Dưới bóng cây ô liu

Thứ bảy - 27/06/2026 10:36
 

       Tản văn của Trung Thực Lê

       Mùa hè, bầu trời vùng Trung Đông hầm hập như lò lửa. Nhà cửa, xe cộ và nhiều tài sản giá trị phơi dưới cái nắng như thiêu. Nắng nóng tới mức thảm cao su để ngoài trời chảy dính cả xuống đất. Xót ruột nhất là cây xanh trên đường phố hay công viên bị táp lá, ủ rũ, vật vờ. Ở vùng sa mạc, chà là là loài cây phổ biến. chúng gầy, thân cây bạc phếch. Vào những ngày hè, nhiều hôm nhìn từ xa, chả khác gì cây lửa.

    Cây ô liu trên phố Mahattan cao tầm chín mét, cành cây quều quào, tán cây xòe rộng. Người già ở đây cho biết, khi còn nhỏ, họ đã thấy cây ô liu này. Thế hệ trước của các cụ cũng nói: khi họ lớn lên cây ô liu ấy xum xuê. Bây giờ cành quều quào, thân cây già cỗi vì đã trải qua bao thăng trầm với con người, với thiên nhiên khắc nghiệt. Cụ cây thành nhân chứng của thời gian, một tác phẩm nghệ thuật sống động, nơi con người và thiên nhiên cùng hòa quyện. Có người cho rằng: cây ô liu tôn thêm vỉa tầng văn hóa cho phố Mahattan, thành một “thư viện sống,” mỗi ngày làm xanh bầu trời Riyadh, nơi được tôn vinh là thành phố toàn cầu.

     Ngày mới sang Ả rập Saudi, khi thấy nhiều người hay quyến luyến cây ô liu già, tôi rất ngạc nhiên. Tìm hiểu từ sách báo, tôi biết ô liu được ví là cây thần, cây thiêng trong quan niệm của người dân Địa Trung Hải và nhiều nơiVùng Vịnh. Khi thành cổ thụ, cây ô liu càng được trân quý, được xem như di sản, như báu vật. Thế nên các cây khác dù có bóng mát, người ta vẫn muốn được gần cây ô liu. Khi tìm hiểu thêm, tôi nhận ra, ở vùng đất sa mạc khô cằn khắc nghiệt như Trung Đông, cây ô liu thuộc số rất ít loài cây sống được trong môi trường sa mạc. Nó là biểu tượng cho tình yêu, mang ý nghĩa một lời cầu mong cho hòa bình, cho sự trường tồn vĩnh cửu. Một sợi dây kết nối giữa quá khứ với tương lai. Trong văn hóa của người Hi Lạp và nhiều nơi ở Trung Đông, cây ô liu là biểu tượng cho linh hồn, lòng dũng cảm, sự thủy chung, đức tính mạnh mẽ của người gặp khó khăn biết vươn lên; là món quà thiêng liêng được các vị thần ban cho con người.

                                                    

    Untitled 1Từ Việt Nam sang, nhà tôi ở trọ gần một siêu thị trên đường Mahattan. Đường Mahattan đi qua khu phố cổ kính, trầm mặc với thời gian nhưng thưa thớt cây xanh. Mỗi lần ra siêu thị, tôi chọn đi bộ. Trên đường đi, khi đến gần cây ô liu, tôi thường thấy một ông già người A rập làm vệ sinh đường phố. Lúc này vừa sáng ra, chân trời ửng một màu hồng, không khí hãy còn mát mẻ. Khoảnh khắc quý giá này ngắn thôi. Trung Đông, vào mùa hè, nếu làm việc ngoài trời thì cao lắm đến chín giờ sáng, người ta phải nghỉ vì nóng hầm hập. Đến gần trưa ở bên ngoài chẳng khác gì chảo mỡ đang sôi.  

      Những lần đi siêu thị, tôi thường gặp người lao công cao tuổi. Mái tóc đổi màu hoa râm, đôi mắt bắt đầu mờ đục. Mới biết nhau nên tôi chỉ chào ông bằng vốn tiếng Anh ít ỏi: “Good morning” hoặc buổi chiều thì “Good afternoon.” Ông giơ bàn tay phải mỉm cười chào lại. Nhẹ nhàng vậy rồi tôi bước nhanh về nhà trọ để tránh tiết trời nóng dần lên. Ông già dõi theo tôi một đoạn đường.

     Về nhà, có máy điều hòa, nóng nực bay khỏi người tôi. Nhưng hình ảnh người lao công già cứ hằn trong tâm trí. Điểm dễ thấy ở ông là cái vẻ nghèo khổ mà tôi vẫn thấy nơi siêu thị, công viên hoặc trên đường đi ở đất nước vẫn được xem là giàu có thuộc vùng Trung Đông. Nhiều lần, nhìn lối ăn mặc xuề xòa, dáng đi hơi vẹo người của ông, tôi thấy nao lòng. Quê ông già ở đâu? Tuổi tác ấy, sức khỏe giảm đi, sao ông không nghỉ ngơi? Mà sao ông không chọn một công việc sạch sẽ, nhàn hạ nhưng thu nhập cao hơn nghề quét rác trên đường?

    Nghĩ vậy rồi tôi lại tập trung vào công việc của mình.

    Ở Arập Saudi, mùa hè ngày dài, thời tiết nóng muốn chảy mỡ, nhất là ở vùng sâu trong nội địa như thủ đô Riyahd. Làm vệ sinh đường phố thì phải hứng chịu cái nắng nóng, bụi đường và ồn ào xe cộ. Vậy mà trên đường, ông già chỉ khoác lên người bộ đồ phản quang quen thuộc, chiếc thùng đựng rác có bánh xe lăn; cây chổi, cái bẳn hót rác. Quãng đường khá dài, ở tuổi ấy cũng đủ làm mệt cho ông. Trong khi đường phố ở thủ đô Riyahd thưa thớt cây xanh. Khí hậu nóng nực, đất khô cằn, lại hiếm mưa nên cây gồng mình để sống. Nơi ông già làm việc, khu dân cư, trường học, nhà thờ, không có nhà cao tầng nên đường phố chỉ mát được thoáng chốc buổi sáng mai hay khi mặt trời sắp tắt. Còn thì cả ngày cứ hầm hập. Để tránh nắng, người lao công trên đường phố hầu như đi làm từ lúc nửa đêm về sáng. Phải làm ban đêm, vì ban ngày thành phố cần phải sạch sẽ. Vả lại, họ không muốn để ánh mắt người Riyahd văn minh thấy sự nhếch nhác.

     Cây ô liu và ông già quét rác được tôi nạp vào bộ nhớ mỗi khi đi trên phố Mahattan. Quãng đường dài chừng hai cây số, mặt đường rộng đủ cho xe cộ đậu hai bên và xe đi như mắc cửi ở giữa. Hai bên đường, các công ty, trụ sở, nhà dân, nhà thờ chỉ cao ba tầng, cùng sơn màu vàng, lợp ngói đỏ nên phố đậm phong cách châu Âu. Nó mơ màng như một bức danh họa.

    Trong tuần, đôi ba lần, tôi đi bộ ra siêu thị mua những thứ cần cho bà vợ. Khi ấy trời vừa mới sáng ra, đường phố vắng vẻ, chân trời phía đông bao la một màu hồng tươi. Không khí rất trong lành. Khi nhà dân, trường học, công sở, nhà thờ còn đóng cửa thì tôi đã thấy ông già lao công cắm cúi trên đường. Một bóng hình cô đơn. Ông làm sớm để tránh nắng, khi đường phố còn ít xe. Hình ông già in trên phố. Một bóng hình giản dị đẹp trong nỗi khổ nghèo. Những thứ vụn vặt như chiếc lá rơi, mảnh túi bóng bay lất phất, vỏ kẹo bánh nhỏ vương vãi đều được nhặt nhạnh thu gom để thành phố chào ngày mới.

    Bóng dáng ông già in vào tâm trí tôi mỗi khi ra đường. Nhìn từ xa, người lao công già đẹp như một bức họa của một nghệ nhân xứ La Mã. Một vẻ đẹp in đậm bụi đường và khói xe. Lần gặp này, tôi thấy ông chậm chạp, mệt mỏi. Ông già đang đói? Tôi gợi chuyện:

    Goodmorning! Ông già nở nụ cười hiền hậu: “Good morning! Where are you from? (Chào buổi sáng! Bạn từ đâu đến?) “I go to Vietnam.” (Tôi đến từ Việt Nam). Đôi mắt sáng lên rồi ông gật gù: “Oh, Vietnam, Ho Chi Minh, Vo Nguyen Giap! (Ồ, Việt Nam, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp!)

    Tôi lặng đi. Một người lao công hàng ngày làm một việc chả liên quan đến chữ nghĩa hay kiến thức lịch sử, chính trị nhưng lại biết đến những nhân vật kiệt xuất từ một đất nước xa xôi ở phía đông châu lục. Thật đáng kính và đáng khen. Vừa ngạc nhiên vừa muốn tăng thêm vốn tiếng Anh, tôi mạnh dạn nói chuyện với ông để hy vọng tìm được cái hay từ người đàn ông bình dị này.

    Cuộc nói chuyện ngắn diễn ra. Tôi căng tai nghe. Tên ông là Hassan, quê ở dải Gaza, vùng đất Palextin đang rung chuyển bởi tiếng gầm của đại bác. Khi tôi nhắc đến cuộc xung đột giữa Ixraen và Palextin thì một tiếng thở dài: Cuối năm 2023, thành phố Gaza xảy ra cuộc chiến đẫm máu giữa Ixraen và phong trào Ha mát. Hai năm xảy ra xung đột, dải Gaza đến giờ bom đạn vẫn trút xuống. Còn việc ông đến Arập Saudi mưu sinh trên đường phố lại là chuyện của từ mười năm rồi.

     Tôi nhận thấy ông già như bị nghẹn: Dải Gaza từ lâu là lõi trong cuộc xung đột giữa người Palextin và người Do Thái. Chết chóc, thương tật, mất công ăn việc làm gần như là chuyện của mọi nhà. Vợ ông bị thương trong một trận bom. May mà Thần Chết còn thương tình. Nhưng sức khỏe giảm nhiều nên chỉ có thể làm nội trợ, quản đàn con để chồng nán lại xứ người kiếm tiền. Người con trai thứ hai bị thiệt mạng vì đạn pháo trong một lần đi tìm phế liệu. Hai mắt Hassan đầy ắp nước: “Nhận được tin dữ mà tôi chẳng thể có tiền để bay. Vì tiền được gửi về mấy ngày trước đó. Tôi thương bà ấy, người phụ nữ dịu dàng dọn bữa tối đợi tôi hay pha ấm trà nóng cho chồng sau bữa ăn. Lâu rồi, tôi không còn được bà ấy chăm sóc. Buồn cho thân tôi, cho dân tộc Palextin yêu dấu, tôi ngủ một giấc dài và đợi Thần Chết đến mang đi!

     Rồi ông già ngừng bặt, hai hố mắt ngấn nước, hướng về chân trời xa xăm. Một nỗi niềm hoài hương và sự khao khát cháy bỏng cho vợ con được yên ổn. Khi nào Gaza không còn trải qua những năm dài đói khát, dân tộc Palextin thoát khỏi sự nghiệt ngã của số phận? Khi nào hàng ngàn trẻ em Gaza không còn mắc bệnh suy dinh dưỡng, còi cọc, mắt lồi lên vì thiếu ăn? Khi nào mới hết cảnh những đứa trẻ gầy, da dính chặt vào xương không thể đi lại được?

     Từ ngày lập quốc đến nay, gần 80 năm rồi, người dân Palextin chưa được sống trong hòa bình. Vậy đến khi nào?

     Cái này thì phải hỏi Trời thôi!

    Tôi lặng nhìn Hassan, rồi nhớ lại những khi xem truyền hình, tình cảnh người dân dải Gaza sống như thời “nguyên thủy”: không nhà cửa, ăn bờ ngủ bụi, sống hôm nay mà không biết có ngày mai in rõ mồn một. Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế dù làm nhiều việc nhưng chưa đủ mạnh, lại thiếu sự đồng thuận giữa các nước lớn nên hòa bình nơi đây mờ mịt như màn đêm.

     Báo chí đưa tin: dải Gaza hiện giờ được coi là vùng đất đông dân, nghèo khổ đau thương nhất hành tinh.

     Muốn biết thêm về ông Hassan, tôi nhờ đến một người nói tiếng Anh lưu loát. Một sáng cuối tuần, tôi cùng cô cháu gái ra phố. Ý định là nếu gặp Hassan thì nhờ cháu dịch lại chuyện của hai người.

    Tôi gặp may. Trên đường, hai ông cháu nhìn thấy người lao công gần cây ô liu quen thuộc. Khi hai người vừa từ siêu thị bước ra, tôi chủ động gặp ông già. Trước mặt, cây ô liu xanh lại sau một đêm trời dịu.

    Cháu gái nói tiếng Anh lưu loát, tôi nhờ cháu dịch lời mình cho Hasan. Khoảng mươi phút sau, cháu bảo: ông Hassan nói tiếng Anh chưa sõi. Khi nói chuyện, ông thường chen thêm tiếng A rập.

    Bầu trời đang nắng đột nhiên dịu dần. Một sự hiếm hoi về thời tiết vùng sa mạc. Tôi chuyện trò với Hassan. Cháu gái dịch lại. Nào là hàng ngày ông đi làm lúc mấy giờ, công việc vất vả lắm không? Nào là ông có thường về thăm quê? Ông già bảo: “Công việc thì nhẹ, nó hợp với tuổi này. Chỉ phải đi làm rất sớm, nhưng lại khỏi bị nắng, và tránh xe đi lại đông đúc vào ban ngày. Ca sáng của tôi thường kết thúc trước tám giờ. Giờ việc đã xong, và tôi cũng muốn nghỉ rồi, vì hôm nay trong người mệt mỏi. Còn về thăm nhà thì thưa, vì một lần đi là phải dồn tiền…”

     Nghỉ một lúc, Hassan hỏi ngược lại tôi: “Ông bạn làm gì hàng ngày? Vậy à. Nhàn nhỉ.  Ôi, chúc mừng. Tạm biệt.”

    Ông cháu tôi nhận thấy người lao công già đang đói. Cháu gái nói nhỏ: “Cháu biếu ông ấy cột bánh mì?” Miệng nói, tay cháu lấy cột bánh mì và túi trái cây mới mua trong siêu thị biếu ông. Nhìn ông cháu tôi bằng đôi mắt ngượng ngùng, Hassan ngập ngừng rồi cúi đầu giơ hay tay đen đúa đỡ túi quà, miệng rối rít “Thank you very much”. Tôi quay mặt khi thấy ông già hơi run. Rồi ông ngẩng mặt lên nhìn bầu trời cao xanh thăm thẳm.

    Không muốn ông già tủi thân, ông cháu tôi chào rồi đi. Hassan nói với theo: “Thanks. Thanks Vietnam! Good luck!”

     Về đến nhà, cháu gái tôi thì thầm: “Nhìn ông già hom hem mà thấy tội lắm.”

    Cháu gái bận học rồi còn chơi với em, nhiều lần, tôi đi siêu thị một mình. Tôi tự tin vốn tiếng Anh hơn nhờ học từ chương trình Duolingo.

    Một buổi tối, tôi ra phố một mình với mong muốn biết thêm đời sống thường nhật về đêm của người dân Riyadh. Xe cộ nườm nượp trôi trên phố vì người ta ít đi bộ trên đường. Phía trước tôi, bóng cây ô liu loang rộng. Tôi gặp Hassan và người nữa từ trong siêu thị bước ra. Gặp tôi, Hassan vui lắm. Ông mời người bạn già đến nhà chơi. Tôi bước theo. Hóa ra, chỗ ở của Hassan gần siêu thị. Hassan mua thực phẩm bữa tối cho cả nhóm. Sáu người nhưng chỉ một túi bánh mì lớn, vài bó rau cải, mấy quả cà chua và tô cơm còn lại. Hassan giới thiệu tôi với mọi người bằng tiếng A rập. Chẳng hiểu ông nói gì mà ai nấy rối rít cảm ơn. Họ chuyển sang nói bằng tiếng Anh bằng đủ các thanh âm, nhưng tôi chỉ nghe được “Việt Nam à, Việt Nam. Việt Nam Hồ Chí Minh, Hà Nội, Võ Nguyên Giáp!”

     Mọi người trìu mến nhìn tôi. Sáu người lớn nhưng ở trong căn hộ chừng bốn chục mét vuông. Hai người già, còn lại ít tuổi hơn. Ba người Palextin, ba người Băng la đét. Không điều hòa, chỉ hai cây quạt, hai cái giường. Vật dụng trong phòng đều cũ, toàn những thứ không thể thiếu. Họ đều làm nghề dọn vệ sinh đường phố. Hassan nói: “Đã nhiều năm, căn nhà của chúng tôi không chỉ bốn bức tường mà là nơi sáu người từ hai đất nước cùng quây quần, cùng no đói. Tất cả đều chăm chỉ vì vợ con ở quê nhà. Ơn Chúa ban cho chúng tôi phước lành, sức khỏe.”

    Tôi lấy ví tặng mọi người tờ năm mươi sar (tiền A rập Saudi). Có lẽ do tờ tiền có mệnh giá lớn, Hassan ngại không dám cầm mà nhường cho người bạn già. Đồng tiền rung rung trên tay ông. Hassan giới thiệu với tôi về ông cụ. Đó là Abdul Karim, 65 tuổi, người Băng la đét. Họ cùng lần mò đến Riyahd để kiếm tiền nuôi mình và vợ con bằng công việc buồn tẻ, bụi bặm. Vậy mà mọi người vẫn nói với tôi rằng, ơn Chúa, thế là may lắm rồi. Mấy hôm sau, tôi gặp Hassan trên phố, ông bảo rằng anh em rất cảm ơn vì lòng tốt của ngài, cảm ơn Việt Nam. Họ lấy làm áy náy vì hôm ấy chẳng thể có món tử tế để chiêu đãi người bạn già. Dù Hassan không nói ra nhưng tôi hiểu, để mời tôi món gì đó tạm gọi là ngon thì trưa hôm sau khẩu phần ăn cả nhóm sẽ bị giảm trừ!

    Tôi lặng đi khi thấy đôi mắt rưng rưng của ông già Karim đang nhìn bầu trời đêm Riyahd.

    Qua tìm hiểu, tôi biết, ở Ảrập Saudi phụ nữ hay dân bản xứ không bao giờ làm những việc nhếch nhác như Hassan, ông già Abdul Karim và nhóm bạn của họ. xoàng xĩnh, ít tiền, làm giảm giá trị của bản thân. Thôi thì quét rác cũng được nhưng vẫn có chỗ nhàn, mát và đỡ tủi hơn. Như các siêu thị, công viên, trung tâm hành chính, trường học, bệnh viện, nhà thờ chẳng hạn. Nhưng kiếm được suất ở đây phải có người giới thiệu hoặc đứng ra bảo lãnh. Giống như mấy người bạn từ Băng la đét của Hassan, đa phần họ đến từ các nước Trung Đông, Bắc Phi, Ấn Độ hay Pakixtan... Chỉ dân những nước ấy mới làm công việc lương loanh quanh hơn nghìn sar một tháng. Số tiền chẳng nhiều nhặn gì so với thời giá hiện nay. Cho nên sang Ảrập Saudi, nước giàu ở vùng Trung Đông nhưng làm công việc hèn mọn nên họ chi tiêu tằn tiện. Bữa ăn hàng ngày đạm bạc. Với họ, có được miếng ăn, ngụm nước uống là tốt, là còn may. Chứ bị cắt visa, về nước thì cái đói sẽ đến ngay thềm cửa. Tuổi cao, văn hóa đẳng, nơi quê nhà như Băng la đet, Palextin, Xiri, Yêmen hay nhiều vùng đang có chiến sự ở Trung Đông, như họ hoàn toàn bị tước hầu hết cơ hội kiếm tiền, kể cả việc dơ dáy như moi cống rãnh hay vớt rác tù đọng từ các kênh mương...

     Dải Gaza của Hassan vẫn rền đạn bom. Dân tình điêu linh khốn khổ. Đất đai sa mạc cỗi cằn, dân lại quá đông. Người dân, đặc biệt là phụ nữ đang chịu nhiều rào cản. Còn Băng la đét thì thất nghiệp cao, lại luôn xảy ra biểu tình, bạo loạn. Đối tượng như Hassan và người bạn già của ông dễ rơi vào cảnh ăn xin, moi đồ ăn từ thùng rác, có khi còn bị chết đói nơi đầu đường xó chợ. Khó mà sống ở quê, khi phụ nữ, trẻ con nhìn mẩu bánh mì, giọt nước máy là mắt sáng lên như thấy sự sống được hồi sinh trở lại. Họ tìm đến miền đất hứa Ảrập Saudi chăm chỉ kiếm tiền để gửi về quê và gửi cả niềm hi vọng đất nước họ sớm được yên bình.

     Nhìn nơi ăn ở, rồi tận mắt thấy công việc hàng ngày của họ, tôi nghĩ đến bao mảnh đời cơ khổ mình từng thấy ở Ả rập Saudi. Họ từ vùng Nam Á, Trung Đông, châu Phi Tôi nghĩ về những đứa trẻ thất thểu đánh giày ở Hà Nội, bao mảnh đời nhếch nhác bán vé số ở Sài Gòn. Ở Việt Nam, cộng đồng làm nhiều việc để giúp người nghèo, còn ở Ả rập Saudi, người bất hạnh (chủ yếu từ nước khác tới) lăn lê tự xoay thì phải?

     Một sáng thứ sáu, ngày cả nước Ả rập Saudi nghỉ để người dân làm các nghi lễ để cầu nguyện, Hassan giật mình khi thấy tôi đứng lù lù ngay cửa. Ông cho biết: một người về Băng la đét tiễn người thân về với Chúa, hai người đi rửa xe. Hassan và hai người bạn già ở nhà. Họ không đến nhà thờ cầu nguyện mà làm tại nơi ở. Tôi đem theo nải chuối và túi bánh mì. Abdul Karim cúi gập người, lễ phép nhận túi quà. Cử chỉ cung kính toát ra từ trái tim. Tôi ngồi nghe những câu chuyện về quê nhà của họ, về phẩm giá của người phụ nữ Palextin, đức tin tôn giáo đối nghịch nhau ở Băng la đet. Ánh mắt ba người hấp háy. Chắp nối câu chuyện, tôi được biết ở quê họ, miếng ăn hàng ngày còn khó kiếm thì nói chi đến sự văn minh rực rỡ của phố phường như Riyahd này. Qua lời Hassan, ở dải Gaza, đa phần trẻ con thất học, người lớn có tuổi ngày qua ngày không biết làm gì để tiền. Các tổ chức nhân đạo quốc tế không phải lúc nào cũng hỗ trợ kịp thời, trong khi người cần giúp thì quá đông. Sự trợ giúp chỉ giảm bót khó khăn. Nhà cửa bị tàn phá, trường học, bệnh viện bị bom san phẳng, không biết khi nào mới xây dựng lại... Cả thế giới thấy và đồng cảm về sự thiệt thòi của người dân Palextin.

     Hassan nói: ông Abdul Karim có người cháu họ đang làm ở đại sứ quán Băng la đét tại Việt Nam. Qua người cháu, ông biết Việt Nam vốn nghèo đói bởi chiến tranh và bao vây cấm vận. Một đất nước từ nghèo đói, bị bỏ rơi, giờ là đất nước đổi mới từng ngày. Còn hòa bình cho Palextin chỉ là mơ. Giấc mơ được sống yên bình, trẻ con không bị đói và nỗi đau của sự đói dày vò...

     Hassan cho tôi hay, mười năm sống ở Ả rập Saudi, tiền kiếm chưa tới hai nghìn sar mỗi tháng, hơn gấp đôi ngày mới sang. Ông và những người cùng hoàn cảnh quanh năm rất chắt chiu để có tiền gửi về nhà. Để đỡ khó khăn, mấy người chia nhau đi rửa xe ô tô cho những nhà gần nơi nhà trọ. Hassan và Abdul Karim tuổi già sức yếu, lại không có xe máy nên loanh quanh gần chỗ trọ nên chỉ có thể làm phần việc của người đi rửa thuê xe nhường lại nên chỉ kiếm thêm được chút nào hay chút ấy. Ngày nghỉ, sáu người trong nhóm, người thì rửa ô tô, người dọn cống rãnh cho những ai có nhu cầu. Làm việc gì, Hassan, Karim và anh em cũng chịu khó, chân tình, tận tụy.  Còn tôi, họ nói rằng người Việt Nam tử tế. Việt Nam đã và đang giúp Palextin lặng lẽ nhưng đầy tôn trọng…

                                            ***

    Tháng bảy, nắng nóng vùng Trung Đông càng sôi sục. Các trường học đều đóng cửa. Hoạt động mua bán, vui chơi hầu như chuyển về đêm. Cây ô liu, nơi ông già Hassan hay đứng nghỉ đang gồng mình trước cái nóng. Bất chấp nghịch cảnh, nó vẫn sống, vẫn xanh nhờ đất, nước và sự tử tế của con người. Cây ô liu già giúp tôi giảm đi nỗi ác cảm về sự khắc nghiệt của thời tiết ở Trung Đông. Sự hào phóng của nó giúp Hassan hay Abdul Karim dù già rồi nhưng được truyền thêm sức, thêm sự linh thiêng để bám trụ ở xứ người.

     Hai ông già và những người bạn của họ không nói được tên tôi. Họ bảo tiếng Việt rất khó đọc, nhưng hình ảnh con người đất nước Việt Nam thì dễ nhớ, thì thân thương. Hình ảnh người Việt nam trong ký ức của người Trung Đông không ồn ào nhưng vô cùng bền vững. Còn tôi thì khó mà quên khi xa những bóng cây, cồn cát xứ này. Và không quên bóng ông già Hassan hòa lẫn bóng cây ô liu; không quên đôi mắt của hai ông già, thật thà đến phát khóc. Mỗi khi nhận chút quà từ tôi, họ cúi đầu cảm ơn Việt Nam. Việt Nam Hồ Chí Minh…

    Ngày mai tôi cùng bà vợ rời Ảrập Saudi. Tối hôm trước, tôi đến chào những người bạn và biếu họ hai túi táo. Hassan cúi đầu nâng bàn tay gầy nhận túi quà. Chỉ hai người già ở nhà. Bốn người đang tỏa đi các nơi lau rửa ô tô. Biết là sắp xa tôi, vẻ buồn hiện trên nét mặt Karim và Hassan. Ánh mắt họ rưng rưng. Hai người chân thành xin lỗi vì làm phiền tôi thời gian qua, rồi hỏi tôi có còn quay trở lại...

     Khi biết còn gặp nhau, vẻ mặt hai ông già như sáng lên. Họ chúc mừng tôi được sống ở một đất nước tuy chưa giàu nhưng đầy sự tử tế. Nhìn họ, tôi liên tưởng đến ông lão đan rổ mơ về nước Nga Xô Viết trong thơ Tố Hữu. Ông lão đan rổ chỉ để “Mai bán lấy vài xu.” Còn Hassan và Karim thì mơ bao giờ nước mình được như Việt Nam, để những người già như ông không phải chật vật mưu sinh ở xứ người.

   Tạm biệt cây ô liu cổ kính và khu phố luôn sạch tinh tươm. Tạm biệt các bạn của hai ông bạn già và thủ đô Riyahd hiện đại và phố Mahattan mơ màng như tranh. Những ngày ở quê, chắc tôi sẽ khó quên cây ô liu và cái nắng bùng lửa vùng Trung Đông. Nhớ những lần nhận túi quà nhỏ, hai ông già như bị nghẹn. Họ nhìn thẳng vào tôi, người gieo tình gặt tín. Xe lao nhanh về phía sân bay Quốc vương. Hai bên đường, hàng cây chà là và những cây lấy bóng mát đang vật vờ trong nắng. Nhưng chúng vẫn sống vì bao năm dồn tụ phẩm chất kiên cường. Ngồi trong khoang máy bay trở về Nội Bài, tôi nghe trở đi trở lại câu nói của ông già người Palextin nghèo khổ: Việt Nam à? Việt Nam Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp!

 8.2024.
T.T.L

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây