Trong quá trình thực hiện tập sách Danh tướng triều Trần trong ba lần đại thắng Nguyên - Mông kỷ niệm 800 năm triều Trần (1226 - 2026), chúng tôi đã sử dụng một số thư tịch cổ, chiếu - chế của nhà Nguyên qua các bản dịch, văn bản thơ văn của các vị tướng từ nhiều nguồn tư liệu. Đối với Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải, các thư tịch, thơ văn ông để lại tương đối phong phú, được người đời sau sưu tầm, biên soạn và dịch tương đối nhiều. Tuy nhiên, trong số các bài thơ sau của ông phần nhiều mới chỉ phiên âm và dịch nghĩa, phần dịch thơ nhiều bài còn bỏ ngỏ. Học theo cách làm của tiền nhân, tác giả sách này mạnh dạn dịch thơ ông ra thể lục bát. Rất mong được đóng góp ý kiến, phê bình!
Nhà văn Phùng Văn Khai
Đề Bạch Mã từ
題白馬祠
昔聞人道大王靈,
今日方知鬼帖驚。
火聚三區焚不及,
風塵一陣扇難傾。
指揮魍魎三千眾,
彈壓諸魔百萬兵。
願伏餘威推北敵,
頓令寰宇宴然清。
Phiên âm:
Đề Bạch Mã từ
Tích văn nhân đạo đại vương linh,
Kim nhật phương tri quỷ thiếp kinh.
Hoả tụ tam khu phần bất cập,
Phong trần nhất trận phiến nan khuynh.
Chỉ huy võng lượng tam thiên chúng,
Đàn áp chư ma bách vạn binh.
Nguyện phục dư uy thôi Bắc địch,
Đốn linh hoàn vũ yến nhiên thanh.
Dịch nghĩa:
Đề ở đền Bạch Mã
Xưa kia nghe người ta nói đến oai linh của đại vương,
Ngày nay mới biết là ma quỷ phải khiếp kinh.
Ba khu lửa cháy, không cháy được tới đền,
Một trận gió bụi lay chuyển cũng không nghiêng đổ.
Chỉ huy ba ngàn quân yêu quái,
Trấn áp trăm vạn quân ma quỷ.
Xin nhờ dư oai của thần để phá tan giặc Bắc,
Trong chốc lát làm cho đất nước thanh bình.
Dịch thơ:
Đề ở Đền Bạch Mã
Đại vương linh hiển từ xưa
Quỷ ma kinh sợ gió mưa tháng ngày
Ba phương lửa chẳng bén rày
Cuồng phong càng vững đền này thiên thu.
Ba ngàn yêu quái thâm u
Trấn quân ma quỷ cầm tù vạn binh
Kính xin thần trổ oai linh
Phá tan giặc Bắc thái bình nước non.
Phùng Văn Khai (dịch)
Đề dã thự
題野墅
野墅初開景物新,
芬菲桃李四時春。
一聲牛笛青樓月,
幾片農蓑碧隴雲。
路挽羊腸通紫陌,
溪分燕尾斷紅塵。
鬼神暗地偷相語,
一段風光可隱君。
Phiên âm:
Đề dã thự
Dã thự sơ khai cảnh vật tân,
Phân phi đào lý tứ thời xuân.
Nhất thanh ngưu địch thanh lâu nguyệt,
Kỷ phiến nông thoa bích lũng vân.
Lộ vãn dương trường thông tử mạch,
Khê phân yến vĩ đoạn hồng trần.
Quỷ thần ám địa thâu tương ngữ,
Nhất đoạn phong quang khả ẩn quân.
Dịch nghĩa:
Đề ở ngôi nhà mới dựng
Ngôi nhà mới dựng ở chốn quê có cảnh vật thật mới mẻ,
Đào mận tươi tốt như bốn mùa đều xuân.
Một tiếng sáo chăn trâu dưới trăng trên lầu cao,
Mấy bóng áo tơi của nhà nông dưới mây màu ngọc biếc trên ruộng.
Con đường kéo dài như ruột dê nối liền với đường tím (tức đường lớn lên kinh đô),
Con suối tách đôi như đuôi én ngăn cách bụi hồng.
Quỷ và thần thầm lén lút nói với nhau rằng:
Đây đúng là một nơi phong quang để ngươi có thể trú ẩn.
Dịch thơ:
Đề ở ngôi nhà mới dựng
Ngôi nhà quê mới dựng xong
Đào tươi, mận tốt, hơi xuân bốn mùa
Lưng trâu tiếng sáo ngân nga
Bóng nông phu dưới mây sà thung xanh.
Con đường dẫn tới đô thành
Suối reo róc rách chỉ mành én bay
Quỷ thần to nhỏ đâu đây
Một ngôi quý địa cao dày quý nhân.
Phùng Văn Khai (dịch)
Lưu Gia độ
劉家渡
劉家渡口樹參天,
扈從東行昔泊船。
舊塔江亭秋水上,
荒祠古塚石麟前。
太平圖誌幾千里,
李代山河二百年。
詩客重來頭髮白,
梅花如雪照晴川。
Phiên âm:
Lưu Gia độ
Lưu Gia độ khẩu thụ tham thiên,
Hỗ tụng đông hành tích bạc thuyền.
Cựu tháp giang đình thu thủy thượng,
Hoang từ cổ trủng thạch lân tiền.
Thái bình đồ chí kỷ thiên lý,
Lý đại sơn hà nhị bách niên.
Thi khách trùng lai đầu phát bạch,
Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên.
Dịch nghĩa:
Bến đò Lưu Gia
Bến đò Lưu Gia cây cao ngất trời,
Xưa phò giá sang đông từng đỗ thuyền nơi đây.
Tháp cũ, đình xưa dựng trên sông thu,
Đền hoang, mộ cổ trước mấy con lân đá.
Bản đồ thái bình ghi mấy ngàn dặm,
Non sông nhà Lý trải hai trăm năm.
Khách thơ nay trở lại đầu đã bạc,
Hoa mai như tuyết chiếu xuống sông trong.
Dịch thơ:
Bến đò Lưu Gia
Lưu Gia cây ngất mây trời
Vết thuyền in dấu vua tôi xuống thuyền
Tháp xưa, đình cũ vẹn nguyên
Dăm con lân đá cổng đền trơ trơ.
Dư đồ ngàn dặm thiên thu
Hai trăm năm mấy tâm tư Lý triều
Khách thơ nay đã bạc đầu
Hoa mai như tuyết một màu sông trong.
Phùng Văn Khai (dịch)
Phúc Hưng viên
福興園
福興一曲水回環,
中有平園數畝寬。
梅塢雪消珠蓓蕾,
竹亭雲捲碧琅玕。
暑來邀客澆茶碗,
雨過呼童理藥攔。
南望狼煙無復起,
頹然一榻夢偏安。
Phiên âm:
Phúc Hưng viên
Phúc Hưng nhất khúc thủy hồi hoàn,
Trung hữu bình viên sổ mẫu khoan.
Mai ổ tuyết tiêu châu bội lội,
Trúc đình vân quyển bích lang can.
Thử lai yêu khách kiêu trà uyển,
Vũ quá hô đồng lý dược lan.
Nam vọng lang yên vô phục khởi,
Đồi nhiên nhất tháp mộng thiên an.
Dịch nghĩa:
Vườn Phúc Hưng
Một dòng nước chảy bao quanh vườn Phúc Hưng,
Ở giữa là một khu vườn bằng phẳng rộng đến vài mẫu,
Bờ mai, khi tuyết tan, nụ lóng lánh hạt châu,
Đình trúc, lúc mây cuốn, lá xanh cành biếc.
Nắng lên, mời khách, pha chén trà,
Mưa tạnh, gọi gia đồng sửa lại giàn thuốc,
Trông về phía Nam không còn khói lang bốc lên nữa,
Thảnh thơi trên giường, yên tâm với giấc mơ riêng.
Dịch thơ:
Vườn Phúc Hưng
Phúc Hưng dòng nước bao quanh
Vườn vuông dăm mẫu cây xanh mấy tầng
Mai khoe nụ tuyết tan dần
Trúc đình mây cuốn vẻ xuân thêm ngời.
Nắng lên mời khách lại chơi
Thưởng trà, mưa tạnh gọi người gia nhân.
Phương Nam vắng khói lang thần
Thảnh thơi giấc mộng Phúc Hưng tháng ngày.
Phùng Văn Khai (dịch)
Tặng Bắc sứ Sài Trang Khanh[1],
Lý Chấn Văn đẳng
贈北使柴莊卿,李振文等
一封鳳詔下天庭,
咫尺皇華萬里行。
北闕衣冠爭祖道,
南州草木盡知名。
口啣威福君褒貶,
身佩安危國重輕。
敢祝四賢均泛愛,
好為卵翼越蒼生。
Phiên âm:
Tặng Bắc sứ Sài Trang Khanh,
Lý Chấn Văn đẳng
Nhất phong phượng chiếu hạ thiên đình,
Chỉ xích hoàng hoa vạn lý hành.
Bắc khuyết y quan tranh tổ đạo,
Nam châu thảo mộc tận tri danh.
Khẩu hàm uy phúc quân bao biếm,
Thân bội an nguy quốc trọng khinh.
Cảm chúc tứ hiền quân phiếm ái,
Hảo vi noãn dực Việt thương sinh.
Dịch nghĩa:
Thơ tặng Bắc sứ Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn
Một phong chiếu phượng từ sân trời ban xuống,
Nhà vua trao trách nhiệm sứ giả cho ông đi ngoài vạn dặm.
Các bậc áo mũ ở Bắc triều tranh nhau tiễn người lên đường,
Cây cỏ ở Nam giao đều biết danh tiếng ông.
Nói lời oai phúc, ông thay nhà vua mà khen chê,
Thân mang sự an nguy quan hệ đến việc trọng khinh của nhà nước.
Dám mong bốn vị sứ giả tài giỏi có lòng yêu thương công bằng rộng lớn,
Hãy che chở cho thương sinh nước Việt.
Dịch thơ:
Tặng Bắc sứ Sài Trang Khanh
Triều đình ban xuống chiếu thư
Sài Khanh vạn dặm tâm tư mây trời
Trăm quan áo mũ tiễn người
Phương Nam hoa cỏ rạng ngời đón ông.
Thay vua nặng nhẹ việc công
An nguy bách tính muôn phần khó thay
Mong sao ân lượng sâu dày
Thương sinh linh Việt tháng ngày thảo thơm.
Phùng Văn Khai (dịch)


Nhà văn Phùng Văn Khai và một số Nhà văn trong Tọa đàm, giới thiệu tập sách.
Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh
送北使柴莊卿
送君歸去獨彷徨,
馬首駸駸指帝鄉。
南北心旌懸反旆,
主賓道味泛離觴。
一談笑頃嗟分袂,
共唱酬間惜對床。
未審何時重睹面,
慇懃握手敘暄涼。
Phiên âm:
Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh
Tống quân quy khứ độc bàng hoàng,
Mã thủ xâm xâm chỉ đế hương.
Nam Bắc tâm tinh huyền phản bái,
Chủ tân đạo vị phiếm ly trường.
Nhất đàm tiếu khoảnh, ta phân duệ,
Cộng xướng thù gian, tích đối sàng.
Vị thẩm hà thời trùng đổ diện,
Ân cần ác thủ tự huyên lương.
Dịch nghĩa:
Thơ tiễn Bắc sứ Sài Trang Khanh
Tiễn ông trở về riêng những bâng khuâng,
Ngựa xăm xăm nhằm thẳng nẻo quê hương nhà vua.
Nỗi lòng kẻ Nam người Bắc vẫn lưu luyến trên ngọn cờ về,
Tình khách chủ dạt dào trong chén rượu ly biệt.
Vừa nói cười đó mà thoắt đã ngậm ngùi chia tay,
Cùng nhau xướng họa tiếc những lúc hai giường đối diện.
Chưa biết bao giờ lại được gặp mặt,
Để cầm tay ân cần tỏ nỗi hàn huyên.
Dịch thơ:
Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh
Tiễn ông lòng những bâng khuâng
Ngựa đi thăm thẳm mông lung cõi trời
Kẻ Nam, người Bắc xôi
Nâng ly tiễn biệt ai người nhớ không.
Thoắt gần sớm đã như sương
Còn đây lời dặn bên giường hai ta
Người đi, biết đến bao giờ
Đến bao giờ, đến bao giờ hàn huyên.
Phùng Văn Khai (dịch)
Xuân nhật hữu cảm kỳ 1
春日有感其一
雨白肥梅細若絲,
閉門兀兀坐書癡。
二分春色閒蹉過,
五十衰翁已自知。
故國心還飛鳥倦,
恩波海闊縱鱗遲。
平生膽氣輪囷在,
醉倒東風賦一詩。
Phiên âm:
Xuân nhật hữu cảm kỳ 1
Vũ bạch phì mai tế nhược ti,
Bế môn ngột ngột tọa thư si.
Nhị phần xuân sắc nhàn sa quá,
Ngũ thập suy ông dĩ tự tri.
Cố quốc tâm hoàn phi điểu quyện,
Ân ba hải khoát túng lân trì.
Bình sinh đảm khí luân khuân tại,
Túy đảo đông phong phú nhất thi.
Dịch nghĩa:
Ngày xuân cảm nhận 1
Mưa muốn làm tươi tốt cây mai nên gội ướt cành tơ,
Đóng cửa, ngồi sừng sững một con người nghiện sách.
Nửa phần sắc xuân đã hờ hững trôi đi,
Năm mươi tuổi tự biết mình suy yếu.
Tấm lòng cố hương mỏi mệt theo cánh chim bay,
Ơn vua như biển rộng, nên còn chần chừ như con cá giương vây.
Riêng chí dũng cảm lúc bình sinh vẫn còn nguyên đó,
Say ngả nghiêng trước gió Đông, ngâm một bài thơ.
Dịch thơ:
Ngày xuân cảm nhận 1
Mưa xuân gội ướt cành tơ
Thư phòng ấm vững ông đồ thảnh thơi
Cội xuân hờ hững bên trời
Ngũ tri thiên mệnh hoa lười mong manh.
Tấc lòng theo cánh chim xanh
Ơn vua, lộc nước cội cành chứa chan
Thinh không hào khí mang mang
Thơ ngâm say gió đại ngàn ngả nghiêng.
Phùng Văn Khai (dịch)
Xuân nhật hữu cảm kỳ 2
春日有感其二
月色微微夜向闌,
東風特地起春寒。
翻空柳絮黏高閣,
覺夢湘筠撲畫欄。
被物潤從天外雨,
驚心紅褪昔時顏。
袪愁賴有三杯酒,
撫劍悠悠憶故山。
Phiên âm:
Xuân nhật hữu cảm kỳ 2
Nguyệt sắc vi vi dạ hướng lan,
Đông phong đặc địa khởi xuân hàn.
Phiên không liễu nhứ niêm cao các,
Giác mộng Tương quân phác họa lan.
Bị vật nhuận tòng thiên ngoại vũ,
Kinh tâm hồng thoái tích thì nhan.
Khư sầu lại hữu tam bôi tửu,
Phủ kiếm du du ức cố san.
Dịch nghĩa:
Mùa xuân cảm nhận 2
Bóng trăng mờ mờ, đêm đã gần tàn,
Gió Đông đột ngột khơi dậy cái rét mùa xuân.
Bay múa trên không, tơ liễu dính vào gác cao,
Tỉnh mộng, cành trúc đập vào lan can chạm vẽ.
Cảnh vật thêm tươi nhờ trận mưa ngoài trời,
Lòng kinh sợ sắc mặt hồng hào thời xưa đã phai,
Tiêu sầu nhờ có vài chén rượu,
Vỗ kiếm, vời vợi nhớ non xưa.
Dịch thơ:
Ngày xuân cảm nhận 2
Bóng trăng đêm đã cạn dần
Gió xuân khơi tiết xuân phần lên cao
Nhành tơ liễu múa xôn xao
Mộng tan, cành trúc bơi vào tầng xanh.
Ngoài trời mưa bụi mong manh
Tía hồng năm tháng đoạn đành phôi phai
Tiêu sầu chén rượu cùng ai
Hai tay nâng kiếm ca vài khúc ngâm.
Phùng Văn Khai (dịch)
[1] Sài Trang Khanh: tức Sài Thung 柴椿, sứ thần nhà Nguyên trong lần được phái sang nhà Trần nước ta nhiều lần từ năm 1278 đến 1281. Bài thơ này làm khi Sài Thung sang lần đầu năm 1278.