Nhà thơ Thúy Nguyễn
Tôi tình cờ đọc được những bài thơ hay của Nhà thơ Nguyễn Mạnh Thắng trên trang web: Http://nhavanhanoi.vn. Những bài thơ rất ấn tượng, sâu sắc cả về nghệ thuật thơ, nghĩa đen và nghĩa bóng, nhiều ẩn dụ kép,thơ ông là thể thơ không gian, thơ đa chiều: “ý tại, ngôn ngoại”, thật sáng tạo, độc lập và mang tính phê bình, phê phán thói hư tật xấu của một bộ phận con người nào dó trong xã hội đương thời, nỗi xót xa phận người - được ví von qua hình ảnh cỏ cây hoa lá, lối thơ lạ và hiếm.
Ngoài ra, phải kể đến những bài thơ đầy tính nhân văn của thi sĩ . như bài:
“Chuyến tàu Bắc - Nam”
Giường tôi bên cạnh giường nàng
Áng chừng chỉ một vài gang là cùng
Chưa quen, e thẹn ngại ngùng
Cả hai nằm nghĩ mung lung, buồn cười…
Làm quen, em hỏi lại tôi
“Tàu không êm, phải ngủ ngồi hả anh ?”
Con tàu vun vút lao nhanh
Qua vài ga xép, đã thành người thân
Nói xa, tránh những chuyện gần…
Chuyện ngoài xứ Bắc, mùa xuân qua rồi…
Biết là tôi nói xa xôi
Biết em ngầm trách rằng tôi hững hờ
Tôi không phải kẻ dại khờ
Giữ mình, giữ cả ngẩn ngơ cho người…
Trách mà vẫn nghĩ đến tôi
“Còn mong chuyến nữa đi chơi Sài Gòn…!
Hai người cùng chung một buồng giường nằm, đêm khuya thanh vắng trên một chuyến tàu đêm Bắc Nam buồn lắm chứ ? Ấy thế mà người đàn ông ngay cạnh có phụ nữ đang ... gợi tình, vậy mà nhà thơ dùng lý chí để giữ mình, giữ cho người kia, giữ cho cả xã hội. Ý thơ nhân văn và đầy nghị lực mà ít người đàn ông có khả năng kiểm soát được hành vi vượt quá biên độ của mình.
Trong bài CÀNH ĐÀO BÊN ĐỐNG RÁC:
...
Cái xuân…Chơi cũng có thì
Vuốt ve, ngắm nghía, quẳng đi hết thời…
Nâng niu, ân ái thế thôi
Chỉ dăm ba bữa người đời chán ngay…
Lá hoa còn thắm thế này
Mà nằm cô quạnh cả ngày phơi mưa…!
Đọc xong bài thơ mà tôi thấy xót xa cái thân thể người phụ nữ mang ra bán cho khách làng chơi , xong rồi đến mức tàn tụy, bóc lột xơ xác không còn sức sống và ném ra bãi rác… Lúc đó khách làng chơi cũng lờ đi, bởi họ không muốn liên lụy , họ đã sòng phẳng trong cuộc chơi... rồi có tàn tã đến mấy cũng mặc. Lời thơ muốn nhắn nhủ hoa Đào như thân phận người phụ nữ, đừng lãng phí xuân thì của mình mà bị đẩy vào bi kịch. Bởi cái đẹp nào rồi cũng phải bỏ đi.
CÂY BON SAI
Uốn mềm từ gốc lên cành
Thế Rồng, dáng Phượng cho thành Bon Sai…
Đời cây cảnh, chả giống ai
Sẹo chồng lên sẹo, U chai đầy mình
Làm vui mắt kẻ đa tình
Tự Do kẹt giữa Sứ sành bủa vây…
Trí cao vít xuống từng ngày
Thanh Tao… chịu uốn dưới tay kẻ Phàm…?
Nhà thơ ví cây Bon Sai cũng giống con người chịu nhẫn nhục dưới tay kẻ Phàm mà trở thành thanh tao , xinh đẹp, hay nói cách khác trong xã hội của chúng ta có những loại người luôn tự uốn mình, làm nền hoặc chịu luồn cúi kẻ khác để được vinh thân…
Với bài thơ PHẬN MÌNH:
Giá mình cũng chết như ai…!
Khắc tên bia mộ cắm vài nén nhang
Không may… Sống sót về làng
Mới là chết thật. Tan hoang cửa nhà
Vợ sinh con với người ta
Sống trong nhẫn nhịn, đợi tòa chia tay
Giá… Mình chết trận lại hay
Giờ thành Liệt sĩ vui ngày đền ơn
Đoạn đời rách áo… nhịn cơm…
Nửa manh áo cũ, bạc sờn ngang lưng
Chiến trường thoát chết tưởng mừng
Về nhà, vợ hóa người dưng thật buồn…
Nửa trâu, nửa ruộng, nửa hồn…
Chết ngoài mặt trận, còn hơn trở về.
Đó là nỗi đau vì duyên phận bạc bẽo hành hạ tư tưởng, người sống còn đau hơn cái chết ngoài mặt trận. Tôi được biết nhà thơ Nguyễn Mạnh Thắng sau cuộc chiến tranh trở về ,ông chết điếng vì nhìn thấy đứa con riêng của vợ xuất hiện thế mà ông vẫn bình tĩnh và nuôi và giáo dục các con thành người.
Phải bàn đến cái tính nhân văn của nhà thơ Nguyễn Mạnh Thắng là rất hiếm trong giới đàn ông Việt, chẳng mấy ai chấp nhận nuôi con người khác. Rất độc đáo ở chỗ đó! Ông biết chấp nhận hoàn cảnh (Vì cuộc chiến tranh) và trong con người ông đầy lòng vị tha…
Về một mạch thơ khác, trước hết phải kể đến bài thơ " Tiếc " :
…
Nguồn cơn em bỏ cạn rồi
Che gò Bồng đảo, giấu đồi Trầm luân…
Nhìn hoa tiếc cả mùa xuân
Nhìn em, anh tiếc những năm không còn…!
Bài thơ thể hiện nỗi xót xa khi nhìn thấy ni cô quét chùa đang phơi phới tuổi xuân. Cái tuổi đáng lẽ phải lập gia đình để thụ hưởng hạnh phúc trăm năm, thế mà cô gái làm lãng phí tuổi xuân, để tu nơi cửa Phật.
Bài GỬI NGƯỜI HÀNH KHẤT:
Kiếp người đã mỏng, lại cong
Méo như trăng khuyết, ai đong cho đầy ?
Xác xơ một kiếp thân gầy
Cầu thang, góc phố tháng ngày nổi trôi…
…
Đất là chiếu, Trời là màn
Ông ngồi vỗ muỗi, đợi sang ban ngày…
Tôi buồn nhìn thấy cảnh này
Thương người hành khất đắng cay một đời"…
Ngủ đi ông, mệt lắm rồi
Sao ông không ngủ, cứ ngồi nhìn ra ?
Đêm ba mươi tết không nhà
Ông buồn trách phận, hay là… Trách ai ?
là bài thơ nồi niềm của của thi sĩ về kiếp con người. Ngôn từ ám ảnh :"Kiếp người" “Mỏng, cong", "méo" như trăng khuyết... Ngôn ngữ nghệ thuật, ví von theo hình tượng tự nhiên nói về nỗi ám ảnh đời người.
Từ khi người ấy đi xa
Gió vào song cửa, cũng tha thẩn buồn
Giá xưa tình chẳng bán non
Nay đâu đễ vỡ nửa còn đang yêu…
Lòng buồn tím sắc trời chiều
Em đem sợi nắng buộc điều chóng quên
Gió mưa qua có một đêm
Mà nay em chẳng còn em nữa rồi "…
(Trích bài GIÓ CŨNG BUỒN):
Đó là tâm trạng của người sống mà quên mất chữ “Thủy Chung” thể hiện bằng nghệ thuật ngôn từ "Gió vào song cửa", "tình chẳng bán non" . "Bán non" có nghĩa là bán vội cái gì đó chưa trưởng thành" “Sợi nắng buộc điều chóng quên” . Đó là những ngôn ngữ nghệ thuật của thơ Nguyễn Mạnh Thắng.
Ở bài NỬA MÙA THU CÒN LẠI:
Khổ đầu ý nói cuộc tình trắc trở bằng ngôn từ đầy ấn tượng:
Trắc trở một chuyện tình
Trái tim yêu vô tội
Chiếc lá tự rơi
Mùa thu không có lỗi
Ý nói nửa mùa thu kia tự bỏ mình và nhà thơ coi mình không có lỗi trong việc chia ly này mà nửa kia tự rời đi như chiếc lá xanh cũng tự rơi… không cứ phải mùa thu. Ý nghĩa được ví von bằng hình ảnh thật sinh động và rất chân thật.
Nửa mùa thu còn lại
Sóng sánh giọt nắng chiều
Cỏ ngàn đời vẫn thế
Mướt xanh bờ tình yêu…
Khổ thơ cuối thể hiện sự lạc quan trong tình yêu được ví con người như cây cỏ luôn luôn có tình yêu sống và xanh tươi mãi mãi.
Bài thơ: CÁI NGÀY XƯA ẤY nói gì?
Hai người chung tách cà phê
Nhâm nhi như gạn lời thề qua môi
Giọt thì vào thẳng lòng tôi
Giọt chia cái đắng cho người ngồi bên
Cái ngày xưa ấy - khó quên
Cà phê ngọt đắng, môi em ngọt ngào…
Ngược miền kỷ niệm xôn xao
Mùi hương ký ức ùa vào lòng tôi
Em mang cái đắng đi rồi
Để cho cái ngọt trong tôi - Không hồn…!
Bài thơ có tính sáng tạo vận dụng hương vị cafe cụ thể như: Cà phê có đắng và ngọt, hai vị này tạo nên hồn vía của ly cafe , nếu chỉ còn ngọt không thôi thì không phải là linh hồn của cafe nữa. Nhà thơ ví hương vị cafe bay mất. Dẫu là vị đắng ,cái chất tự nhiên của hương vị café, giống như cái tự nhiên của cuộc sống này. Thi từ "cái đắng" và cái ngọt" đầy ý nghĩa tu từ.
Bài thơ: CHỢ NGƯỜI:
Chen chân vào chốn chợ người
Mới hay ruộng đất đổi dời - mới hay
Mấy cô thôn nữ hôm nay
Nông nhàn , thiếu ruộng . Đêm cày Trăng Sao...
Nghĩ thương con Ếch bờ ao
Muốn kêu... chẳng gặp mưa rào để kêu...
Chợ Người họp cả sáng, chiều
Đám người chờ việc tựa xiêu cột đèn
Nắng hè nhuộm nước da đen
Nhao nhao “cướp việc” đã quen đứng đường
Bỏ quê thành kiếp tha phương
Đêm đêm hứng gió, gom sương gầm cầu
Tháng ngày mua tủi , bán sầu
Mồ hôi mốc cả phía sau đồng tiền...
Qua bài thơ"Chợ người", bạn đọc thấy nỗi khó khăn , thất nghiệp của một số vùng nông thôn không rõ là bị thiếu ruộng hay do sự phát triển kinh tế của vùng miền đó chưa theo kịp thời đại . “ Đêm cày trăng sao “ cày đêm… là lời ẩn dụ nói việc làm không chính đáng… Bài thơ bọc lộ nỗi niềm ai oán qua hình tượng con ếch:
Hình tượng con Ếch nói lên cái thấp cổ bé họng của thân phận thảo dân.
Nghĩ thương con Ếch bờ ao
Muốn kêu... chẳng gặp mưa rào để kêu...
Tứ thơ ví người muốn cất lên tiếng kêu trời mà trời chẳng thấu , chẳng gặp được đúng người để kêu cứu hoặc cấp trên giúp đỡ. " Cướp việc " là hiện tượng có thật và không lành mạnh trong cơ chế thị trường để có được đồng tiền đẫm mồ hôi, đầy mùi tanh tưởi …
VIẾT TIẾP CÁI VỎ CHANH là bài thơ mượn ván cờ tướng và chiếc vỏ chanh để nói về sự bất công của cuộc đời:
Khéo thay, nhặt cái vỏ chanh
Bị đời vắt kiệt, ngẫm thành bài thơ
Thay quân thiếu một cuộc cờ
Vỏ chanh héo, cạnh bụi bờ - nhặt lên
Chỉ huy làm tướng một bên
Tiến, lui xung trận như quen chiến trường
Điều xe, chặn pháo đối phương
Tượng chờ, Mã tiến mở đường Tốt sang
Viết bài thơ cứ ngỡ ngàng...
“Vắt chanh bỏ vỏ”. Mênh mang phận người
Xóa đi, dựng lại, thói đời
Cờ tàn. Tướng quẳng góc trời - Ngắm sao
Mong đời đừng ván cờ nào…
Thiếu quân “Nhặt”. Liệu bờ rào còn không ?
(Tặng anh Tô Diệp - Thái Bình)
Ngay câu đầu tiên đã đầy ẩn dụ và ví von một cách đanh đá . " Đời vắt kiệt " ví người bị bóc lột vắt kiệt sức như quả chanh còn lại cái vỏ rồi vứt đi lúc không cần nữa.
Thay quân thiếu một cuộc cờ
Vỏ chanh héo, cạnh bụi bờ - nhặt lên
Chỉ huy làm tướng một bên
Tiến, lui xung trận như quen chiến trường
Đây có thể là một sự trách than thân phận của đời lính, hay một vài vị tướng lĩnh nào đó vào sinh ra tử giống như cái vỏ chanh bị vắt kiệt. Sau chiến tranh khi trở về với bàn tay trắng giống như cái vỏ chanh bị vứt ra bờ rào. Một ngày nào đó đất nước gian nguy sẽ không còn người có kinh nghiệm ra trận bởi họ bị… vứt ngoài bờ giậu. Bài thơ mang cả nghĩa đen và nghĩa bóng ẩn, chìm rất lô gic.
Bài thơ NỖI ĐỜI TRĂN TRỞ xuất phát từ chuyện của Nhà thơ, họa sỹ, nhạc sỹ Văn Cao nói về nỗi niềm chồng, vợ khác nhau về đẳng cấp:
Chuyện ngày nay, chuyện ngày xưa
Nỗi buồn nhân thế đã thừa xót xa
Nỗi này đâu tại mẹ cha
Số trời đã vận vào ta hồi nào...
Anh là quan chức cấp cao
Chết chôn Mai Dịch, em vào được đâu!
Thủy chung từ mối tình đầu
Nay về Âm phủ xa nhau mất rồi
Anh nằm Mai Dịch gần thôi
Hồn em cứ thấy xa xôi thế nào
Tường cao, cổng kín khó vào
Đứng nhìn lính gác mà nao nao lòng
Đã đành phận gái chữ “Tòng”
Chết rồi, còn được theo chồng nữa đâu!
Thôi đành phụ mối tình đầu
Gửi vào lòng đất... Nỗi đau nhân tình”.
" Nỗi đau trăn trở " nói hộ nỗi niềm người vợ họa sỹ, nhạc sỹ Văn Cao - tác giả bài " Quốc ca " cho đến ngày hôm nay. Ông được nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất và khi mất, thi thể an táng ở nghĩa trang Mai Dịch. Vợ ông mất, mai táng bà ở nghĩa trang Văn Điển. Nhà thơ viết tặng nỗi niềm người vợ sống chung thủy cả đời nhưng khi về âm phủ phải chia rẽ đôi nơi.
Bài thơ DẬY CON QUÉT NHÀ:
Nhà ta bụi bám chân tường
Sâu trong bệ tủ, gầm giường bẩn hơn
Khách vào họ dễ coi thường
Từ nay... Quét dọn con đừng qua loa.
Vẫn là tại bố con ta...!
Lâu nay quen thói xề xòa với nhau
Lần quét trước, đợt quét sau...
Nặng đường chổi lại sợ đau mặt nền.
Con ơi! phải quét từ trên...
Rồi con quét xuống mặt nền mới yên
Nếu con từ dưới quét lên
Thế là làm ngược, dễ quên, dễ nhầm.
Nhà ta cao những mấy tầng *
Con không chỉ quét vài lần sạch ngay.
(Dựa vào dòng ghi chú ở dưới bài (*) để đoán tứ thơ suy luận ngôn ngữ nghĩa kép như : Bụi bám sâu trong ngõ ngách, 4 tầng, quét trên xuống. Quét qua loa, xuề xòa, “sợ đau mặt nền” đó là những ngôn ngữ kép chứa ý nghĩa chìm và nổi. Việc dạy con quét nhà là nội dung hay , những thao tác quét nhà này mà nhà thơ ví von việc chống tham nhũng cần có biện pháp mạnh hơn trong việc phòng chống tiêu cực như tham nhũng, gian lận thi cử, ma túy vv.... Cần truy quét triệt để từ trong ngõ ngách, từ trên cao xuống, chớ có qua loa, sợ đau mặt nền…
“Bụi bám sâu trong ngõ ngách” tức là sự tham nhũng bí ẩn, tinh sảo, Nó luôn ẩn khuất quanh ta “ Lần quét trước, đợt quét sau” ý nói chiến dịch truy quét tội phạm tham nhũng cần triệt để từ hang ổ, ngõ ngách mạnh mẽ hơn. Quét từ trên xuống)…
Nhà Thơ Nguyễn Mạnh Thắng còn rất nhiều những bài hay, nhưng bài viết này đã tương đối dài, nên tôi chỉ đề cập một số bài trên đây để chứng minh những gì tôi đã nêu ra cảm nhận ở phía trên. Đó là nhận xét thiện cảm của riêng tôi. Xin cám ơn nhà thơ Nguyễn Mạnh Thắng đã tạo điều kiện cho tôi viết thành công bài viết này. Xin chúc nhà thơ sức khỏe , dồi dào thi hứng và có nhiều sáng tác để lại cho đời .
Hà Nội ngày 2 tháng 7 năm 2021
T. N.