LỤC BÁT NƠI QUÊ NHÀ

Thứ năm - 25/12/2025 15:07
Sau khi đọc hết tập thơ, không cần suy nghĩ nhiều, có thể phát biểu ngay một cảm nhận chung là các bài thơ đều rất dễ đọc, nội dung rõ ràng, đúng giọng điệu của một ông nông dân làng thực thà, chân chất, có một nói một, có hai bảo hai.
NhaCao2
NhaCao2

Cầm Sơn

MỘT GIỌNG THƠ CĂN CỐT, MỘC MẠC

KHÔNG CÁCH TÂN NHƯNG CHẮC TAY.

(Đọc “Lục bát nơi quê nhà” của Nguyễn Nha Cao – NXB Hội Nhà văn 2025)

 

   Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Nha Cao vừa cho ra mắt bạn đọc tập thơ “Lục bát nơi quê nhà” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Ông cho biết tập thơ ra đời nhằm kỷ niệm 50 năm ngày ông nhập ngũ và tri âm quê hương. Tập thơ gồm 125 bài viết theo thể loại lục bát được chia ra làm 5 phần, trong đó, chùm thơ nội dung về Quê hương 30 bài; nội dung về Gia đình 29 bài; nội dung về Đồng đội 33 bài; nội dung về Cộng đoàn tôn giáo 23 bài; nội dung viết về đại dịch Covid 10 bài.

  Sau khi đọc hết tập thơ, không cần suy nghĩ nhiều, có thể phát biểu ngay một cảm nhận chung là các bài thơ đều rất dễ đọc, nội dung rõ ràng, đúng giọng điệu của một ông nông dân làng thực thà, chân chất, có một nói một, có hai bảo hai. Đọc thơ ông nhiều khi cứ tưởng ông đang nói chuyện làng quê “Vấn vương chuyện của quê nhà/Chỉ thương cây lúa vì ta mà gầy/Lúa như dáng mẹ ta đây/Đội trời, đạp đất, đọa đầy nắng mưa” Căn cốt, không cách tân, không cầu kỳ, mộc mạc đến mức nếu trau chuốt hơn có khi lại… hỏng.  Nhưng có một điều rất rõ là thơ ông vững về niêm luật của thể thơ lục bát, hầu như không thấy ở chỗ nào xảy ra hiện tượng thất vận, ép vần. Đó là một ưu điểm đáng ghi nhận của Nguyễn Nha Cao đối với thể loại thơ truyền thống này.

  Tuy là chia ra làm 5 phần có nội dung phân biệt nhưng đọc tất cả các bài thơ trong toàn tập ta thấy có một sự thống nhất nội dung được quy chiếu tập trung từ tình yêu quê hương thống thiết của tác giả.NhâCo1

   Trong tiến trình thơ ca Việt Nam hiện đại, mảng sáng tác về nông thôn và quê hương không chỉ là một dòng chảy cảm hứng truyền thống mà còn là một diễn ngôn văn hóa – xã hội, phản ánh mối quan hệ giữa con người với nguồn cội trong bối cảnh lịch sử biến động. Tập thơ của Nguyễn Nha Cao, tập trung vào không gian làng Đô Hai và vùng nông thôn Bắc Bộ, cho thấy một nỗ lực bền bỉ trong việc kiến tạo hình ảnh quê hương như không gian ký ức tập thể, nơi giao thoa giữa đời sống cá nhân và lịch sử cộng đồng.

  Ở nhiều bài thơ, đặc biệt là “Đô Hai”, quê hương không được tiếp cận như một địa danh tĩnh, mà là một trường thời gian, nơi các lớp ký ức cá nhân được xếp chồng: từ khoảnh khắc sinh ra, quá trình trưởng thành đến sự ra đi của các thế hệ. Việc sử dụng chuỗi hình ảnh gắn với thân thể (“oa oa chào đời”, “bàn chân đạp chiếu”) kết hợp với các biểu tượng siêu hình (“Thiên đàng”, “siêu thoát”) cho thấy cách tác giả tổ chức không gian quê hương theo trục sinh – tử – luân hồi.

    Ở đây, làng quê không chỉ lưu giữ ký ức, mà còn đóng vai trò chủ thể chứng kiến, vượt lên sự hữu hạn của đời người. Cách gọi lặp “Đô Hai! Đô Hai!” mang tính chất nghi lễ, góp phần thiêng liêng hóa không gian quê hương trong cấu trúc biểu đạt của bài thơ.

    Một trong những trục nội dung nổi bật của chùm thơ là hình tượng lao động nông nghiệp, tiêu biểu qua bài “Cây lúa đời người”. Cây lúa được xây dựng như một biểu tượng đa tầng, vừa là sản phẩm lao động, vừa là ẩn dụ cho thân phận con người nông thôn, đặc biệt là người phụ nữ – người mẹ.

  Những hình ảnh gắn với chu trình sản xuất truyền thống (gieo mạ, giần sàng, nồi cơm, hạt gạo) được đặt trong bối cảnh lịch sử rộng hơn với đói nghèo và chiến tranh, qua đó hình thành một diễn ngôn ký ức lịch sử mang tính cộng đồng. Điều đáng chú ý là tác giả không lý tưởng hóa nông thôn, mà giữ lại những vết tích khắc nghiệt của đời sống, tạo nên chiều sâu hiện thực cho bài thơ. “Cả đời chẳng biết ngủ trưa/Cái tăm ngậm miệng như bừa vào răng/Giần sàng lọt cả ánh trăng/Hạt gạo ở lại sỏi văng ra ngoài/Tháng ba ngày tám đói dài/Nồi thì còn khói cơm khoai hết rồi”

  Bài “Nông thôn đổi mới” thể hiện rõ sự chuyển dịch trong cảm hứng sáng tác của Nguyễn Nha Cao từ hoài niệm sang diễn ngôn hiện đại hóa nông thôn. Việc trực tiếp đề cập đến chính sách, nghị quyết và tiêu chí phát triển cho thấy thơ đã trở thành phương tiện phản ánh đời sống chính trị – xã hội. Tuy nhiên, dưới góc độ thẩm mỹ học, sự thiên về liệt kê thông tin và diễn giải trực tiếp đã làm suy giảm tính hàm súc và khả năng gợi mở của ngôn ngữ thơ. Bài thơ vì thế nghiêng về chức năng minh họa và tuyên truyền hơn là khám phá hình thức nghệ thuật. Đây là một giới hạn đáng lưu ý, khi cảm xúc trữ tình bị lấn át bởi diễn ngôn chính luận.

  Một đặc điểm đáng chú ý trong thơ Nguyễn Nha Cao là xu hướng vi mô hóa đối tượng trữ tình, tập trung vào các yếu tố nhỏ bé của đời sống làng quê như cầu ao, cái cuốc, cổng nhà, tường rào, lược sừng. Các bài thơ cùng tên cho thấy tác giả đã chuyển hóa những vật dụng sinh hoạt thường nhật thành ký hiệu văn hóa, mang chức năng lưu giữ ký ức cộng đồng. Ở bình diện này, thể thơ lục bát đóng vai trò như một hình thức biểu đạt phù hợp, với nhịp điệu chậm rãi, quen thuộc, góp phần tạo nên cảm thức bền vững và ổn định cho không gian quê hương. Tuy nhiên, sự trung thành tuyệt đối với lục bát cũng phần nào hạn chế khả năng cách tân hình thức của tác giả.

  Các bài thơ viết về tình yêu, gia đình và nỗi buồn (“Tháng Giêng”, “Tháng Hai”, “Kể chuyện nỗi buồn”, “Mẹ đi lấy chồng”, “Về quê”) cho thấy cảm xúc cá nhân trong thơ Nguyễn Nha Cao luôn được đặt trong khung tham chiếu cộng đồng. Tình yêu không tách rời làng xóm; nỗi buồn không mang tính cá nhân cực đoan mà hòa vào không gian quen thuộc của cầu ao, bến nước, đường làng. Điều này tạo nên một giọng điệu trữ tình tiết chế, hướng nội, phù hợp với mỹ cảm truyền thống của thơ ca nông thôn Việt Nam. Tôi đặc biệt chú ý đến bài thơ “Mẹ đi lấy chồng” bởi mặc dù rất “đau” nhưng giọng thơ cũng không bi lụy, ồn ào oán thán mà chìm xuống ngẫm ngợi “Ngước nhìn bà ngoại, bà không nói gì” Cái “không nói gì” ấy là một khoảng trống nặng nề. Nó bao trùm cả bài thơ: không trách móc, không phản đối, chỉ là sự cam chịu pha lẫn xót xa của những người ở lại. Cảm xúc xuyên suốt là chia đôi – đúng như câu thơ tác giả tự nhận diện: Vui buồn lẫn lộn chia đôi”. Niềm vui của mẹ có hạnh phúc mới, và nỗi buồn của con khi mất đi một trụ cột quen thuộc. Nón quê trao mẹ ngày đi”là một hình ảnh đẹp, mang tính biểu tượng: nón không chỉ che nắng mưa mà còn là sự chở che cuối cùng của gia đình chồng cũ của mẹ trước khi mẹ bước sang một mái nhà khác. Điểm đáng quý nhất của bài thơ là không ích kỷ. Người con buồn, nhưng không ngăn cản: “Cầm lòng mẹ nhé để rồi làm dâu/ Cầu xin mẹ được thương yêu”. Không có lời trách móc người mẹ “đi bước nữa”, mà là một lời cầu chúc đầy thương yêu. Nỗi cô đơn của con được nói ra, nhưng không biến thành sự oán giận. Điều này khiến bài thơ có chiều sâu đạo đức và cảm xúc. “Bây giờ vắng mẹ buổi trưa/Ngày mai vắng mẹ cả trưa lẫn chiều”. Cách lặp và mở rộng thời gian (“buổi trưa” mở rộng ra “cả trưa lẫn chiều”) khiến nỗi vắng mẹ không còn là khoảnh khắc, mà là một định mệnh dài lâu. Đặc biệt, hình ảnh so sánh: “Có như bãi lở mà nên sông Cầu” rất gợi: nỗi mất mát không ồn ào, nhưng âm thầm khoét sâu, như dòng nước xoáy vào bờ âm ỉ làm thành dòng chảy vĩnh hằng.

  Phần chủ đề Gia đình không phải là một “tập hợp đề tài” theo nghĩa thông thường, mà là một chỉnh thể cảm xúc – nơi ký ức cá nhân, huyết thống gia tộc và niềm tin tâm linh hòa quyện thành một dòng tự sự dài hơi, bền bỉ. Ở đó, thơ không hướng tới cách tân hình thức hay biểu diễn kỹ thuật, mà chọn con đường làm chứng cho đời sống, cho tình thân, cho sự mất mát và tiếp nối trong một gia đình Việt Nam truyền thống, trải qua chiến tranh, nghèo khó, ly tán và niềm tin tôn giáo. Điểm nổi bật nhất của chùm thơ là ý thức hệ thống. Gia đình không chỉ là cha – mẹ – con, mà mở rộng thành cả một gia phả sống động bằng thơ: ông bà, cô dì, chú bác, anh chị, cháu chắt… Mỗi bài thơ là một “tờ lịch” – đúng như bài mở đầu Tờ lịch – mỗi ngày đã định đề:“Mỗi tờ lịch, mỗi tự tình/Thành ra nhật ký riêng mình từng trang”. Thời gian trong thơ Nguyễn Nha Cao không mang tính trừu tượng, mà được đo bằng ngày giỗ, ngày tang, ngày mừng thọ, ngày sang cát, ngày sinh nhật, những mốc rất Việt Nam. Điều này khiến chùm thơ mang dáng dấp của một biên niên sử gia đình, nơi đời người được nhìn từ góc độ cộng đồng huyết thống chứ không phải cái tôi cô độc. Nếu phải chọn một trung tâm cảm xúc của toàn bộ chùm thơ, đó chính là người mẹ. Từ Mẹ tôi, Nhớ mẹ, Tiếng mẹ ru xưa, Lời ru, đến các bài gián tiếp nhắc mẹ qua cha, qua chị, qua cậu… hình tượng người mẹ hiện lên nhất quán: chịu thương chịu khó, góa bụa, câm lặng trước khổ đau.

    Nguyễn Nha Cao không lý tưởng hóa mẹ theo lối hùng ca, mà để mẹ hiện lên trong những chi tiết đời thường: “Bắt tôm, nhặt thóc ruộng nhà ngày đông” hoặc “Gian nan chất kín tận trời/Thế mà mẹ chẳng một lời kêu ca”. Ở đây, thi pháp quen thuộc của ca dao – dân ca (“con cò”, “thân cò”) được sử dụng không phải để vay mượn, mà để nối mẹ cá nhân với hình tượng người mẹ dân tộc. Chính sự giản dị, không trau chuốt quá mức ấy lại tạo nên sức nặng cảm xúc: thơ không “khóc to”, nhưng âm thầm ám ảnh.

   Một mảng lớn của chùm thơ là tang lễ – giỗ chạp. Điều đáng chú ý là giọng điệu chung không bi lụy, mà thiên về chấp nhận, phó thác và cầu nguyện. Điều này chịu ảnh hưởng rõ rệt của niềm tin tôn giáo, thể hiện qua các bài như Ngày giỗ chú Thát đoạn tang, Thơ gửi bà Liên, Hương dâng kính cậu… Cái chết trong thơ Nguyễn Nha Cao không phải là kết thúc tuyệt đối, mà là sự trở về: “Mẹ về với Chúa ai nào dám ngăn” ; “Linh hồn hai bác về nơi Thiên đàng”. Chính niềm tin này tạo cho chùm thơ một sắc thái an tĩnh, khác với nhiều thơ gia đình thường chìm trong bi thương. Đau vẫn đau, nhưng đau trong ý thức trật tự vũ trụ. Điều khiến chùm thơ Gia đình có giá trị bền lâu không nằm ở kỹ thuật, mà ở chức năng tinh thần: thơ ở đây là một cách giữ người, giữ ký ức, giữ đạo làm người. Nguyễn Nha Cao viết như thể nếu không viết, người thân sẽ “mất thêm lần nữa”. Ở nghĩa này, chùm thơ gần với văn hóa thờ cúng tổ tiên bằng chữ nghĩa. Mỗi bài thơ là một nén hương, một lời khấn, một sự tri ân.

  Chùm thơ  viết về “Đồng đội” là một bản hợp xướng trầm về người và đời, nơi mỗi bài thơ là một ký ức về quá khứ, về cụ thể một con người đã gặp, đã thương. Dẫu giản dị, thật thà như đếm nhưng chính sự không trau chuốt ấy lại làm nên độ tin cậy cảm xúc. Ở đây thơ anh không ồn ào, không thời thượng, nhưng bền – bền như nghĩa tình đồng đội, bền như ký ức của một người đi qua nhiều miền đời và vẫn chọn cúi xuống viết cho người khác trước khi viết cho mình. Trong phần thơ này, Nguyễn Nha Cao không tuyệt đối hóa chiến tranh hay quân ngũ, dù xuất phát điểm của ông là người lính. “Đồng đội” không chỉ hiện diện trong những bài mang rõ dấu ấn quân đội như Viếng mộ nhạc sĩ Nguyễn Lầy, Mẹ ơi! hay những bài gửi các nghệ sĩ trong đoàn văn công quân khu, mà còn lan sang những mối quan hệ dân sự: mẹ, chị, bạn bè, hàng xóm, người cùng tổ dân phố, thậm chí là người bán mận, người học viết văn nơi rừng núi. Đồng đội ở đây được hiểu là những con người cùng chia sẻ một đoạn đường sống, cùng nếm trải mất mát, vui buồn, trách nhiệm và ký ức. Chính cách mở rộng này làm cho chùm thơ mang tính nhân bản hơn là tuyên truyền, nghiêng về đời sống hơn là khẩu hiệu.

  Chùm thơ viết về cộng đoàn tôn giáo với số lượng lớn tác phẩm gắn trực tiếp vào đời sống giáo xứ, hội đoàn, nghi lễ và biến cố đức tin, cung cấp một trường hợp điển hình cho việc nghiên cứu thơ như một thực hành văn hóa – tín ngưỡng, hơn là một sản phẩm thẩm mỹ thuần túy. Thơ ông không đặt tham vọng đổi mới thi pháp hay kiến tạo một cái tôi trữ tình mang tính triết luận. Thơ ông vận hành trong logic khác: thơ như tiếng nói cộng đoàn, nơi chủ thể trữ tình thường xuyên hòa tan vào “chúng con”, “anh em”, “cộng đoàn”, “giáo xứ”. Đặc điểm nổi bật của chùm thơ là sự giảm thiểu vai trò của cái tôi cá nhân, thay vào đó là sự trỗi dậy của chủ thể tập thể. Trong các bài như Cộng đoàn mừng lễ Quan thày, Thơ chúc mừng xuân, Lời ca dâng Chúa, Vui ngày gặp mặt, chủ thể trữ tình được xác lập trên nền tảng hiệp thông: “Chúng con tuyên hứa, chắp tay nguyện cầu” “Cộng đoàn cầu nguyện cậy trông”
“Chúng con con của một nhà”
. Ở đây, thơ không nhằm biểu đạt nội tâm cá biệt, mà thực hiện chức năng ngôn ngữ nghi lễ: tuyên xưng, tri ân, cam kết, chúc tụng. Điều này khiến thơ ông gần với diễn ngôn phụng vụ mở rộng, nơi tính cá nhân được đặt dưới yêu cầu của sự hòa hợp cộng đồng. Tuy nhiên, chính trong bối cảnh ấy, bài “Vòng tròn như xưa nổi lên như một điểm lệch diễn ngôn. Ở đó, cái tôi cá nhân trở lại với cảm thức hoài nghi, mất mát, chất vấn niềm tin và sự bền vững của tình người. Bài thơ này tạo nên một đối trọng cần thiết, giúp chùm thơ tránh rơi hoàn toàn vào trạng thái đơn âm. Không gian trong thơ ông được kiến tạo xoay quanh các thiết chế tôn giáo – xã hội cụ thể: giáo xứ Thái Hà, Đô Hai, Thanh Xuân, Phù Tải; các hội đoàn như A Phong Xô, hội gia trưởng, ca đoàn, giáo khu. Đây không phải là không gian ước lệ, mà là không gian định danh, có địa chỉ, thời gian, sự kiện rõ ràng. Thơ vì thế mang tính tư liệu văn hóa cao, ghi lại: - Nghi lễ tôn giáo (Noel, lễ Quan thày, Thánh lễ, hành hương) - Sinh hoạt cộng đồng (họp mặt, hội nghị, chia tay) -Biến cố xã hội (dịch bệnh, đô thị hóa, đổi thay thời cuộc). Ở những bài như Hà Nội đêm Noel hay Thanh Xuân mừng đón Noel, không gian đô thị hiện đại được bao phủ bởi ánh sáng tôn giáo, tạo nên sự giao thoa giữa đời sống thế tục và linh thiêng. Điều này phản ánh một đặc điểm quan trọng của Công giáo Việt Nam đương đại: đức tin không tách khỏi đời sống xã hội, mà cùng tồn tại và thích nghi.

  Chùm thơ viết về dịch bệnh Covid là tiếng nói chân thành của một người trong cuộc, ghi lại những rung động, suy tư và thái độ công dân trước biến cố lớn của xã hội. Không chọn lối viết bi thương hay sử dụng hình ảnh mang tính bi kịch hóa, tác giả tiếp cận đề tài bằng giọng thơ đời thường, dân dã, đậm chất sinh hoạt cộng đồng, qua đó phản ánh khá toàn diện đời sống tinh thần của con người Việt Nam trong những năm tháng dịch bệnh. Trước hết, chùm thơ gây ấn tượng bởi tính thời sự và thực tiễn cao. Những hình ảnh như chiếc khẩu trang 5K, họp hành qua Zalo – Facebook, cây gạo ATM, chốt vùng xanh, hay cảnh “tránh dịch ở nhà” đều là những chi tiết quen thuộc của đời sống Covid. Trong “Tâm tình từ chiếc khẩu trang”, một vật dụng nhỏ bé được nâng lên thành biểu tượng của kỷ luật, trách nhiệm và tinh thần đoàn kết toàn dân. Thơ ở đây mang chức năng nhắc nhở, cổ vũ, đồng thời phản ánh ý thức cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn. Tinh thần nhân ái, tương thân tương ái của người Việt được thể hiện rõ trong bài “Cây gạo ATM”. Không cầu kỳ về hình ảnh, bài thơ ghi lại một sáng kiến xã hội giàu tính nhân văn, nơi lòng tốt lan tỏa giữa vùng dịch. Qua đó, tác giả khẳng định những giá trị đạo lý truyền thống vẫn bền vững ngay cả khi đời sống bị đảo lộn. Một mạch cảm xúc khác xuyên suốt chùm thơ là nỗi nhớ và sự gián đoạn của các mối quan hệ con người. Trong “Thơ gửi Bác Phi”, “Tâm sự tý ti”, hay “Tránh dịch ở nhà”, sự xa cách vì dịch bệnh làm cho tình cảm bạn bè, đồng nghiệp trở nên sâu sắc hơn. Cái nhìn của tác giả nhẹ nhàng, không bi lụy, mà thấm thía: “xa nhau mới thấy tình thương dạt dào”. Chính sự kìm nén cảm xúc ấy tạo nên chiều sâu lắng đọng cho chùm thơ. Đáng chú ý, tác giả không né tránh mặt trái của đời sống xã hội trong dịch bệnh. Các bài như “Covid dị đoan” hay “Tránh dịch – làm thơ” thể hiện thái độ phê phán những biểu hiện tiêu cực: mê tín, cơ hội, tham lam, trục lợi trên nỗi đau chung. Giọng thơ lúc châm biếm, lúc gay gắt, cho thấy cái nhìn tỉnh táo và trách nhiệm của tác giả trước hiện thực. Về nghệ thuật, chùm thơ chủ yếu sử dụng thể thơ truyền thống, đặc biệt là lục bát, với ngôn ngữ giản dị, gần khẩu ngữ, mang hơi hướng ca dao. Giọng điệu linh hoạt: khi thân tình, khi hài hước, khi trữ tình, khi mỉa mai. Bài “Thu về nơi chốt vùng xanh” có thể xem là điểm nhấn, khi dịch bệnh được đặt trong không gian mùa thu, ca trực, lá rơi, ánh nắng – tạo nên sự giao hòa giữa hiện thực khắc nghiệt và cảm xúc trữ tình giàu chất thơ.

  Nhìn tổng thể, Lục bát nơi quê nhà của Nguyễn Nha Cao không phải là một nỗ lực cách tân hình thức, mà là một lựa chọn thẩm mỹ có ý thức: bền bỉ đi trên con đường truyền thống để làm chứng cho đời sống. Giá trị của tập thơ không nằm ở sự mới lạ của kỹ thuật, mà ở độ tin cậy cảm xúc, ở khả năng tích tụ ký ức cá nhân thành ký ức cộng đồng. Từ quê hương, gia đình, đồng đội, cộng đoàn tôn giáo đến đại dịch Covid, thơ Nguyễn Nha Cao vận hành như một biên niên sử bằng lục bát, ghi lại những gì dễ bị quên lãng trong dòng chảy gấp gáp của thời đại. Sự mộc mạc, không cầu kỳ đôi khi làm lộ những giới hạn về tính hàm súc và sức gợi, nhưng đồng thời cũng chính là điểm tựa để thơ ông giữ được giọng điệu chân thành, không đánh mất căn cốt. Trong bối cảnh thơ ca đương đại ngày càng nghiêng về cái tôi cá biệt và thử nghiệm hình thức, Lục bát nơi quê nhà hiện diện như một tiếng nói chậm, chắc, nhắc nhở rằng thơ, trước hết, vẫn có thể là nơi giữ người, giữ làng, giữ đạo lý và ký ức sống của một cộng đồng.

                                                                                                             C.S

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây