Hướng tới ĐH Hội Nhà văn VN lần thứ X : VĂN HÓA NHÀ VĂN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HỌC

Thứ hai - 14/09/2020 09:59
Bùi Việt Thắng

LTS. “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” (Hồ Chủ tịch). Văn hóa là nền tảng của một xã hội phát triển bền vững. Một nền văn học lớn phải dựa trên căn cốt văn hóa. Một nhà văn lớn phải là một nhân cách toàn diện với trữ lượng văn hóa dồi dào. Văn học Việt Nam đương đại đang phát triển theo đường hướng nào luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm không chỉ của văn giới mà của toàn xã hội. Tiếp cận văn học từ văn hóa là phương pháp khả thủ nhất hiện nay.
Hướng tới ĐH Hội Nhà văn VN lần thứ X :  VĂN HÓA NHÀ VĂN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HỌC

 
I. TIẾP CẬN VĂN HỌC TỪ VĂN HÓA

      Văn hóa là một phạm trù/khái niệm vĩ mô, theo định nghĩa của UNESCO: “ Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”. Định nghĩa tổng quát này giúp chúng ta tri nhận chân lý: Mọi hoạt động của xã hội loài người hướng đến tiến bộ, phát triển, nhân văn đều không nằm ngoài văn hóa.

 Văn học là một hình thái ý thức đặc thù, thuộc thượng tầng kiến trúc. Ở Việt Nam, đã có một thời gian, văn học được tiếp cận, phân tích từ góc độ xã hội học (đôi khi đơn giản, bình quân chủ nghĩa máy móc), điều đó không tránh khỏi cực đoan. Nhưng sau đó chúng ta lại sang một cực đoan khác khi một số ít người gần đây vội vã tiếp thu lý thuyết ngoại nhập (một cách thiếu chọn lọc), thiên về tiếp cận văn học từ chủ nghĩa Cấu trúc, chủ nghĩa Hình thức, Phân tâm học, Ký hiệu học,... Từ thập niên 90 của thế kỷ tước đã dấy lên trên toàn thế giới phong trào đề cao văn hóa (chẳng hạn Nghị quyết của Liên Hợp Quốc coi thập kỷ 1988-1997 là “thập kỷ phát triển văn hóa thế giới”). Văn hóa, vì thế là khởi điểm và là đích đến của các xã hội phát triển bền vững.

Tiếp cận văn học từ văn hóa là nhận thức được các giá trị mới của một hoạt động tinh thần đặc thù góp phần phát triển xã hội. Trở lại với Phong trào Thơ mới 1932-1945, chúng ta sẽ thấy vì sao nó được coi là một cuộc cách mạng trong thi ca/văn học. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đang hội nhập văn hóa thế giới dưới ảnh hưởng của văn hóa phương Tây (lúc này chủ yếu là văn hóa châu Âu và Pháp), văn học Việt Nam trở dạ, làm cuộc chuyển đổi hệ hình ngoạn mục từ phạm trù “trung đại” sang “hiện đại”. Cái giá trị mới mà Thơ mới nói riêng, văn học lãng mạn nói chung tạo dựng được chính là đề cao giá trị cá nhân (có ý kiến đang gây tranh luận cho rằng nó ngược với tính “phi ngã” của văn học quá khứ, tức văn học trung đại). Xuân Diệu viết: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất/ Không có chi bè bạn nổi cùng ta” (Hy Mã Lạp Sơn, 1935-1941). Nhà văn tự ý thức về giá trị của cá nhân là xuất phát điểm để tái hiện nghệ thuật cuộc đấu tranh đôi khi không phân thắng bại giữa cá nhân và xã hội, giữa truyền thống và hiện đại, giữa chấp nhận và “nổi loạn” như nhà văn Hoàng Ngọc Phách đã thể hiện thành công trong Tố Tâm (tiểu thuyết, 1925). Một cuốn sách dày chưa đến một trăm trang nhưng gây bão trên văn đàn đương thời và cho đến tận những thập kỷ đầu thế kỷ XXI nó vẫn có vai trò “khai sơn phá thạch”, vẫn có ý nghĩa mở đường cho sự tìm tòi nghệ thuật về con người thời đại.

Cũng chính Xuân Diệu (nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới”) và thế hệ của ông sau Cách mạng tháng Tám (1945) lại hướng ngòi bút tới việc tìm tòi những giá trị mới trong thời đại mới. Nói theo cách của nhà thơ Chế Lan Viên, thế hệ ông trải qua một chặng đường “từ thung lũng đau thương đến cánh đồng vui”, đó chính là “cuộc tái sinh màu nhiệm” khi cả một thế hệ nhà văn trước 1945 đồng lòng, tự giác đi theo Cách mạng, hòa mình vào đời sống chiến đấu và lao động vĩ đại của nhân dân. Từ ngày ấy, giá trị họ kiếm tìm và thể hiện trong tác phẩm nghệ thuật lại là mối quan hệ riêng - chung. Không hề ngẫu nhiên khi thi sỹ Xuân Diệu đã ra mắt tập thơ Riêng chung (1960) đánh dấu bước chuyển biến dứt khoát, mạnh mẽ, thành công của người nghệ sỹ khi tìm thấy cảm hứng và chất liệu sáng tác từ chính đời sống của nhân dân cần lao. Một thi sỹ vốn lấy cái “Tôi” làm trung tâm vũ trụ nay chuyển hóa tư tưởng - tình cảm: “Tôi đi trên đất nước thân yêu/ Không biết bao nhiêu, chỉ biết nhiều/ Ngói mới/ Muốn trùm hạnh phúc dưới trời xanh/ Có lẽ lòng tôi cũng hóa thành /Ngói mới” (Ngói mới, 1959). Đó cũng là thời kỳ Chế Lan Viên cô độc từ Điêu tàn (1937) tiến thẳng đến Ánh sáng và phù sa (1960), Huy Cận từ Lửa thiêng (1940) đã hân hoan, tưng bừng với Đất nở hoa (1960).

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) một thế hệ nhà văn mới đã xuất hiện. Họ là những người trẻ tuổi, tâm hồn phơi phới lý tưởng: “Không có sách chúng tôi làm ra sách/ Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình” (Hữu Thỉnh: Đường tới thành phố). Thế hệ nhà văn chống Mỹ được đào luyện và trưởng thành dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Họ được trang bị bằng truyền thống văn hiến/văn hóa dân tộc, họ được tiếp cận di sản văn hóa thời hiện đại thông qua các tiền bối cách mạng. Các nhà văn thế hệ này thấm nhuần văn hóa quá khứ bởi tinh thần quật khởi dân tộc qua Bình ngô đại cáo, Hịch tướng sỹ, Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc, Nhật ký trong tù, bởi tinh thần nhân văn qua kiệt tác Truyện Kiều. Tổ quốc, độc lập tự do, hòa bình là những giá trị mới mẻ mà các nhà văn thế hệ chống Mỹ đã mặc nhiên coi là sứ mệnh sáng tác của mình. Những ngày tháng chiến tranh ngân vang những vần thơ: “Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn ngàn năm!/Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?/ Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất/Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc/Nguyễn Du viết Kiều và đất nước hóa thành văn/ Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc/ Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng” (Chế Lan Viên: Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng, 1965). Có người nói, đó là thời đại của cái “chung” lớn hơn (đôi khi làm lu mờ) “cái riêng”, con người cá nhân phải hy sinh tận cùng vì nghĩa lớn. Nhưng trên quan điểm lịch sử - cụ thể thì nhận thức đó, tâm thế đó, hành xử đó là tất yếu, không thể đảo ngược. Nếu Tổ quốc không có độc lập tự do, đất nước không có hòa bình, xã hội không ổn định thì con người cá nhân tìm đâu ra cơ hội để thi thố, để an cư lạc nghiệp.

 Văn hóa cũng như các lĩnh vực xã hội khác hiện tại đang nổi cộm nhiều vấn đề. Bước vào cơ chế thị trường (định hướng xã hội chủ nghĩa), chúng ta đang mải miết, chú mục hăng say hướng tới tăng trưởng kinh tế nên đôi khi sao nhãng văn hóa, môi trường và các lĩnh vực tinh thần khác. Ai đó nói chí lý, văn hóa là tay phanh, kinh tế là tay ga (!?). Văn hóa là sự điều hòa xã hội ứng nghiệm. Văn học Đổi mới (từ 1986) sau đà thăng tiến trong khoảng mười lăm năm đầu hiện đang chững lại, thậm chí có vẻ đang lúng túng vì bản thân công cuộc Đổi mới từ 1986 đến nay cũng trải qua những giai đoạn, yêu cầu, quyết sách, mục đích không giống nhau. Thời kỳ đầu Đổi mới, văn nghệ sỹ hồ hởi với khẩu hiệu “cởi trói”, với phương châm “tự cứu mình trước khi Trời cứu”. Xét về văn hóa, xã hội đang có sự thay đổi, thậm chí khủng hoảng về các giá trị. Các quan hệ xã hội đang bị chi phối ngặt nghèo bởi lợi ích (kể cả lợi ích nhóm). Văn nghệ sỹ sau những vô tư cống hiến cho sự nghiệp chung trong chiến tranh đang muốn trở về với những đòi hỏi tự thân như tự do sáng tác, tự do thể hiện cá tính, tìm tòi nghệ thuật trong khung cảnh thế giới phẳng. Đang có xu hướng đề cao “văn hóa là chấp nhận cái khác mình”. Giới trẻ trong lĩnh vực nghệ thuật/văn học đang cổ vũ cho thuyết “tự ngã trung tâm”. Họ đứng giữa cuộc đấu tay đôi “riêng - chung”. Nhưng rốt cuộc họ ngả về bản thân, cá nhân (đôi khi cực đoan). “Văn trẻ giỏi thêu thùa bản thân nhưng kém vá may cho người khác” - nhận xét của nhà thơ Hữu Thỉnh không phải không có lý lẽ của nó. Không thể phủ nhận sáng tác nghệ thuật là nhằm thể hiện cái riêng của chủ thể. Không thể phủ nhận giá trị của cá nhân khi chính nó góp phần tạo nên xã hội. Nhưng cá nhân theo lối ích kỷ (vị kỷ) sẽ khiến kết quả đi theo hướng khác. Đọc văn trẻ, sẽ thấy nhiều những “cô độc”, “cơ bản là buồn”, “bóng đè”,... Không riêng gì “văn trẻ”, ngay “văn già” đôi khi, ai đó cũng không tránh khỏi chung chiêng, lúng túng khi không xác tín được tác phẩm của mình đem tới giá trị mới nào cho độc giả. Chính vì thế chấn hưng văn hóa là cơ hội chấn hưng văn học. Một nền văn học lớn phải được dựng xây trên nền tảng văn hóa vững chắc.

II. ĐẾN HIỆN ĐẠI TỪ TRUYỀN THỐNG - TINH THẦN TIẾP BIẾN VĂN HÓA CỦA NHÀ VĂN

 Xét về phạm trù thời gian, tồn tại của xã hội luôn là sự gắn bó mật thiết, biện chứng giữa quá khứ và hiện tại. “Đến hiện đại từ truyền” thống là cách diễn đạt của nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đình Huợu (1927-1995) trong tác phẩm cùng tên (Nhà xuất bản Văn hóa, 1996). Quan điểm của nhà khoa học có tính chất gợi mở nghiên cứu tư tưởng/ văn hóa/ văn học dựa vững trên cơ sở triết học. Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam diễn ra trong khoảng thời gian 15 năm (1930-1945), được nhận thức như là ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa phương Tây (hiểu là văn hóa châu Âu và Pháp). Tất nhiên không thể phủ nhận thực tế khách quan này. Nhưng rất ít người có suy nghĩ nghiêm túc theo quan điểm của nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đình Hượu - chúng ta đến hiện đại từ chính truyền thống văn hóa dân tộc. Những nhà văn lớn trong quá khứ đều là những nhà văn hóa từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Hồ Chí Minh.

 Các nhà thơ trong phong trào Thơ mới (1932-1945) lâu nay được xem là những nhà cách tân thơ dưới ảnh hưởng của thơ ca lãng mạn Pháp. Người ta thường bấu víu vào những câu thơ sau của Xuân Diệu: “Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine/ Hai chàng thi sĩ choáng hơi men/ Say thơ xa lạ, mê tình bạn/ Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen” (Tình trai) để nói về “chất Tây” của thơ Xuân Diệu và các thi nhân khác cùng thời. Nhưng ít ai để ý, sau này Xuân Diệu đã viết công trình đồ sộ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (2 tập, 1981-1982, ngót 1000 trang). Công trình tiếp cận  các nhà thơ cổ điển dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Nguyễn Đình Chiểu, Tản Đà,... Rõ ràng Xuân Diệu thấm nhuần di sản văn hóa truyền thống dân tộc đến độ sâu rộng. Nhiều người  nghĩ chỉ có Nguyễn Bính viết lục bát (một  thể thơ thuần Việt) hay, nhưng sẽ bất ngờ nếu đọc lục bát Xuân Diệu: “Đêm qua bốn phía trăng vàng/Bên em anh cứ bàng hoàng tỉnh mơ/ “Tưởng bây giờ là bao giờ”/ Thật đây, em vẫn là thơ trên đời/ Dấu nằm còn đó em ơi/ Dấu hương vương vấn từng hồi ngất ngây/ Thoảng thơm lan xạ nào tày/ Hơi thương em thở, ngát đầy hồn anh” (Dấu nằm). Trong tiểu luận xuất sắc Sự uyên bác với việc làm thơ (1985), Xuân Diệu viết: “Chao ôi! Chúng ta làm việc còn quá ít, chúng ta yêu thơ văn của dân tộc còn thiếu sót quá; thơ của chúng ta mấy chục năm qua đã hay rồi, tuy nhiên theo tôi nghĩ, nếu chúng ta tiếp nhận đầy đủ sâu sắc hơn nữa cái vốn truyền thống của cha ông, thì thơ hiện kim của ta còn có thể hay hơn nữa, sâu hơn nữa, phải uyên bác chứ (…). Đối với vốn thơ dân tộc, chúng ta còn nhiệm vụ uyên bác hơn nữa, để rút tối đa mật nhụy - Tôi xin chuyển sang cái niềm vui đi hút mật nhụy, đi thâu lượm, hãy chỉ để nói về thơ, cái hay của thơ cổ kim Đông Tây (…). Thơ Việt Nam ta rất nhiều chất nhạc, mà điển hình là lục bát của Nguyễn Du trong Truyện Kiều, và song thất lục bát trong Chinh phụ ngâm, thơ thất ngôn của Hồ xuân Hương tính nhạc rất nôm và thật trong sáng”. Thơ Tố Hữu, về loại hình là thơ trữ tình - chính trị, nhưng về giọng điệu thì chan chứa chất dân ca miền Trung, đặc biệt xứ Huế mộng mơ. Thơ lục bát Tố Hữu vừa truyền thống vừa hiện đại (Bầm ơi, Việt Bắc, Kính gửi Cụ Nguyễn Du,…).

 Phần trên, chúng tôi nói về tiếp biến truyền thống thơ dân tộc ở những nhà thơ tài năng thời hiện đại. Trong lĩnh vực sáng tác văn xuôi, Nguyễn Công Hoan (1903-1977) vẫn được coi là một cây đại thụ với gia tài khoảng 300 truyện ngắn và nhiều truyện dài/ tiểu thuyết. Có thể nói, không ai khác, chính Nguyễn Công Hoan là người tiên phong mang tiếng cười vang dội vào văn đàn Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Người ta nói, “tiếng cười là vũ khí của người mạnh”, là “phép vệ sinh tinh thần”, “một nụ cười bằng mười thang thuốc”, là “cách giã từ quá khứ để đi tới tương lai”,…Đặc biệt, truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thấm đẫm tiếng cười về một thế gian chứa chất ái ố hỷ nộ, tham sân si. Giới nghiên cứu đã chỉ ra nguồn suối folklore (văn hóa dân gian) tạo nên nguồn mạch cảm xúc sáng tác của nhà văn. Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan gần gũi với truyện cười, ngụ ngôn, giàu tính giễu nhại, hài hước, xét về cảm hứng sáng tác và hiệu quả thẩm mỹ. Về kết cấu, truyện ngắn Nguyễn Công Hoan rất năng động, gọn nhẹ, linh hoạt, có thể đọc bất cứ ở đâu, lúc nào. Một lối kết cấu gần với loại hình truyền khẩu, vì thế truyện có thể kể lại cho người chưa đọc nghe, mà vẫn tinh tươm (Người ngựa, ngựa người chẳng hạn).

 Văn học Việt Nam đương đại, đặc biệt từ sau Đổi mới (1986) đã gặt hái nhiều thành tựu (thông qua các giải thưởng thường niên của Hội Nhà văn Việt Nam và các giải thưởng Quốc gia như Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT, Giải thưởng Nhà nước về VHNT). Nhưng xét trên phương diện phát triển bền vững, sẽ thấy không ít vấn đề, lực cản, nằm chính trong đội ngũ nhà văn (lực lượng sáng tác). Thế hệ tiền chiến (trước 1945) đã vắng bóng hoàn toàn trên văn đàn (chỉ còn nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, đã 100 tuổi). Thế hệ chống pháp chỉ còn rất ít (tiểu biểu như Vũ Hạnh, Hồ Phương, đã trên 90 tuổi), thế hệ chống Mỹ đã hoàn thành sứ mệnh của mình trong và sau chiến tranh. Chủ lực trên văn đàn hiện nay đa số là những tác giả sinh từ những năm 50 của thế kỷ trước. Quan sát thực tế sáng tác, sẽ thấy thế hệ 6x, 7x, 8 x, 9x, nhìn chung đang có xu hướng, tâm thế khước từ, xa rời truyền thống văn hóa/văn học dân tộc. Họ đang say mê thích thú tìm kiếm con đường tới hiện đại bằng cách “nhập cảng” các chủ nghĩa Hậu hiện đại, Hậu thực dân, Nữ quyền, Sinh thái, Phi lý,… Tất nhiên chúng ta không thể “ếch ngồi đáy giếng”, phải biết “ngoài trời còn có trời”. Nhưng ít người nghĩ rằng, viết là trước hết cho 100 triệu người Việt (trong và ngoài nước) đọc. Trong bối cảnh giao lưu văn hóa, thế giới phẳng/mở thì một sản phẩm văn hóa có giá trị của một quốc gia có thể trở thành văn sản chung của nhân loại.

 Mới đây, chúng tôi đã làm khách mời cho chương trình Sách & cuộc sống của VOV, giới thiệu tác phẩm Bến không chồng (tiểu thuyết, 1990) của Dương Hướng. Tác phẩm được chuyển thành phim (phim truyện và phim truyền hình đều của đạo diễn Lưu Trọng Ninh), nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, 1991, được dịch sáng tiếng Anh và Pháp, được tái bản nhiều lần. Ba mươi năm đời sống của một tác phẩm, liệu đã là bằng chứng cho sức sống của nó? Gần đây ở quê hương nhà văn (UBND xã Thụy Liên, huyện Thái Thụỵ, tỉnh Thái Bình phối hợp với Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Quảng Ninh) đã xây dựng khu lưu niệm (bia đá) tác phẩm Bến không chồng. Vì sao nó được tiếp nhận đặc biệt như thế? Theo tôi, tác phẩm đã vượt ra ngoài phạm vi văn học thông thường, nó trở thành một hiện tượng văn hóa đương đại. Tác giả trở lại với vấn đề văn hóa truyền thống Việt Nam - văn hóa làng xã, cộng đồng, những vấn đề của “tam nông” - trong và sau chiến tranh với bao mất mát đau thương, với những phận người kém may mắn, đặc biệt là phụ nữ. Xét về nghệ thuật tiểu thuyết, Bến không chồng nằm trong phên giậu của truyền thống văn học: Lối kể chuyện theo trình tự thời gian, ngôn từ chân phương, dân dã, bố cục sáng rõ (không mù mờ như hiện nay khi một số tác giả viết theo phép “mê lộ” của chủ nghĩa Hậu hiện đại). Đặc biệt nhà văn tiếp cận, phát hiện con người từ tầng sâu văn hóa dân tộc (qua ứng xử, qua ngôn ngữ, qua thái độ với tự nhiên,…). Thành công của Bến không chồng là đã đến được hiện đại từ truyền thống, một tác phẩm văn học có căn cốt văn hóa.

Truyền thốnghiện đại là hai phạm trù mà bất cứ lĩnh vực nghệ thuật nào cũng phải đối diện, giải quyết trong thực hành sáng tác, không riêng văn học (nghệ thuật ngôn từ). Trong vòng vài chục năm gần đây, Nguyễn Huy Thiệp nổi lên như một nhà văn tài năng, “kẻ khuấy động văn đàn đương đại Việt”. Tác phẩm của ông được dịch và xuất bản bằng nhiều thứ tiếng trên thế giới. Độc giả phương Tây thích đọc Nguyễn Huy Thiệp, đã đành. Độc giả Việt vốn ham thanh chuộng lạ, sùng ngoại nhưng cũng đón nhận nồng nhiệt Nguyễn Huy Thiệp. Vì sao? Người ta nói đã/đang/sẽ phải “đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” . Vì lý do gì? Gạt sang một bên những chỉ  trích về những thiếu sót khó tránh khỏi , chúng ta thấy, nhà văn đã khôn ngoan chọn đi con đường đến hiện đại từ truyền thống. Không nên khoác cho Nguyễn Huy Thiệp bộ “xiêm áo” của chủ nghĩa Hậu hiện đại trong văn học Việt Nam đương đại (cùng với Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái,…). Đọc kỹ, sẽ thấy văn Nguyễn Huy Thiệp chảy ra từ nguồn suối truyền kỳ trong văn học trung đại (Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, thế kỷ XVI, chẳng hạn). Ngay lối viết phối hợp vần văn (thơ) và vận văn (văn xuôi) đã cho thấy tác giả rất có ý thức dùng “bình cũ rượu mới”.  

 ( Còn nữa ) BVT                                           

Nguồn tin: , bài: NHN::

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây