“Đất mẹ đã tha thứ cho chúng ta”

Thứ hai - 02/08/2021 09:43
  Lady Borton.
Cao Ngọc Thắng gt
Nhà văn Mỹ: Lady Borton
Nhà văn Mỹ: Lady Borton

      Chuyện Út Lý kể bắt đầu từ một địa danh rất xa lạ với tôi. Đó là một làng quê ở giữa vùng kênh rạch Đồng bằng sông Cửu Long, “cách Sài Gòn bảy mươi dặm về phía tây nam – xã Bàn Long, một xã có tám nghìn dân”. Út Lý có mặt ở đó từ đầu năm 1987. Chuyện Út kể lúc này là năm 1989. Sau nhiều năm qua lại, Út cảm nhận nơi đây “màu xanh tươi đã trở lại, các đám lá dày đặc làm mờ tối ánh trăng. Không khí thơm mùi hương của hoa đại. Một con chim cất tiếng gáy cúc cù cu, hai con ếch kêu ồm ộp trong khi bốn chung quanh ve sầu râm ran không nghỉ.”

      Dường như, với Út Lý, Bàn Long rất thân thuộc, rất gắn bó trong suốt bảy năm liền. Bà “chọn nơi đây là làng tiêu biểu cho nhiều làng ở Đồng bằng Cửu Long”. Út Lý kể tiếp, trong cái đêm trở lại Bàn Long năm 1989, với ngữ điệu lộ rõ xúc động: “Tôi bước tiếp trong bóng đêm. Tay cầm đôi dép lê, các ngón chân bấm xuống đất làm cho tôi cảm nhận được con đường quánh bùn. Rồi khi chúng tôi đến một chỗ quang đãng tràn ngập ánh trăng, tôi dừng lại. Cạnh đó, hoa đại vàng và trắng vươn lên như những loa kèn, hương thơm thoang thoảng của hoa đã choàng lên tất cả”. Rồi, như thể từ sâu thẳm đáy lòng dâng lên cái điều đã nung nấu thành dung nham trào ra miệng núi lửa, Út Lý hạ giọng: “Thật là kỳ diệu, tôi nghĩ: Đất mẹ đã tha thứ cho chúng ta.

     Tôi lắng nghe chuyện Út Lý say sưa, không giấu diếm sự thán phục một người phụ nữ giàu lòng nhân ái, sẵn sàng xông pha vào nơi trận chiến ác liệt để ghi chép kỹ càng từng chi tiết, chuẩn bị tư liệu cho những trang viết ngồn ngộn sự thật về cuộc chiến diễn ra ở Việt Nam vô cùng ác liệt…

***

     Thực ra, tôi đang đọc cuốn Tiếp sau nỗi buồn của Lady Borton (Nxb.Thế giới; 1997; bản dịch từ nguyên bản tiếng Anh After Sorrow của Hà Quang Hiến; những đoạn in nghiêng ở phần trên đều trích từ cuốn sách này). Cái phụ đề “Một người Mỹ giữa làng quê Việt Nam” khiến tôi có cảm tình ngay trước khi lật từng trang sách. Đọc đấy, nhưng cũng là nghe đấy. Tôi lắng nghe giọng kể thủ thỉ, ngân nga da diết, với tiết tấu có nhịp điệu dịu dàng, có khi dồn dập, cuốn hút qua từng dòng chữ trên mỗi trang in. Ở đó toát ra hơi thở nồng ấm, nhân hậu và sự hiểu biết sâu sắc lịch sử, văn hóa của một người phụ nữ Mỹ về những miền quê, về thân phận người nông dân Việt Nam    mà tác giả từng trải nghiệm, từng suy tư. Nếu ở đâu đó, lúc nào đó có xen vào cái gì đó cay đắng, vì nguyên cớ riêng tư nào đó, thì cũng không làm giảm mất vị ngọt ngào trong lời kể của một người không cùng ngôn ngữ từ một đất nước xa nửa vòng trái đất, nhưng có tấm lòng đồng điệu đến vậy.

     Điều có ý nghĩa nhất là tôi đã học được cách lắng nghe. Những nông dân Việt Lady Borton, một thành viên của tổ chức Quây-cơ (AFSC - tổ chức đã nhận Giải thưởng Hòa bình Nobel năm 1947 về việc làm “của những người vô danh cho những người vô danh” trong chiến tranh Thế giới II), là nhà văn Mỹ duy nhất có mặt ở cả hai miền Bắc và Nam trong thời chiến tranh. Bà trở thành người bạn thân thiết của nhiều nông dân Việt Nam. Lady Borton tâm sự bằng giọng ấm áp, chân thành: “Nam tôi có dịp làm quen đã làm thay đổi cuộc đời tôi.”

    Một trong những thay đổi của bà là, ngoài cái tên cha sinh mẹ đẻ đặt cho, Lady Borton có thêm cái tên rất Việt Nam - Út Lý. Cách đặt tên là “Út”, Lady học được từ chính những người nông dân trong các chuyến thâm nhập thực tế: “Thời xưa, nhất là ở Nam Việt Nam, nông dân không bao giờ để lộ tên của đứa trẻ vì nó có thể gọi hồn một người đã chết trùng tên về. Ngày nay cha mẹ vẫn có xu hướng gọi con cái theo thứ tự lớn bé hơn là liều lĩnh đụng chạm đến những linh hồn xa lạ. Cha mẹ còn làm cho ma quỉ bị lẫn lộn bằng cách che giấu con đầu lòng qua việc gọi con cả là con “thứ” (hai). Tiếp đó những con đẻ sau được gọi theo thứ tự cho đến con “út”. Do tôi là đứa con ít tuổi nhất trong gia đình nên bây giờ tôi có một tên mới.” Điều người Việt Nam coi là thông thường, thì trong suy nghĩ và trên trang sách của Lady, cái tên Út Lý trở nên trân quý. Với tên Út Lý, (phải chăng “Lý” từ “Lady” bỏ hai âm giữa “a” và “d” thêm dấu sắc mà thành?, tôi mạn phép nghĩ vậy), Lady Borton thực sự thoải mái sống giữa tình thương yêu, đùm bọc của những người nông dân Đồng bằng sông Cửu Long. Đó là động lực để Lady mô tả chân tơ kẽ tóc về những mảnh đất, cuộc sống lao động và sinh hoạt, những thân phận từng con người mà bà đã đến, đã tiếp xúc và cảm nhận. Sự biểu cảm của bà tạo nên những vỉa trầm tích lắng đọng, se lại cứng như thép ở bên trong và lớp bên trên không ngừng “phong hoá” để thích nghi với sự biến thiên của cuộc sống mà vượt lên một cách hiên ngang ở người nông dân Việt Nam.

Và, khi gấp trang cuối cuốn sách, tôi hiểu tại sao Lady Borton lại chọn cụm từ “Tiếp sau nỗi buồn” để đặt tên cho cuốn sách dày 300 trang khổ 15x23 cm, gồm 3 tập và 25 chương.

                                                                                             ***

      Lady Borton chọn ba địa danh tiêu biểu để tạo nên cấu trúc độc đáo cho cuốn sách Tiếp sau nỗi buồn: Xã Bàn Long - Đồng bằng sông Cửu Long (Tập I), Làng Khánh Phú – Đồng bằng sông Hồng (Tập II), và Hà Nội (Tập III). Tuy chọn ba địa danh cụ thể, nhưng sự biểu tả của Lady Borton mở rộng ra toàn vùng văn hóa mà địa danh đó là kết quả của sự lan tỏa, giao thoa và kết tụ. Lady cảm thụ sự kết tụ ấy. Bà mang theo mình trên hành trình kiếm tìm cái chân, cái thiện, cái mỹ ở những điều giản dị trong lối sống, nếp sống, hình thành nên tính cách vùng-miền, mang bản sắc văn hóa vừa nền nã vừa triết lý trong dân gian của cộng đồng người Việt Nam. Bà chọn lựa trong kho tàng thơ ca Việt Nam, được ví “rậm rịt” như rừng nhiệt đới gió mùa, những áng thơ hay, phù hợp với nội dung biểu tả, làm đề từ cho mỗi tập, mỗi chương của cuốn sách. Bà chọn ba bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm đề từ cho ba tập: Tập I là bài Nửa đêm (từ tập thơ Nhật ký trong tù); Tập II là bài Đi thuyền trên sông Đáy; Tập III là bài Giã gạo; ngoài ra bà còn dẫn các bài thơ Chiến thuật du kích, Thơ mừng xuân 1966, trích câu thơ“… Ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay” trong Di chúc của Bác Hồ làm đề từ cho các chương V, VIII và XXV; Lời bạt bà dẫn bài thơ Hoàng hôn (từ Nhật ký trong tù). Đây là lựa chọn mà ngoài sự tương thích với nội dung từng tập, còn là tình cảm sâu đậm, tấm lòng tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh của Laydy Borton. Ở 22 chương khác, Lady trích dẫn thơ của Mãn Giác Thiền sư, Nguyễn Du, Vua Trần Thánh Tông, Nguyễn Huệ, Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm, Lê Anh Xuân, Diệu Nhân (1072-1143), Nguyễn Trãi, Thái Thuận (thế kỷ XV), Lãnh Cồ (?-1889), Cao Bá Quát, Giang Nam, Xuân Việt, Trần Hữu Thung, Ngô Chân Lưu (950-1011), Vạn Hạnh (?-1018), Xuân Quỳnh, Nguyễn Đình Thi, một bài kệ của nhà Phật (TK X); trong đó, thơ và khá nhiều tác giả mà không phải bất kỳ người đọc Việt Nam ngày nay quen thuộc, điều này cho chúng ta thấy sự hiểu biết tinh tế và tình yêu đối với văn hóa Việt Nam của Lady Borton đậm đà, sâu lắng biết chừng nào. Cần bổ sung ngay rằng, Lady Borton đã bỏ ra nhiều năm, một mình lặn lội khắp nơi trên thế giới và tại Việt Nam, bằng tiền cá nhân, để tìm và nghiên cứu tài liệu về Hồ Chí Minh thời gian Người bôn ba tìm đường cứu nước. Có lần Lady Borton phát biểu chính kiến của mình với báo chí một cách thẳng thắn, hiếm thấy: “Các bạn luôn tin tưởng một cách tuyệt đối vào thông tin về cuộc đời Hồ Chí Minh. Nhưng một số học giả phương Tây nghi ngờ điều đó, đặc biệt họ đặt nhiều câu hỏi về quãng thời gian Hồ Chí Minh ở nước ngoài. Tôi lần theo hành trình của Hồ Chí Minh và tôi muốn chứng minh những lời kể của Hồ Chí Minh bằng tư liệu và dẫn chứng lịch sử”. Lady Borton là người phát hiện chi tiết Hồ Chí Minh “đã thay một chữ” khi trích dẫn bản Tuyên ngôn của Hoa Kỳ để viết Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, làm thay đổi cơ bản nội hàm khái niệm “bình đẳng”. Tuyên ngôn của Hoa Kỳ viết: “Chúng ta cho những sự thật này là hiển nhiên, là mọi người (all men) sinh ra đều bình đẳng”. Tuyên ngôn Việt Nam viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng” (All people are created equal). Chỉ khác nhau ở chữ “men” và “people”. Từ chữ “people”, Hồ Chí Minh tuyên bố: sự bình đẳng dành cho “tất cả mọi người”, tức là nhân dân, là đồng bào của Người, đồng thời tuyên bố độc lập cho phụ nữ Việt Nam – một sự kiện chưa từng xảy ra ở các dân tộc khác trên thế giới, ít nhất là vào thời điểm đó (năm1945).  

***

      Vì sao Lady Borton lại viết Tiếp sau nỗi buồn? Bà thú nhận: “Qua năm tháng tôi cảm thấy buồn phiền là lịch sử chưa bao giờ tạo cho tôi cơ hội chỉ có một lần với Việt Nam như nó đã đến với chú Hiugơ của tôi với Nhật Bản. Tôi vẫn còn bị ám ảnh vì điều đó và vì biết rằng, sau cuộc tàn sát của Chiến tranh “Mỹ - Việt Nam” điều tôi cần nói về Việt Nam đã muộn mất hẳn một thế hệ”. Có nỗi ám ảnh ấy vì bà không có được vị thế như ông chú Hiugơ của bà, người đã có tiếng nói ngăn chặn Chính phủ Mỹ đưa Nhật hoàng Hirôhitô ra xét xử và trừng trị về các tội ác chiến tranh, từ đó rút được ngòi nổ cho cuộc đụng độ tương tàn giữa Nhật Bản và Mỹ sau Đại chiến Thế giới II kết thúc. Nỗi buồn của bà còn âm ỉ vì sự cấm vận của Mỹ, bắt đầu từ năm 1964 đối với miền Bắc và sau đó trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Bà viết: “Theo tôi nghĩ, cấm vận như vậy là vô lương tâm và vì thế trong hầu hết ba mươi năm cấm vận, tôi đã công khai luồn tránh nó”. Cách “luồn tránh” cấm vận bà học được từ những câu chuyện mà người cha của bà, ông John Carter Borton - một phó ban kiểm tra xuất khẩu của Bộ Thương mại (Mỹ) trong cuộc chiến tranh lạnh, kể cho bà nghe. “Cha tôi là một người hoàn toàn thận trọng, do đó tôi tin chắc rằng cha tôi không có ý định khơi dậy việc làm phi pháp, nhưng các câu chuyện nho nhỏ đó đã giáo dục tôi về kỹ thuật lẩn tránh cấm vận”, bà tâm sự.

      Sống giữa các làng quê Việt Nam, nỗi buồn của Lady Borton càng thấm thía và dằn vặt khi bà chứng kiến những hậu quả do bom đạn, chất độc hóa học gieo rắc trên khắp lãnh thổ Việt Nam, gây bao tang tóc, để lại những vết thương lở loét trên thân thể người dân và cơ thể thiên nhiên trù phú, tươi đẹp của Việt Nam. Bà nhận ra, suy tư của thế hệ bà phần lớn đều là đau buồn: “Chiến tranh đã bắt buộc thanh niên Mỹ phải chọn lựa hoặc là chiến đấu hoàn thành nghĩa vụ quân dịch hoặc trốn lính hay vào tù. Tuy thế người Mỹ chúng ta biết rất ít về đất nước đã tạo nên cái tên Thế hệ Việt Nam. Do không hiểu biết, chúng ta còn dồn nén Việt Nam vào một từ Việt Nam, do đó đã làm giảm giá trị lịch sử của đất nước này”. Lady Borton đã trung thực và chân thành nói lên chính kiến, những dằn vặt khôn nguôi từ con tim nhiệt huyết. Bà là một phụ nữ Mỹ đầy quả cảm, một người yêu hòa bình chân chính, chống chiến tranh bằng hành động cụ thể và cương quyết. Những hoạt động của nhà văn, nhà nhiếp ảnh, người làm công tác từ thiện Lady Borton tại Việt Nam, đã được nhiều báo chí trong nước và quốc tế đăng tải với sự trân quý đặc biệt.    

    Lady Borton đến với văn chương một phần ảnh hưởng từ người mẹ của bà - nữ nhà văn Newlin Borton. Bà sử dụng văn chương như một phương tiện để phản đối chiến tranh, nên văn của bà có sức thuyết phục và truyền cảm hứng tới người đọc một cách mạnh mẽ và linh hoạt. Những đoạn văn sau đây có sức lay chuyển những suy nghĩ phiến diện, thiển cận bằng tính chân thật: “Trong bao năm nay tôi luôn nghe nói đến 2400 người Mỹ mất tích, giờ đây tôi bắt đầu suy nghĩ về 100.000 đến 300.000 người Việt Nam mất tích. Đó là những vong hồn Việt Nam”; hoặc: “Bất kể theo phe phái chính trị nào thì nạn nhân của chúng tôi đã đến với máu me và vết bỏng đầy mình. Họ đến với chân cụt, với tay cụt, họ là người già và người trẻ, là nam và nữ, họ là những trẻ con và em bé còn ẵm ngửa” v.v.

     Nỗi buồn âm ỉ trong lòng Lady Borton là nỗi buồn chồng xếp những nỗi buồn, nỗi buồn này chưa nguôi nỗi buồn sau đã ập đến…

     Ngược lại với những lột tả, phơi bày hậu quả của chiến tranh, những miêu tả của Lady Borton tập trung dành những lời ca ngợi, có phần ngạc nhiên, cho những nhân vật nông dân, bề ngoài bình dị nhưng từ bên trong toát ra khí phách một cách ung dung, khiêm nhường. Bà viết: “Hai Sang bước luôn lên cái cầu sáng ánh trăng. So với người Việt Nam thì chị có vóc người chắc nịch. Chị mặc một chiếc áo bà ba và chiếc quần đen rộng với vẻ khoan thai của tuổi trung niên. Gương mặt tròn trặn của chị cởi mở như hoa sen nở giữa ban ngày”. Đó là nhân vật phụ nữ Đồng bằng Nam Bộ. Còn sau đây là nhân vật nam Đồng bằng Bắc Bộ: “Mái tóc rễ tre của Đạo làm anh có vẻ khắc khổ ở cuối tuổi bốn mươi. Anh công tác ở Nam Định, tỉnh lỵ của Hà Nam Ninh. Giống như bác Hòa, người lãnh đạo là để người khác tuân lệnh. Tuy ở cấp lãnh đạo song sáng hôm đó về nhà bố, theo tôn ti trật tự, anh phải tuân theo sự chỉ bảo của bố”. Phía sau những đoạn văn trên, Lady tinh tế ẩn vào đó những cảm nhận của mình về những nét văn hóa tiêu biểu; và, cả những đổi thay mang tính thế hệ: “Ở nông thôn Việt Nam, hôn nhân tạo nên sự liên kết kinh tế giữa hai gia đình trong cuộc sống hằng ngày: cấy lúa, làm cỏ, gặt hái và cỗ bàn. Chị của Minh, Hiền đã lấy con bác Nghĩa và anh cô đã lấy con gái của bác Xuân. Nhưng cha của Vinh đã giúp người Pháp nên cha mẹ Minh không thể tin ở Vinh. Tuy vậy, anh và Minh kiên trì cho đến khi cha mẹ phải chịu”. Những thông điệp hiện ra từ những đoạn văn ngắn gọn mà súc tích, có độ dày về lượng và chất của thông báo. Cách miêu tả cảnh quan nông thôn gắn với người nông dân của Lady cũng có màu rất riêng: “Ở miền Bắc Việt Nam, ngày xuân có nắng đầu tiên vào giữa tháng Hai dương lịch đem lại sự mở đầu cho một vụ cấy mới và nhiều hy vọng, đặc biệt là sau khi chia ruộng đất về các hộ gia đình. Một vụ được mùa có nghĩa là một cái quạt điện, một máy cát-xét, một chiếc ti-vi hoặc cũng có thể là một cái tủ lạnh. Tháng Hai 1990 là mùa xuân tôi bắt đầu học cấy. Ruộng đồng nhộn nhịp như thể chợ búa đã họp trên cánh đồng”.

     Vốn là người năng động và tính độc lập cao, Lady Borton ưa di chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác, không tính đến khoảng cách địa lý. Mỗi chuyến đi và dừng lại đâu đó, là cơ hội để bà thỏa sức quan sát và ghi chép. Quan sát được điều gì bà lại tiến hành so sánh để nâng tầm nhận thức của mình, để rút ra những đánh giá có mức độ, khách quan. Đến Hà Nội khi Mỹ chưa rút bỏ lệnh cấm vận Việt Nam, bà viết: “Mỗi lần quan hệ Mỹ và Việt Nam mở ra, thì cây tre (làm ba-ri-e) được kéo cao hơn một ít và dễ dàng đạp xe qua lại bên dưới. Tuy nhiên, tiếp sau mỗi lần mở lại thường hơi đóng lại một chút”. Phát biểu sau khi quan sát, bà không giấu nổi tính hài hước, nhưng đó lại là phát biểu chân thành của người viết trung thực, gợi mở cho người đọc ngẫm ngợi rộng ra những mối quan hệ giữa người và người, những ứng xử mà nền tảng đạo đức xã hội tác động, tích cực hay tiêu cực. Phải chăng, những nhận xét tương tự cũng xuất phát từ nỗi buồn luôn đau đáu trong tâm can Lady Borton? Hẳn là thế, bởi những khó khăn, những nghịch lý hằng ngày diễn ra trong đời sống, ở đô thị hay nông thôn trên dải đất hình chữ “S” này, đều bắt nguồn từ chiến tranh, trước do thực dân Pháp, sau do đế quốc Mỹ gây ra, kéo dài liên miên, khiến dân tộc Việt Nam chậm phát triển, thậm chí thụt lùi so với các quốc gia trong khu vực Đông nam Á hằng chục năm. Là công dân Mỹ, bà không khỏi thấy mình có một phần trách nhiệm, vì thế bà hy sinh đời sống riêng tư, nhiệt thành với công tác từ thiện ở Việt Nam từ rất sớm.

      Nỗi buồn của bà dần chuyển tâm trạng. Bà dõi theo sát sao từng bước công cuộc đổi mới, mừng vui trước những thay đổi của người dân, của sự cởi mở ngày càng rõ nét trong quan hệ Mỹ-Việt Nam. Bà mang về Mỹ một chiếc mũi tên, do Thức - một người bạn Việt Nam trao cho, để rồi cái vật mang dáng dấp chiến tranh đó ám ảnh nỗi mong mỏi của bà: “Người Mỹ và người Việt Nam cùng nhau xếp các mũi tên cạnh nhau, cái nọ nối tiếp cái kia cho đến khi các ngạnh của chúng hòa vào thành một nhịp cầu thép đủ mạnh để chuyển tải những sự câm lặng đã phân cách chúng ta”. Đến nay, chúng ta, trong đó có cả Lady Borton, đã thấy bóng dáng “nhịp cầu thép” hiện ra ngày càng rõ hơn. Chúng ta hiểu sâu hơn câu nói của bà: “Thật là kỳ diệu, tôi nghĩ: Đất mẹ đã tha thứ cho chúng ta”. Và, mỗi chúng ta vui mừng, tự hào là con dân của một dân tộc luôn lấy sự bao dung với tấm lòng vị tha để hướng tới tương lai trong bình yên và hòa hợp giữa các dân tộc.

***

     Trước khi tạm kết thúc bài viết nhỏ này, tôi muốn dẫn lời của nhà văn Mỹ Grace Paley viết lời giới thiệu cho cuốn Tiếp sau nỗi buồn của Lady Borton: “Mềm mỏng nhưng kiên trì phản bác lại những e ngại mang tính ý thức hệ ở Việt Nam cũng như tính tự mãn cố hữu của người Mỹ, rốt cuộc Lady Borton đã thuyết phục nổi người Việt Nam rằng chị hoàn toàn có thể sống một cuộc sống thường nhật với những người dân quê, cùng họ cặm cụi trên nương rẫy hay đồng lúa, nói chung một ngôn ngữ và lắng nghe mọi câu chuyện riêng tư của họ. Và giờ đây, chị khát khao được chia sẻ với tất cả những người Mỹ chúng ta, những người suốt 30 năm chưa hề biết lắng nghe Việt Nam, những câu chuyện ngày ấy…

    Làm đề từ cho Lời bạt cuốn Tiếp sau nỗi buồn, Lady Borton dẫn bài thơ Hoàng hôn từ tập Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh: “Gió sắc tựa gươm mài đá núi,/ Rét như dùi nhọn chích cành cây./ Chùa xa chuông giục người nhanh bước,/ Trẻ dắt trâu về tiếng sáo bay.” Bà mượn bài thơ của Bác Hồ như để gói lại, cất đi cái nặng trĩu trong tâm tư khi tai bà nghe thấy “tiếng sáo bay” trên đất nước “đã làm thay đổi cuộc đời” và tặng bà cái tên Út Lý dịu hiền, thân thương, để bà có được những cảm nhận chân thực về những nỗi buồn không chỉ neo trong từng người Việt Nam mà cả trong sự dằn vặt của không ít người Mỹ chân chính.

    Hãy lắng nghe chuyện của Út Lý - Lady Borton, cùng sẻ chia nỗi buồn sâu thẳm của bà và niềm vui đang nảy nở…

 

                                              Hà Nội, những ngày cả loài người đối mặt với dịch COVID-19
                                                                                        C.N.T.  

Nguồn tin: HNV.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây