Có một Hải Phòng luôn nghẹn ngào thương nhớ trong thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh

Thứ năm - 25/12/2025 17:42
 

Nguyễn Thái Hưng

 

                                                                                                    (Nhớ thi sĩ Nguyễn Thị Hoài Thanh)                            

       Đọc tập thơ TÔI Ở HẢI PHÒNG vào những ngày Tháng 5 phượng về rực đỏ trời thành phố, mới thấy hết tình yêu và nỗi nhớ sâu đậm về một Hải Phòng dấu yêu luôn nghẹn ngào nhớ mong khắc khoải trong thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh.

Từ con thuyền về bến với “lưa thưa lửa nhám” mỗi chiều, một sông Cấm “như người bạn mới quen” mà có “nửa đời tôi ở đó” với “Buồm ai say sóng- la đà trên sông” đến cầu Treo qua sông Lấp, chuyến đò sông Tam Bạc, một Lán Mông Giăng “đường thơm nắng ủ”, một cầu Xi Măng “như đồ chơi trẻ nhỏ” cùng với vườn xanh Hoa Động trăng thề  “…hoa ô môi tím ngát… say đắm cả trời quê”, một “xóm nhỏ Thùy Giang- sớm chiều nghe sóng vỗ”, một “chú bò đi vào thành phố” , một vệt “nắng trên cành chưa nỡ rời cây”…Tất cả hòa xen dưới nền một trời hoa đỏ … đã tạo nên một Hải Phòng luôn đi về trong nỗi nhớ da diết của nhà thơ.

Hải Phòng thân yêu luôn được dành những tình cảm nâng niu cao quý nhất, thường trực ghi dấu trong tim:
 

“…Thành phố này mỗi bận đi xa tôi cất kỹ
Trong trái tim ở chỗ phập phồng”
“…Thành phố này mỗi bận đi xa tôi cất kỹ
Trong trái tim ở chỗ nghẹn ngào
Có lẽ nào tôi một lần ích kỷ
…Ngày tôi về hoa đỏ có chờ mong…”

“Quê cũ” ấy luôn gắn liền ký ức sống động bồi hồi; như còn đây -tiếng gọi “đò ơi…” qua sông Tam Bạc  vọng về quá khứ xa xăm… Một vệt nắng vắt qua cầu Treo, một chiều đông sậm sà mưa bay chợ Sắt vẫn hiển hiện qua từng con chữ xúc động lòng người về thưở thiểu thời tóc xanh áo trắng:
 

“…Tôi lại qua cầu treo Tam Bạc lắt lay
Như nằm võng mẹ ru ngày nhỏ
Con đò xưa còn chờ ai đó
Đợi tôi sang chợ Sắt với nào
Dòng nước lợ có mang hình cô gái
Tan trường về nắng gió lao xao”

Một lối nói thật mới theo phản đề mà không kém phần rung động thiết tha về thời trăng tròn ngây thơ đầy đam mê mộng ước:
 

“Tôi lại qua cầu Lạc Long như một tên ăn trộm
Rình hoa mận trắng ngủ chân cầu…”-

Không chỉ tên đất, tên người là niềm thương nỗi nhớ…mà mỗi chùm hoa Phượng đỏ như lửa cháy không nguôi, là nơi neo đậu tình cảm yêu thương thành phố quê hương của Nhà thơ. Hoa Phượng– biểu tượng của Hải Phòng -đất Cảng luôn đi về day dứt trong thơ Hoài Thanh. Điều đó được gắn kết xen hòa ngay cả lúc tâm tình với người mẹ thân yêu đã khuất:
 

“Mẹ ơi lại mùa Phượng vĩ
Con về thềm vắng hoa rơi
Hoa rơi như rơi trong mộng
Con về mẹ đã đi rồi

Bây giờ lại mùa phượng vĩ…” nhưng hình bóng mẹ chỉ còn trong tâm tưởng.

Thành phố ấy luôn là tâm điểm của nỗi lòng thổn thức, khát khao, thường trực trong tim như hình với bóng, ngay cả khi giữa cõi đời có lúc chị đã “chợt nhớ chợt quên” (mà có quên được đâu!):
 

“…Thế là tôi chợt nhớ chợt quên
Hôm xưa bên dòng sông Cấm…
…Những tốp thợ áo xanh về xóm thợ…
Tiếng còi tàu làm ngơ ngác hàng cây…”

Dòng sông xưa với cánh buồm trời lãng quên trong huyền thoại, càng thiết tha, bởi chị đã gắn kết:
 

“Ôi dòng sông, dòng sông
Nửa đời tôi ở đó
Những cánh buồm tắm gió
Đi về như trong mơ”

Ở đó, hồn thơ thi sỹ luôn được dưỡng nuôi, hòa quện thiên nhiên của màu trắng mây trời, màu xanh sóng nước:
 

“Mỗi ngày đến bên sông
Một câu thơ tôi viết
Dưới trời xanh da diết
Câu thơ thành mênh mông”

Nơi ấy có xóm chài bé nhỏ làm sao có thể nguôi ngoai:
 

“Một tiếng gà trưa một giọt sao khuya
Một xóm chài cửa sông chập chờn cát trắng”

Nhớ con sông mùa nước lợ, được tác giả truyền thổi linh hồn làm người bạn “mới quen”, để mà tâm tình, sẻ chia, gửi gắm…
 

“Sông Cấm ơi, sông như người bạn mới quen…
Thân thiết thế mà sao không hiểu được
Chiều tan ca tôi đi bên dòng nước
…Sông với tôi với bóng là ba
Bóng tôi nghiêng với bao la
Sông mang về biển.
Bóng tôi còn nguyên ven không sông”

“Tôi”, “Sông” và “Bóng tôi” trên dòng sông ấy đã đã thành mối kết giao, hòa hợp tri kỷ đồng hành.“Sông” mang “Bóng” tôi đi cũng là chở những ước mơ, khát khao của “Tôi” về một tương lai, biển cả, chân trời…thì thật độc đáo và tài tình, đó cũng là nét đặc trưng phong cách sáng tạo, lối nói mới lạ trong thơ chị Hoài Thanh.

tho 1tho 2

 

Và đây bức tranh thủy mặc về nơi ấy- quê mẹ thân yêu:
 
“Tôi nhìn sang bên kia
Một vùng xanh bờ bãi
Như một bức tranh xưa
Ai còn quên để lại.
 
Ở đó có mái nhà của mẹ, nơi chôn rau, cắt rốn của con lúc mới chào đời:
 
Mẹ sinh con vào lúc đã vợi chiều
…Cái giờ chim chưa về tổ
Nắng trên cành chưa nỡ rời cây
Tiếng con khóc chào đời vẫn quanh quẩn đâu đây…
 
Ngay cả phút giây hồi tưởng về mẹ, thì hình ảnh quê hương vẫn xen hòa điểm danh như một phần tâm tưởng:
 
Trước ngày đi xa mẹ dặn
Các con đưa mẹ về quê
Ý hẳn nhớ thời thiếu nữ
“Vườn xanh mấy độ trăng thề”
 
Hay:
“Nét chữ bồn chồn sóng chiều sông Cấm
Hoa Động quê ta mùa này vui lắm
Gạch trong lò lên da thịt hồng tươi
Cô gái đội vôi…đội một ít nắng trời…”
 
Một Hải Phòng dấu yêu đau đáu trong niềm nhớ:
 
“Tôi ở Hải Phòng
Với cầu Xi măng như đồ chơi trẻ nhỏ”
...Trong lòng những bông hoa dại ven đê
Dây lạc tiên tran lan như nỗi nhớ
Trong nắng đồi Kỳ Sơn mùa hạ
Trong hương hoa Hạ Lũng vườn trưa
Trong tiếng xe bò lọc cọc ngoại ô
Trong con nước triều lên sông Lấp.
Và:
“Chiều hoa ô môi bên sông tím ngát
Ơi cái màu say đắm cả trời quê”
Nhưng lại thầm tiếc nuối:
 
“Con đường ấy có còn không
Hoa tanh tách kể tím hồng đến nay”.

Mãi còn đấy chị ơi! Dù cho nhân gian vần xoay biển đổi, nhưng một thời ngây thơ, trắng trong như lúa thì con gái, vẫn nồng nàn hương cỏ ven đê…

Xa rồi- nơi ấy - Hải Phòng khi giờ đây đã thành “quê cũ” nhà thơ bất ngờ gặp một dáng hình Phượng vĩ mà mừng vui tâm tình như gặp bạn cùng quê:
 

“Đứng đó làm chi Phượng Vĩ ơi
Tuổi cây nay đã mấy mươi rồi
Đồng hương mình với ta bầu bạn
Quê cũ bây giờ hoa đỏ rơi…”

Một Hải Phòng phía trời xa thăm thẳm… vẫn canh cánh niềm mong khắc khoải có lần về lại cố hương:
 

“Có lẽ nào một lần tôi ích kỷ
Ngày trở về hoa đỏ có chờ mong”

Chờ đấy! Đất Cảng vẫn mong chờ chị nhiều lắm qua sắc Phượng đỏ trời tháng 5, dù vẫn biết, do “Dòng Tam Bạc thiếu chân trời” nên sẽ “có người Nam- Bắc ngược xuôi tìm dòng”.

Nỗi nhớ ấy, luôn đau đáu trong tim như lời hứa đầy trách nhiệm, nặng tình, nặng nghĩa với quê hương khi Nhà thơ nói với con:

“Bóng mẹ vào ra trong bóng lá xanh tươi
Có những món nợ nần mẹ phải trả bằng đời
Một bài thơ về cầu Xi Măng chiếc cầu tuổi thơ đưa mẹ qua con sông nhỏ”.
 
Đấy cũng chính là nỗi niềm về nguồn cội, về thành phố ấy:
“Nhớ cội nguồn tha thiết
Ôm chiếc là lìa rừng
Như lòng mẹ rưng rưng
Ngàn đòi ru tiếng sóng”

Sinh ra, lớn lên, niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và cay đắng như chị đã “…ngồi bấm đốt ngón tay” nhưng “bấm đi bấm lại vẫn hai nẻo buồn” (thơ Trần Thị Bảo Thư); hay “Không có gia tài để lại cho con/

Chỉ có nước mắt rơi ngày vui chưa trọn/Và thơ cười đi suốt những đêm đau”, nhưng miền quê ấy với dòng Cấm thân thương, lấp lánh làm duyên như người bạn gái, mây mảng xanh màu áo thợ tan ca, hồi tàu hú ngoài ga hay quầng trời đêm đêm sáng đèn bến Cảng vẫn theo cùng tỏa sáng trong tâm trí Nhà thơ.

Và ngay cả khi “cả trời xanh ta cũng phải giã từ” bởi “đời người tựa giấc chiêm bao” thì vẫn mãi đắm say một Hoài Thanh toàn tâm toàn ý, luôn da diết nghẹn ngào về thành phố quê hương:
 

“Dù mai sau tôi sẽ chẳng còn
Thì hoa Phượng khắp nẻo đường
vẫn cháy lên mong ngóng
Thành phố hôm nay cất mình gió lộng
Tôi xin làm gió
Đời đời ôm thành phố hát ca”.
 

 

NTH-T5/2018

Ghi chú: bài viết năm trước khi nhà thơ qua đời.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây