Khách của làng

Thứ năm - 14/05/2020 11:29
Truyện ngắn của Liêu Chí Trung

 

                        

Mới nhìn qua, ai dám bảo lão đã ngoài sáu mươi. Chiếc đầu húi cua thỉnh thoảng mới thò ra một vài sợi bạc, lão vẫn có thể sâu kim mà không cần đeo kính. Khúc tường rào nham nhở của sân kho hợp tác xã - dấu ấn còn sót lại sau mấy chục năm làm ăn tập thể - trước nền kinh tế mở, như để dành cho lão. Có lẽ chỉ những lúc bận ăn hoặc ngủ, còn suốt ngày đêm lão ngồi lỳ ở đó. Dân làng Hạ dù giữa lúc nông nhàn hay hối hả với mùa vụ, lão mặc kệ. Lão đâu cần biết đến ai, bất biết xã hội xáo trộn thế nào, miễn đừng đứa nào đụng tới lão là được. Nói vậy nhưng tai lão vẫn thính. Cả ngày lão ngồi như pho tượng bên đường, đôi mắt đờ đẫn như vô cảm trước dòng người xuôi ngược thật đấy, nhưng hễ ai nói đến chuyện giỗ tết, cỗ bàn ở đâu thì lão quan tâm. Chả vậy mà hôm nay nhà nào có cưới, ngày mai nhà ai có giỗ, không kể đầu làng hay cuối xã, lão biết cả. Cứ ở đâu có cỗ là lão đến. Người ta bảo vì lão chả phải nghĩ ngợi gì, rượu thịt đều đều nên lão khoẻ. Lão còn thọ. Chỉ hèm đôi chân lão thì yếu thật. Có lần hứng chí, lão cho bọn trẻ chúng tôi xem đôi dép cao su - vật bất ly thân của lão. Thì ra lão bị mắt cá chân. Lòng đôi dép cao su dễ đã được sử dụng cả chục năm trời có tới mười mấy hố mòn to như những viên khoai bi. Lão kể: “Tao nghe nói thằng bác sĩ Thìn mổ được mắt cá. Tao hỏi, nó bảo mổ một chiếc phải trả hai tạ thóc. Chân tao thế này thì cả kho thóc của hợp tác xã cũng đếch đủ. Cứ đặt vậy đã sao”. Rồi lão cười ra vẻ đắc chí. Mà chân lão thế cũng chẳng sao thật, bởi với lão hàng ngày chỉ mỗi việc đi uống rượu ở làng, gặp cỗ xa lão đi sớm một chút là được.

Minh họa: nguồn báo Tuổi trẻ
Hồi mới làm “khách của làng” - câu người làng tôi thường dùng để nói về việc lão cứ tự nhiên đến ăn ở mọi nhà - lão còn có vẻ giữ thể diện. Nhà nào “tiếp đãi” không tử tế, ví như để lão ngồi với bọn trẻ ranh, thế nào cũng có chuyện. Lão sẽ ngồi lỳ ở mâm cỗ khách hay đứng ỳ trước cổng nhà gia chủ mà làu bàu cả buổi. Hay ví nhà nào không hiểu mà để lão ăn sau hoặc xếp ngồi ăn ở chỗ không tươm tất. Lão vẫn ăn uống như thường, nhưng ăn xong thế nào lão cũng chửi. Lão chửi tuốt, chán mồm thì về. Ai nói, lão chửi lại. Còn đánh lão? Hẳn chẳng ai dám rồi, vì lão tứ cố vô thân, dây vào, lão ăn vạ còn khổ hơn, tốt nhất là nhờ người ngon ngọt để lão bỏ qua cho, chứ không thì có ngày bẽ mặt với quan khách.

Lúc trước, ăn cỗ lão chỉ cốt no, say. Có người bảo “Bây giờ ai đi cũng lấy phần, sao ông không đem cái túi đi đem những đồ thừa về ăn bữa sau?”. Lão lên giọng “Đi uống rượu chứ như các bà đâu mà làm cái trò ấy...”. Thế nhưng bây giờ thì lão “làm cái trò ấy”. Chỉ cần một chiếc túi nilon là lão có thể dùng được mấy tháng. Ăn uống xong, còn sót thứ gì ở mâm, lão trút tuốt, chỉ trừ mỗi canh rau. Ở cái làng có tới gần hai ngàn hộ dân, ngày nào lại không có cỗ (?). Có bữa trùng tới mấy nhà, rượu thịt bừa phứa, tội gì mà ăn rau canh cho khổ. Đời lão chỉ có rượu. Lão cứ say, cứ ngật ngưỡng suốt ngày. Bây giờ lão cũng chẳng cần quan tâm đến cái mà người ta cho là “thể diện” để làm gì. Gia chủ xếp cho ăn một mình, ngồi ăn dưới bếp hay rìa đống rơm cũng tốt, càng ít người qua lại, đỡ phải chào hỏi, tiếp đáp phiền phức, miễn cứ rượu thịt cho đủ.

Rồi cũng chẳng biết từ bao giờ, người ta gán cho lão cái tên mới: “Chí Phèo phảy”. Không biết Chí Phèo ngày xưa có chia phần cho người khác không, chứ lão thì có. Có bận giữa trưa đi học về, tôi thấy bên cạnh mâm cơm có mảnh lá chuối đựng mấy miếng lòng lợn và một góc khoanh giò. Như hiểu điều thắc mắc của tôi, mẹ bảo: “Bác Bân cho ông đấy, nhưng ông bảo không ăn”. Tôi chưa kịp hình dung hết chiếc túi nilon chuyên dùng để đựng phần xôi, thịt và bàn tay cáu bẩn do thường phải ấn lòi dom của lão thì đã được dịp làm phúc. Thằng bé hàng xóm vừa ào tới, chưa để tôi nói hết câu, nó đã vớ lấy phồng mang trợn mắt xơi một cách ngon lành. Nhưng cũng không phải ai cũng được lão chia phần. Ví như ông nội tôi là người lúc nào cũng được lão khoe “nể phục cụ nhất làng, cái làng Hạ này ai tiên chỉ hơn cụ”, mới có may mắn như thế. Quả có vậy. Lão có thể cãi nhau với bất cứ ai, sinh sự đủ chuyện, nhưng cứ ông tôi ra là yên. Nhiều khi rượu bốc lên lão còn xưng “con” với cụ nữa chứ. Lão cũng thường tìm đến nhà tôi để dốc bầu tâm sự mỗi khi có chuyện. Bố tôi công tác lâu ngày về, lão bảo “Nhà mình tình cảm, đói quá lại được cụ và thím cho ăn”. Nói đến ăn lại phải kể tới chiếc dạ dày của lão. Gặp gì lão cũng ăn, rượu uống tỳ tỳ mà không hề hấn, bệnh tật gì. Nhiều khi chỉ một chai rượu, thế là lão nhịn ăn được hai, ba ngày. Chỉ tới khi rượu hết, cả làng không có đám, cái dáng bơ phờ của lão mới khật khưỡng xin ăn. Song xin ăn, lão cũng rất biết ý. Chỉ những nhà nào lão thích, lão mới đến. Như hiểu tính lão nên mỗi lần thấy lão cứ loanh quanh trước sân, giữa khi cả nhà đang dùng bữa, mẹ tôi lại xúc giấu cho lão một bát cơm to. Cũng có khi bí quá, lão tìm đến mấy bà già buôn thúng bán mẹt trong xóm mua chịu. Lão mua chịu nhưng không bao giờ ăn quỵt. Thi thoảng lão vẫn có tiền. Tuy không lao động, nhưng lão có hơn sào ruộng được chia theo nhân khẩu và mấy thước ruộng thuộc diện “đất phần trăm”. Cứ đầu vụ, lão lại bán trương, thế là có ngay mấy chục ngàn. Rồi hàng tháng lão còn được xã trợ cấp cho một ít tiền dành cho diện hoàn cảnh khó khăn. Có tiền, lão đem trả nợ, còn dư bao nhiêu lão đổ vào rượu. Hết thì thôi, chả cần. Cơm làng, nước làng. Không lẽ cái làng vốn nổi tiếng truyền thống văn vật này lại hết cỗ, lại để lão chết đói (?). Ăn đã vậy, áo quần lại chẳng phải may, nếu cần lão xin vài bộ của người quá cố là mặc không hết. Còn đồ dùng hàng ngày? với lão chỉ một chiếc chậu sành từ hơn chục năm trước còn sót lại đã đủ lắm rồi. Ớ một mình nằm đất đã quen, rét quá, lão ra ngoài đường vơ ôm rơm về rải ổ. Nhà ư? Bao năm nay, vẫn cái chái hơn hai mét vuông ở sát chùa làng là nơi lão đi về mỗi ngày. Nếu trời đổ mưa gió làm tốc mái, lão kiếm miếng nilon rách, đè cho mấy cục gạch lên là kín chán. Lão chả sợ gì sất.

Có lần bọn trẻ chúng tôi dại dột hùa nhau trêu lão. Giữa đêm, một lũ nhóc đến đấm vào vách nhà lão. Lão chửi. Biết lão không đuổi được, càng đấm. Không ngủ, lão dò dẫm ra tường rào sân kho ngồi. Sáng ra, lão lấy luôn mấy nắm bùn nhão dưới rãnh trát lại chỗ vách thủng rồi chui vào ngủ. Cuộc đời lão tưởng chỉ vậy, nào ngờ lớn thêm mấy tuổi, chúng tôi được nghe về cuộc đời lão qua những mẩu chuyện chấp vá ở làng.

Sinh ra trong gia đình khá giả, bố mẹ Bân là những nông dân hiền lành chỉ biết chí thú làm ăn. Những mong rồi có ngày cậu bé Bân sẽ theo gót cha ông lọt vào làng khoa bảng làm rạng danh cho họ tộc nên họ đã dành hết tình thương yêu để cậu được sớm tối yên tâm đèn sách. Nhưng sự đời lắm khi trớ trêu, ông bà sớm khuất núi để lại Bân mới hơn chục tuổi đầu cùng mấy sào đất sau bao năm chắt bóp. Quen được nuông chiều, Bân đua theo những thói ăn chơi nên chẳng mấy chốc vốn liếng bố mẹ đặt cho đã rơi vào tay kẻ khác. Bân đăng lính khố xanh được hơn năm thì cách mạng tháng Tám thành công. Là người võ vẽ chút chữ nghĩa, Bân được bố trí vào chân thông tin, sau đó đi dạy bình dân học vụ ở xã. Hoà bình lập lại, rồi hợp tác xã hình thành, Bân xung vào tổ cày. Thời gian này Bân là một xã viên siêng năng, anh ta được đoàn thể giúp đỡ cưới vợ. Vợ Bân là cô gái nết na ở xóm trên, và không ít người đã tin vào sự vươn lên của đôi trẻ ấy. Nhưng Bân đâu cam chịu. Quen vui chơi đàn đúm, Bân ăn cắp mấy bao lúa của hợp tác xã, thế là người ta đưa Bân đi cải tạo. Mãn hạn, Bân lùi lũi trở lại quê mở hiệu sửa chữa xe đạp. Thế rồi, chứng nào tật ấy, Bân lại xoáy một chiếc xe đạp của khách. Thêm một lần nữa, họ đưa Bân đi. Bặt vô âm tín mấy năm, vợ Bân đi lấy chồng. Một sáng, người ta thấy Bân trở về làng. Bân đến chơi từng nhà và mượn mảnh đất ở sau chùa dựng một túp lều để ở.

Nhưng rồi người làng đàm tiếu. Người ta ngại tiếp xúc với Bân. Bởi không gì, trước đây có thời gian Bân từng đi lính Pháp, từng là kẻ phạm tội. Nhất là ở cái thời ấy, sống trong cái làng này thì càng nghèo càng tốt. Đàng này... Bân lại là kẻ mang án hình sự, như thế thật chả khác gì kẻ mắc bệnh phong cùi. Để người làng dị nghị, không những khó ngóc đầu lên được mà còn làm bẽ mặt cả họ tộc, tiếng xấu để đời. Không nói đâu xa, chuyện nhà Dậu ở xóm Đông đấy. Chỉ vì ông cụ nội làm mõ làng mà mấy đứa cháu gái xinh xắn, nết na là thế mà có ma nào dám xin cưới hỏi đâu (!). Hay nhà thằng Phát ở cuối làng, cũng do bà cụ thân sinh ra ông nội nó dám cả gan bê cả chiếc đỉnh đồng ở đình đem bán từ hồi nảo hồi nào, nhưng vẫn như chuyện hôm qua. Bân tìm đến rượu và bỏ bê công việc. Người ta chẳng quan tâm. Rồi cũng chẳng biết do lão hay tại những quan niệm muôn đời ở nông thôn mà lão dần bị cô lập với cộng đồng. Người làng còn kể, trong thời gian này Bân cũng dẫn về làng mấy cô gái. Bân nhờ người mai mối, đại diện đàng nhà trai. Nhưng thời buổi nước sôi lửa bỏng thế, ai dám. Bân tìm đến ông tôi. Vốn tính thương người, cụ nghĩ: chắc có vợ rồi lão sẽ chí thú làm ăn nên cụ đã đứng ra tổ chức cưới vợ cho Bân. Song cái lẽ đời thật khó thay đổi. Cơ hội hoàn lương vừa hé ra, lão lại gây sự rồi trộm cắp khiến cả làng mang tiếng lây, Công an huyện liệt Bân vào sổ đen. Và rượu đã vận lấy đời lão. Cuộc đời lão cứ vất vưởng như con ma chơi ngày đêm đùa rỡn khắp làng.

***

Đi trọ học xa về, tôi hỏi thăm lão Bân, mọi người bảo “Vẫn thế. Cơm làng, nước làng”. Nhưng dường như dạo này lão có vẻ trầm tư. Lão như có tâm sự gì muốn nói, nhất là từ hồi xã cho treo chiếc loa phóng thanh trên cây bàng già ở góc sân kho. Mỗi khi đến mục “Quảng cáo và nhắn tin”, lão thường tỏ ra chăm chú lắng nghe. Rồi, người làng kháo nhau: có thể bây giờ lão già yếu nên lẩn thẩn, ngay việc đi ăn lão cũng lười. Các đám giỗ, cưới ở làng, mọi người như quen với sự hiện diện của lão nên dẫu không ai bảo ai, họ vẫn có ý chuẩn bị một suất cho lão.

Giữa trưa, ngồi hóng mát dưới gốc bàng già, tôi bỗng được tâm sự. Lão thủng thẳng kể: “Tao ngồi nghe nhắn tin, biết đâu thằng con trai tao còn sống thì sướng quá. Mà tao thọ tới 70 thì gọi là cứ khao cả xóm. Tại số hết cháu à”. Lão nói rồi bỗng phá lên cười khoan khoái. Nhưng tiếng cười bỗng tắt lịm. Lão đăm chiêu. Lão khóc. Mà cái việc khóc của kẻ cả đời chưa lý giải xong cái “số” của mình sao nó khó khăn đến thế. Lão khóc không thành tiếng. Bàn tay nhăn nheo lau trên khuôn mặt nhăn nheo những giọt nước mắt trong và chát trông thật tội. Giọng lão nghẹn ngào được ăn học thì cố lên, bố mẹ mày tiếng thế cũng còn vất lắm. Ngày xưa tao cũng được học hành, chơi bời ra trò nhưng... nó là cái số”. Lão lại đổ cho số. Mà ai đã biết “số” là cái gì đâu. Lúc giàu sang tột đỉnh, người ta cũng bảo do số. Lúc quẫn bách khốn cùng, người ta cũng đổ tại số. Với lão, quả là số rách.

Bẵng một thời gian, bức tường rào sân kho làng tôi vắng hẳn bóng lão. Lão quỵ thật. Có người bảo, hình như sổ thiên tào trước đây bỏ sót nên bây giờ để lão ốm bù. Xóm tôi, kẻ bát cơm, người củ khoai đem tới cho lão. Nhưng lão ốm lâu quá. Rồi cơm khoai cũng thưa dần, bởi phần vì người ta sợ phải nghe lão suốt ngày kêu gào, phần vì sợ bởi mùi hôi thối bốc ra ngày càng khó chịu từ nhà lão. Song lão vẫn không bị bỏ đói, riêng chỉ món rượu là không có thật. Ó cái làng quê tuy có tiếng là văn vật, song chỗ dựa duy nhất của người dân nơi đây là mấy sào ruộng khoán. Kiếm miếng cơm ăn đã khó, lấy đâu ra tiền để mua rượu cho lão. Nhất là đem rượu cho lão Bân thì chẳng ai hứng thú, bởi như thế để lão chửi suốt ngày cho rác tai. Nhưng lão lại cần rượu. Đời lão như cây khô, rượu là thứ nước thánh hồi sinh cho cái thân cây mục ruỗng ấy. Thiếu rượu, xa dần dòng đời xuôi ngược, lão Bân như lạc sang một thế giới khác.

Đêm ấy, trời nổi bão. Người xóm tôi ơi ới gọi nhau xách đèn lần đến nhà lão. Nằm trên mớ hỗn độn rơm rạ là thi thể co quắp của người quá cố. Suốt đêm, cả xóm tôi không ngủ, người ta bàn tính chuẩn bị làm ma cho lão. Đám tang lão Bân được cử hành ngay khi cơn bão dấm dứt chuyển vùng. Tất cả thủ tục theo sách “Thọ mai gia lễ” được áp dụng đủ, duy thiếu đội nhạc hiếu. Đám tang lão Bân tuy không đông người đưa tiễn, nhưng đây đó cũng nổi lên dăm ba tiếng sụt sùi. Dẫu sao bấy nay lão cũng là một thành viên của làng. Sự hiện diện của đời lão đã trở nên thân thuộc với mọi ngời, vắng lão, xóm làng như thấy thiếu một điều gì, nhưng nếu bảo sẽ có một kẻ như lão về thay thế thì người ta chả lắc đầu lè lưỡi (!).

Khi người đã khuất đã mồ yên mả đẹp, những người dân quê lại có dịp bàn tán: sao lão có thể nhớ chính xác ngày giỗ tết của các gia đình trong làng đến thế?. Điều thắc mắc đó chỉ được lý giải sau khi người xóm tôi tập trung làm vệ sinh nhà lão. Thì ra, trên bức vách trát bua nhà lão là cả một bộ sưu tập ghi khá hệ thống về ngày giỗ của hầu hết những người quá cố trong làng. Vậy còn chuyện con trai của lão thì sao?. Có người bảo, chẳng qua lão lú lẫn hoặc tìm cách an ủi cho mình chứ lấy đâu ra. Nhưng quả đáng tội, người nông thôn vẫn hay thóc mách. Và không ít người vẫn tin rằng lão có con riêng thật. Bởi làng tôi vốn nổi tiếng có nghề mộc truyền thống là gì, lão chả có thời theo chân các phó mộc vác cưa, đục đi làm nhà ở đâu đó. Nhất là mới đây, ở làng có mấy cụ ông cùng thời lão sau bao năm giải nghệ bỗng có người về nhận họ cha.

Tôi vẫn là cậu sinh viên nghèo, hàng tháng từ Hà Nội về xin trợ cấp của mẹ. Nếu bữa trước không vì câu chuyện trong buổi họp đồng hương chắc cũng chẳng còn nhớ tới lão Bân  người đã từng là láng giềng của tôi suốt thời niên thiếu. Chiều nay, nhân tết hàn thực, tôi lại về quê. Đứng trước cổng làng nhìn ra khu nghĩa địa, tôi thấy mộ lão Bân rõ mồn một. Nó cũng tròn trịa, cỏ hoa tươi tốt như hàng trăm ngôi mộ được những người thân chăm nom ở làng quê này. Bất giác trong tôi trào dâng về những kỷ niệm hồi nào. Dòng người hối hả ngang qua, hình như tôi thấy có cả bóng lão Bân tập tễnh về làng.

Tháng 4.1999

Nguồn tin: bài: Y Ban

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây