con ốm phải vào viện, những đồng tiền dành dụm cuối cùng đành moi ra. Đồng hương xúm lại san sẻ. Con ra viện, nó chuyển sang đi bán vé dạo. Cháu còn khỏe nên cả ngày cứ thoăn thoắt. Áp lực tiền nhà trọ, tiền con ăn học, tiền nuôi bốn mẹ con bà cháu. Điều cảm động là khó khăn đến mấy, cháu vẫn chọn lối sống nhân từ. Để có tiền mua vé, cháu phải đi bán máu để thêm vốn liếng...”
    Tôi lặng người đi.
    Đã hơn mười giờ, Liên bảo: “Vậy là mình gặp lại rồi, khép lại cảnh tìm nhau trong trống vắng cô đơn. Mừng hơn, mình vẫn nghĩ về nhau giữa mưu sinh bộn bề. Gặp lại anh, em nhớ tới chị đại đội trưởng. Chị ấy theo một anh bộ đội về Quảng Trị sau giải phóng. Chị viết thư cho em, nói rằng: về quê chồng, ngắm dòng Bến Hải trong xanh, vậy mà nó chia cắt đất nước hơn hai chục năm trời. Chị khóc! Đọc thư chị, em lặng đi. Giờ đây con đường mình đã qua thuộc về xưa cũ. Chắp nối những con đường để mình đến bên nhau. Tiếc là ta già rồi. Hôm nay tạm dừng ở đây. Thu xếp xong, em sẽ đến để tạ ơn ân nhân năm xưa...”
    Liên cúi thấp đầu chào tôi rồi bước ra đường. Tôi nài nỉ:
   “Anh muốn em ở lại, không thể thì đ vé đây, anh giúp. Em nghỉ một ngày nhé, coi đây là lễ tết. Anh sẽ gọi tắc xi. Số điện thoại đây. Mình nên sớm gặp lại, em à.”
    Liên lóng ngóng khi tôi gỡ tập vé trên tay. Tôi ấn vào tay Liên ít tiền làm bà ấy thêm lúng túng…
   “Em à, xe sắp đến.”
    Bà ấy lên xe rồi, tôi bồi hồi nhớ lại bao nhiêu năm lặn lội khắp Sài Gòn tìm người mình từng chập chờn trong giấc ngủ. Nửa thế kỷ tôi ở vậy, bởi khó mà quên người từng nắm tay hẹn chờ nhau bên bờ sông Tắc. Mỗi khi nghe câu hát: “Rồi từ đó chốn phong ba em làm dâu nhà người...” lòng tôi xốn xang.
    Ba ngày sau, bà Liên mời tôi sang nhà. Tôi chải chuốt trước gương. Xe len qua đường Lê Văn Việt đông như côn trùng. Hơn nửa giờ sau thì đến nhà.
    Một căn nhà nhỏ gọn gàng. Cổng ngõ làm khá chắc chắn. Phía sau nhà, bên mảnh vườn nhỏ, khu quây đàn chó được làm thoáng mát.
    Liên chuẩn bị tươm tất. Trên bàn nước đặt một lọ hoa, đĩa trái cây, bánh trái… Chúng tôi nói về thời bom đạn, chuyện nhân tình thế thái, về cuộc sống tuổi già. Bà ấy dịu dàng như thời thiếu nữ, như một bài thơ về tình yêu. Tôi tâm tình… là hai người nên sống chung nhà những tháng năm còn lại. Nhưng nghe bà ấy nói, tôi kín đáo thở dài:
   “Ôi, anh nói gì kỳ vậy! Có vội vàng quá không? Hai ta đều già rồi mà. Em mừng khi cuộc chiến khốc liệt qua lâu rồi; hai miền hòa giải an yên, cùng tiến vào kỷ nguyên mới. Bao năm biền biệt mà chúng mình vẫn hướng về nhau...”
    Tôi xúc động. Bao nhiêu năm, mái tóc em bạc rồi, thân hình đã thay đổi, nhưng trái tim chung thủy, tình yêu con người của em thì không hề đổi thay…
 

   6/2025. T.T.L
   Minh họa của báo Nhân dân điện tử

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây