MỘT CUỐN SÁCH THÚ VỊ VÀ BỔ ÍCH

Thứ năm - 09/04/2020 00:15
Đinh Đức Cần Phạm
Hồng Hà giới thiệu
Bìa sách
Bìa sách

                                        MỘT CUỐN SÁCH THÚ VỊ VÀ BỔ ÍCH 

            Bạn đang cầm trên tay cuốn Ký, phóng sự: “Từ dinh thự của vua Mèo tới tượng Nữ thần tự do” của tác giả Đinh Đức Cần - một cái tên mới toanh trên thị trường sách gần đây.Theo kinh nghiệm cá nhân, trước khi qiuyết định mua cuốn sách nào đó bạn thường có thói quen ngó xem tác giả có “tên tuổi” không? Do nhà xuất bản nào in nó, có đủ tin cậy không? Và liệu nội dung cuốn sách có mang đến cho mình điều mình cần, hoặc có mới lạ, thú vị để đáng rút hầu bao ( không phải lúc nào cũng sung túc) ra mua nó? Sự nghi ngờ, băn khoăn, cân nhắc và lựa chọn đó là cần thiết. Bởi chẳng ai dại gì đi “rước” thứ mình không thích về nhà – nhiều khi chỉ đọc một phần cuốn sách đã không thấy hứng thú. Rồi số phận nó bị lãng quyên “ngủ mãi mãi”trên tủ sách của bạn. Rất có thể - tôi chỉ dám nói “rất có thể “thôi nhé -  bạn đã giải mã được những thắc mắc, boăn khoăn khi quyết định mua cuốn sách này. Bạn sẽ không quá thất vọng về những gì bạn đang có nhu cầu tìm hiểu, những vùng đất bạn chưa từng tới hoặc chưa hiểu biết nhiều về nó. Đọc từng trang bạn thấy như đang được đồng hành cùng tác giả, chứng kiến, suy ngẫm cùng tác giả - đó là thái độ tác giả rất tôn trọng bạn để bạn tự phát hiện, phát triển thêm những suy nghĩ sáng tạo dưới góc độ nhận thức và kinh nghiệm đã có của bạn. Và như vậy bạn đang sáng tác tiếp sau mỗi câu chuyện…Tác giả từng trải qua nhiều môi trường sống, làm việc, công tác trong và ngoài nước. Trước tiên là người lính thuộc lực lượng Công an vũ trang ( nay là Bộ đội biên phòng), rồi thành giáo viên Trường Sĩ quan Công an vũ trang  (nay là Học viện Biên phòng); làm phóng viên Đài Truyền hình Việt Nam 9 năm, đi hợp tác lao động tại nước Cộng hòa Ucrain thuộc Liên Xô cũ; chuyên viên chính sách dân tộc; Trưởng ban Biên tập Tạp chí Dân tộc và Miền núi (nay là Tạp chí Dân tộc); Phó Tổng biên tập rồi Tổng Biên tập Báo Dân tộc và Phát triển của Ủy ban Dân tộc và Miền núi ( nay là Ủy ban Dân tộc) đến trước khi nghỉ hưu. Có thể nói hơn nửa cuộc đời tác giả gắn bó và gần gũi với đồng bào các dân tộc thiểu số. Những chuyến công tác dài ngày tới vùng sâu, vùng xa, vùng cao, vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn…đã được tác giả phản ánh sâu sắc từ thực trạng tình hình, cuộc sống và tâm tư, nguyện vọng, phong tục tập quán…của bà con các dân tộc. Mang đến cho bạn đọc những “ lát cắt”, phác họa bất ngờ và những điều mới lạ thú vị. Phóng sự điều tra về các vấn đề nhạy cảm, bức xúc về thuốc phiện, ma túy ở vùng dân tộc thiểu số; những gợi mở, đề xuất thiết  thực góp phần để giải quyết trong quá trình phát triển ở vùng đặc biệt khó khăn.

Có những bài viết từ những năm 1994, 1995 thế kỷ trước về vấn đề kinh tế, xã hội, an ninh…tới nay vẫn mang tính thời sự nóng bỏng. Trong đó có những phóng sự dự báo trước hàng chục năm trước nay đã thành hiện thực như: Phóng sự “Trăn trở Đồng Văn” ngay từ năm 1994 tác giả đã đề xuất việc xây cột cờ trên đỉnh núi Rồng Lũng Cú: “Mâ túy bom nguyên tử thời nay” dự báo sau này ma túy sẽ tràn lan dưới mọi hình thức tinh vi mà các cơ quan phòng chống ma túy không thể kiểm soát được; Hoặc như trong “ Đến với Rờ Kơi” dự báo Tây Nguyên sẽ là vựa trái cây lớn của đất nước không chỉ đảm bảo tiêu dùng trong nước mà sẽ xuất khẩu đi nhiều nước. Trên thực tế là các loại nhãn lồng Hưng Yên, vải Thiều Lục Ngạn, các loại cây ăn quả Nam bộ…đang phát triển tốt và đã cho thành quả bước đầu. Đất Tây Nguyên màu mỡ đang chờ những giống cây ăn quả, hoa thơm trái ngọt khắp miền Tổ Quốc quần tụ thành trung tâm sản xuất và phân phối các sản phẩm của trái cây trong tương lai không xa.

Điếm nhấn trong loạt ký, phóng sự dọc đường cát bụi vùng dân tộc thiểu số là chùm bài về Vua mèo Vương Chí Sình. Những sự kiện, câu chuyện, tình tiết…hầu hết là hoàn toàn mới lần đầu được công bố. Nhiều năm trước đã có hàng  trăm bài viết về việc xây dựng dinh thự dòng họ Vương ở Sà Phìn, về vật kỷ Bác Hồ tặng vua mèo, về mối quan hệ của Bác với vua mèo, về công tích của ông trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp trên dải cao nguyên đá Đồng Văn…thực thực hư hư đựợc tác giả giải mã, chỉnh lý trên cỏ sở người thực, việc thực. Chùm phóng sự này đã được giải trong Cuộc thi viết “ Bác Hồ với đồng bào các dân tộc thiểu số & Các dân tộc thiểu số với Bác Hồ” do Ủy ban Dân tộc tổ chức năm 2013. Qua những câu chuyện của ông Vương Quỳnh Sơn chuyên viên cao cấp của Ủy ban Dân tộc ( người được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hang III đã mất cách đây gần chục năm ) là cháu ruột gọi vua mèo bằng chú cùng với nguồn tư liệu phong phú trong kho văn thư lưu trữ của Ủy ban Dân tộc được tác giả chọn lọc khai thác có độ tin cậy cao

Thiên phóng sự về nước Mỹ mang đến cho bạn đọc nhiều điều lý thú, từ phong cảnh tuyệt vời của miền đất xa xôi cách nước ta nửa vòng trái đất; về con người Mỹ với những thói quen, suy nghĩ, lối sống, quan niệm về cuộc sống, bạn bè, hạnh phúc gia đình, trách nhiệm công dân…rất khác biệt với con người Việt Nam chúng ta. Những vấn đề phức tạp, rắc rối của quy chế, luật pháp Mỹ; những thành phố to lớn, tráng lệ tấp nập mà bên trong nó chứa đựng bao điều tiềm ẩn, những thông điệp muốn gửi tới mọi con người trên trái đất rất đáng suy ngẫm,… để quy chiếu, so sánh, nhận biết những giá trị mà nước Mỹ cống hiến cho nhân loNhững vấn đề từ kinh tế ,xã hội, môi trường, an ninh…đến các vấn để giáo dục, nhà trường, cách dạy dỗ con cái, hôn nhân, kết bạn đến mua sắm, giao thông chắc chắn bạn sẽ thấy rất thú vị. Cái cách người Mỹ tư duy, hành động, giao tiếp…được tác giả không đơn thuần mô tả rất khác với chúng ta  mà qua đó bạn tự thấy mình cần thay đổi nhận thức để thích ứng với thế giới hiện nay. Những câu trích ngắn gọn của 4 tổng thống vĩ đại nhất nước Mỹ cùng nhiều nhận xét sắc sảo của tác giả qua từng đoạn văn lấp lánh tính trí tuệ bất ngờ và độc đáo mang tới cho bạn nhiều suy nghĩ về quan niệm, quan điểm đối với hàng loạt vấn đề mới mẻ mà bạn từng băn khoăn…

 Người Việt ở Mỹ phác họa cuộc sống từ việc làm, tâm tư, suy nghĩ, mong ước…đời thường và chặng đường gian nan “chiến đấu” không biết mệt mỏi để hòa nhập và khẳng định tiềm năng của họ trong xã hội Mỹ. Hiện nay có trên 2 triệu 400.000 người Việt sống ở Mỹ, có trên 17.000 học sinh đang du học dưới nhiều hình thức trong các trường cao đẳng, đại học trên đất Mỹ. Hằng ngày Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội và Tổng lãnh sự quán Mỹ tại thành  phố Hồ Chí Minh có tới 600 – 700 người đến phỏng vấn để dược cấp thị thực vào Mỹ. Không riêng nước ta, các quốc gia khác trên thế giới hằng năm có dăm ba chục triệu người đi du lịch Mỹ. Chắc chắn nước Mỹ phải có hấp lực gì mạnh mẽ mới hối thúc họ muốn đến Mỹ? Để  chuyến du thăm Mỹ, hay đi học, có điều kiện được cư trú ở Mỹ… chắc chắn bạn cần phải chuẩn bị tâm thế và một số hiểu biết, lời khuyên cần thiết cho cuộc hành trình trên  đất Mỹ : Từ những chuyện nhỏ như hãy đổi nhiều tiền lẻ  để trả tiền đi taxi và tiền tips cho người phục vụ mình, khi đi mua sắm, du thuyền, ăn uống ở nhà hàng, khách sạn. Những lưu ý trong cách tiếp xúc, ứng xử với người Mỹ…hay vô tình mắc phải những rắc rối về luật pháp không mong muốn.

 Nước Mỹ mênh mông, và nhiếu nơi đáng đến, nhưng  bạn cần lựa chọn vài nơi đáng để chi tiền nhằm trải nghiệm thực tế và chiêm nghiệm những điều lý thú trong những ngày trên đất Mỹ? Phần nào tác giả giúp bạn tháo gỡ những lo lắng, băn khoăn trước chuyến đi. Dưới cái nhìn có kinh nghiệm của người từng trải, những nhận xét sắc sảo qua các sự kiện, câu chuyện, tác giả khi thẳng thắn bộc lộ thái độ, khi  ngầm gửi đi những thông điệp tới những ai có ý định đi Mỹ thăm thú, học tập, lập nghiệp định cư ở Mỹ. Từ đó để bạn tự trả lời: Liệu mình có sắn sàng và có thích ứng với cuộc sống ở Mỹ hay không? Liệu mình có sẵn sàng chấp nhận những cản trở, khó khăn, sự khác biệt để hòa nhập vào xã hội Mỹ?

Bốn phóng sự ngắn về đất nước Bulgaria tuy thoảng qua nhưng cũng được tác giả tìm ra những điểm nhấn để người đọc có thể hình dung sự thay đổi, suy thoái về kinh tế xã hội trong cơn khủng hoảng của Chủ nghĩa xã hội khi một loạt các nước Đông Ậu tan rã. Những ngày trên đất Bun, tác giả trực tiếp chứng kiến một sự thực đau lòng phơi bày không thể che dấu. Qua đó có những suy nghĩ, lý giải câu hỏi: “Tại sao xứ sở Hoa hồng từng là “Thiên đường của Chủ nghĩa xã hội, nay lại là quốc gia nghèo nhất trong Liên mimh châu Âu?” Bạn cũng có cơ hội hiểu biêt thêm về đất nước có 6000 năm lịch sử với nhiều di tích đáng xem, những nhà thờ Hồi giáo đồ sộ, lộng lẫy thời kỳ Đế quốc Ottman ( Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) cai trị;  cùng những đấu trường, nhà hát La mã cổ kính; về nhà tiên tri mù Van Ga nổi tiếng với những tiên đoán thần kỳ, chính xác những sự kiện  nhân vật lịch sử làm rung chuyển thế giới và cuộc sống gia đình, cá tính, thói quen sinh hoạt đời thường của bà.

          Cuốn sách tập hợp 37 ký, phóng sự đựoc tác giả thể hiện bằng phong cách phóng túng, ngòi bút tung tẩy không bị lệ thuộc bởi những ràng buộc về thể loại. Bởi theo tác giả việc quy định thể loại không còn phù hợp trong cuộc sống hiện đại cuộn chảy đan xen nhiều vấn đề phức tạp. Một thể loại báo chí hay văn học không thể phản ánh được tính đa dạng của thời đại ngày nay. Xen vào các sự kiện, câu chuyện là những nhận xét, bình luận khi sâu sắc, khi hài hước, hóm hỉnh làm bạn đỡ căng thẳng sau nhiều áp lực của công việc và cuộc sống bận rộn.

Hy vọng bạn cảm thấy hài lòng và không cảm thấy lãng phí thời gian khi tiếp nhận những thông tin phong phú, đa dạng và có ích cuốn sách mang lại cho bạn.

nhavanhanoi.vn sẽ đăng tải từng phần nội dung của tập sách này.               
                                                                                                                      Phạm Hồng Hà ( Gt )


(Tiếp theo kỳ trước)                                     



 

Phần  IV

DỌC ĐƯỜNG

DÂN TỘC THIỂU SỐ

 

                                          “ANH TÚC” - BÀI TOÁN NAN GIẢI

 

         Cây anh túc có tên khoa học là Pavaveraceac thuộc thân thảo. Nó được con người gây trồng và sử dụng từ nhiều thế kỷ trước. Được các thầy lang dùng để chữa nhiều bệnh khác nhau. Nó được du nhập vào châu Á vào cuối thế kỷ XVIII. Từ Trung Quốc lan sang Việt Nam. Khi nó trở thành hàng hóa mang lại nguồn thu lớn cho đế quốc Anh, Pháp các dân tộc thiểu số phía bắc của Việt Nam – chủ yếu là người H’Mông –phát triển cây thuốc phiện khắp 4 huyện vùng cao núi đá: Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh. Thế là như một định mệnh, các thế hệ người Mông nuôi dưỡng, mang nó theo suốt những chặng đường du canh, du cư cơ cực. Đau bụng, vết thương, sinh đẻ, ốm đau...dùng thuốc phiện. Nó là người thầy thuốc tốt bụng, là “tiên dược” của người Mông. Tiệc tùng, ma chay, cưới xin, lễ hội - hút thuốc. Nó là người bạn tâm tình chia sẻ buồn vui. Là người bạn đường thủy chung, là cứu cánh tâm hồn đưa con người vào cõi thần tiên quên mọi khổ đau ở kiếp trần ai.

            Đói nghèo, bệnh tật, nghiện hút - Nghiện hút, đói nghèo, bệnh tật – là cái vòng luẩn quẩn không sao gỡ ra nổi. Phong tục, tập quán lâu đời là một sức mạnh đáng sợ. Nó có thể làm thoái hóa, thậm chí hủy diệt cả một dân tộc. Anh túc - thuốc phiện là kẻ thù thâm căn, cố đế đã gây ta bao bi thương cho mỗi số phận con người và xã hội. Đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao.

 

MỘT CHÚT LỊCH SỬ

Vận động phá bỏ cây anh túc và không nghiện thuốc phiện là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Ngay sau ngày khai sinh đất nước độc lập - ngày 3 - 9 -1945, trong bài Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cuối cùng tôi đề nghị tuyệt đối cấm hút thuốc phiện”. Như vậy tệ nạn thuốc phiện đã được đặt ngang hàng với “giặc đói” và “giặc dốt”.

            Nhưng thực tế chỉ sau 9 năm trường kỳ kháng chiến thắng lợi 1954, cuộc vận động lớn “không trồng và hút thuốc phiện” mới chính thức có quy mô rộng lớn ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số rẻo cao miền núi phía bắc. Kết quả là diện tích trồng anh túc bị thu hẹp, nhiều nơi bỏ hẳn. Nhiều người nghiện tự nguyện rời bỏ ‘nàng tiên nâu’ quyến rũ để thành người lao động khỏe mạnh có ích cho xã hội.

            Đáng tiếc, trong những năm chống Mĩ cứu nước chúng ta không có điều kiện phát huy thành quả, thậm chí buông lỏng, nên cây anh túc mọc lại ở nhiều nơi.. Các đường dây buôn lậu thuốc phiện do mafia và các tướng tá chính quyền ngụy Sài Gòn vươn tới vùng “tam giác vàng” và rẻo cao phía Bắc Việt Nam nạn buôn bán thuốc phiện cũng xảy ra phổ biến. Bán một nắm thuốc phiện có thể mua dược nhiều thứ, gọn nhẹ, dễ mang theo người mà không dễ biết.

            Năm 1981 Liên Xô đặt vấn đề với chính phủ ta ký hợp đồng mỗi năm cung cấp cho bạn 100 tấn nhựa thuốc phiện để sản xuất thuốc dân sinh. Nhà nước thành lập Công ty chuyên doanh đặc sản ( Anh túc – dược liệu) thường gọi nôm na là Công ty một cây. Cây anh túc có cơ phát triển trên diện tích rộng nhất trong quá trình lịch sử của nó. Thêm vào nữa là các tổ chức băng nhóm buôn lậu chuyển thêm thuốc phiện từ Lào và một số nước lân cận vào nước ta làm nguồn thuốc phiện có năm đạt tới 150 tấn, gây nên tình trạng khó làng kiểm soát nổi.

Trước tình hình diễn biến phức tạp ngày càng tăng, năm 1987 chính phủ đã chỉ thị giải thể công ty chuyên doanh “Một cây”. Cùng năm Ban Bí thư Trung ương Đảng có Chỉ thị 13 gửi cho các tỉnh miền núi vận động nhân dân thôi trồng anh túc, không hút và mua bán sản phẩm cây thuốc phiện. “Cỗ xe anh túc” đang đà tăng tốc bị phanh lại. Tuy có chậm nhưng vẫn còn may là trong thời gian này tình hình ma túy thế giới diễn biến khốc liệt, và kẻ đồng hành của nó là căn bệnh SIDA chết người đang đe dọa toàn nhân loại.

Những năm tiếp theo 1991 - 1992 vấn đề anh túc luôn có sự chỉ đạo bằng các văn bản pháp quy, được ghi vào điều 61, chương 5 của Hiến pháp (6-1992), nhưng diễn biến vẫn hết sức phức tạp.

Thực tế cuộc khảo sát tại 9 tỉnh trọng điểm vùng núi phía Bắc theo dự án VIE/92/660 có sự phối hợp của chuyên gia kiếm soát ma túy quốc tế (UNDCP) cho thấy:vụ đông xuân 1992 - 1993 cây anh túc vẫn được trồng trên mười nghìn héc-ta chưa kể diện tích nhỏ lẻ ở một số tỉnh miền núi khác.

 

“TRẬN CHIẾN” MỚI CHỈ BẮT ĐẦU...

            Đã só nhiều chỉ thị, văn bản pháp quy ngăn cấm trồng và sử dụng thuốc phiện nhưng không hiệu quả. Một cách làm mới được thảo luận trên các diễn đàn xã hội và Quốc hôi, Chính phủ: Đặt vấn đề giải quyết cây anh túc trong mối quan hệ tương tác vào chương trình tổng thể phát triển kinh tế, xã hội vùng cao phía Bắc. Tháng 09 -1992 Nhà nước cấp 20 tỉ đồng nhằm hỗ trợ cho đồng bào nơi phá cây anh túc. Gần hết năm nguồn vốn mới có, gây không ít khó khăn trong việc triển khai. Sự tổ chức, chỉ đạo còn lúng túng, một vài địa phương còn có sai sót trong việc sử dụng nguồn vốn, chưa tập trung vào trọng điểm v.v... đã hạn chế hiệu quả chương trình. Tuy vậy mở màn “chiến dịch Đông - Xuân 1992 - 1993” đã đạt thắng lợi. Dân tự nguyện phá bỏ 6.000 héc-ta và bỏ không thu hoạch 135 héc-ta cây Anh túc. Các biện pháp khác xóa bỏ được 3.500 héc-ta, khí hậu khô hanh góp phần làm thui chột 469 héc-ta...

            “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” đã làm nên chiến công phá bỏ 75% diện tích cây anh túc ở 12 tỉnh miền núi phía Bắc.

            Trên cơ sở kết quả nói trên, đầu năm 1993 Nghị quyết 06-CP đã đặt việc tăng cường phòng chống và kiểm soát ma túy thành một chương trình quốc gia (CTQG gọi tắt là CT-06) rộng lớn, đồng bộ, gồm nhiều bộ, ngành phối hợp thực hiện. Trong đó chương trình phá bỏ cây anh túc và thay thế cây trồng chỉ là một bộ phận do Ủy ban Dân tộc và miền núi trực tiếp chỉ đạo. Mục tiêu hướng tới của chương trình là ổn định đời sống và phát triển sản xuất. Ổn định là giải pháp tính thế nhằm hỗ trợ đời sống cho đồng bào vùng phá cây anh túc. Cho không lương thực, dụng cụ sinh hoạt thiết yếu, cung cấp giống, cây con, phân bón để bước đầu có thể đi vào sản xuất. Phát triển là giải pháp cơ bản, lâu dài, nghiên cứu tập đoàn cây con và mô hình sản xuất thích hợp với vùng núi rẻo cao. Nguồn vốn phát triển được giải quyết bằng hình thức cho vay không lãi, vay luân lưu, vay lại suất ưu đãi nhằm kích thích và mở rộng sản xuất. Định hướng, và từng bước đưa kinh tế miền núi thoát khỏi tình trạng tự cấp, tự túc hòa nhập vào kinh tế cả nước.

 

                                “MAI SAU... THÌ ĐẾN BAO GIỜ” ?

            E-Scô-ba, tên trùm buôn lậu thuốc phiện khét tiếng đã chết, nhưng tại các thung lũng xanh vùng A-ma-don nổi tiếng của Pê-ru còn tiềm ẩn cung cấp gần 70% trữ lượng bạch phiến thế giới. Các nước Mĩ la tinh còn trồng trên 300.000 mẫu anh túc. Riêng Cô-lôm-bi-a hàng năm cho ra lò gần 2000 tấn. Thuốc phiện, ma túy, ma-phi-a giờ thêm SIDA là mối hiểm họa tiềm tàng, là những vấn đề bức xúc của toàn cầu. Cây anh túc mọc thẳng, hiền lành, hoa đẹp, mỏng manh như một vần thơ mà đã gây nên bao hiểm họa và thu hút những khoản tài chính khổng lồ của nhiều nước trên thế giới nhằm chống lại nó mấy thập niên qua.

            Thái Lan nước láng giềng khi vực đã từng cho quân đội phá tan nhiều vùng anh túc. Đã tăng cường lực lượng cảnh sát, nhưng không phải tăng 2 lần lực lượng cảnh sát thì bắt được gấp 2 lần lượng ma túy. Gần 2 thập niên họ đã làm nhưng chưa bao giờ có kết quả được theo mong muốn. Con đường ma túy lắt léo, uyển chuyển. Nó là thứ hàng gọn nhẹ, giá trị kinh tế cao, khó có loại hàng nào sánh kịp. “Nàng tiên nâu” còn mê hoặc nhiều triệu người. Riêng ở Mĩ ít nhất có 6 triệu người. Mà lẽ thường còn cầu thì còn cung, nên việc phá cây anh tíc chưa ai có thể dám chắc bao giờ cuộc chiến này kết thúc.

 

            Nhìn lại đất nước ta trong mấy chục năm qua, cây Anh túc đã cắm rễ sâu vào các vách núi rẻo cao, và nguy hiểm hơn là đã cắm rễ sâu vào lòng người như một thứ “truyền thống tiêu cực”, có bề dày lịch sử. Thay một phong tục, một truyền thống dù trên bình diện ý nghĩa nào cũng đều là một thử thách khó khăn không thể nóng vội.

            Trận tuyến thầm lặng không cần đến phi cơ, đại bác mà cần lòng kiên trì, vận động thuyết phục hết sức mềm dẻo và năng động. Đồng thời cần có cơ chế chính sách và biện pháp Nhà nước, nguồn vốn đủ mạnh. Trước mắt tập trung vào trọng điểm vùng cây anh túc. Đúc kết kinh nghiệm, nhân rộng ra đại trà. Từng bước thay thế cây trồng, vật nuôi, ổn định đời sống và phát triển sản xuất hàng hóa. Sao cho đạt mục đích quan trọng nhất có tính “sống còn” là: “Phải đảm bảo mức thu nhập của đồng bào xấp xỉ bằng mức thu hoạch khi còn trồng cây Anh túc”, như yêu cầu của Thủ tướng Võ Văn Kiệt tại Hội nghị vùng cao và dân tộc Mông 12 - 1992. Đây là một bài toán nan giải cho các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách kinh tế, xã hội, mà lời giải còn đang trên bản thảo...

            Anh túc, thuốc phiện cũng là một trận tuyến giành giật con người, cứu họ thoát khoải lầm lạc, cái xấu, các ác. Bởi vậy nó bao hàm ý nghĩa nhân văn rộng lớn và sâu sắc. Nó cấp thiết và hoàn toàn phù hợp với chính sách “chiến lược con người” mà Đảng và Nhà nước đang thực hiện.

 

 

                                             VĨ THANH

 

            Đầu năm 1992 Liên Hợp Quốc thành lập tổ chức quốc tế kiểm soát ma túy, trụ sở tại thủ đô Viên nước Áo. Dàn thế trận toàn cầu nhằm thay đổi cục diện đấu tranh chống ma túy. Hưởng ứng cao trào quốc tế ngày 29 tháng 1 năm 1993, Chương trình 06 đã ra đời và triển khai trên toàn lãnh thổ Việt Nam, có phối hợp với cảnh sát quốc tế. Vụ Đông - Xuân 1992 - 1993 nhấp nhô nhiều bóng dáng áo chàm, váy Mông và các em thiếu nhi trên các ô ruộng rẻo cao phá cây anh túc. Hai phần ba xã hội là phụ nữ, trẻ em - những người chịu nhiều tai họa nhất của nạn nghiện hút đã “bỏ phiếu” ủng hộ chương trình.

            “Thế thời, quốc lợi, nhân hòa” đã gặp gỡ và chung tiếng nói. Đó là hậu thuẫn, áp lực to lớn, vững chắc cho chiến trận chống thuốc phiện, ma túy, SIDA.  Nhưng trên gác bếp các nhà sàn rẻo cao vẫn còn lưu giữ hạt cây anh túc. Và quan trọng hơn là trong lòng người còn luyến tiếc thứ độc dược nguy hiểm. Thuốc phiện, ma túy - Chiếc cầu dẫn tới SIDA vẫn chưa được chặt đứt. Trách nhiệm còn trĩu nặng trên vai Nhà nước, các bộ ngành, tổ chức xã hội và trong lương tâm mỗi con người, đặc biệt những người thân, ruột thịt của những ai sa vào hút chích ma túy.

            Để lành mạnh hóa xã hội và vì thế hệ tương lai của đất nước chúng ta hãy biến 06 thành 6 KHÔNG:

            KHÔNG trồng cây anh túc.

            KHÔNG tàng trữ thuốc phiện, ma túy.

            KHÔNG tiếp tay cho kẻ xấu hoặc trực tiếp vận chuyển ma túy.

            KHÔNG bán thuốc phiện, ma túy.

            KHÔNG mua thuốc phiện, ma túy.

            KHÔNG hút thuốc phiện và tiêm chích ma túy.

            Nếu mỗi người chúng ta thực hiện triệt để 6 KHÔNG thì cây anh túc sẽ không còn đất sống.

            Tương lai ở trong tay bạn.

                                                           Tháng 5-1994

                                                           

 

 

 

 

                                        ĐẾN VỚI RỜ KƠI

                                                                     

          Chúng tôi trên đường đến huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum  trong nắng chiều rực rỡ và nhiều gió. Ai nấy đều chung cảm giác vui lâng lâng. Xa xa, trên sườn đồi, sườn núi, những mái ngói đỏ tươi quần tụ đã ra hình những làng, buôn quy hoạch. Hồ là Ly tích nước chuẩn bị phát ra ánh sáng đưa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên vào một thời kỳ văn minh mới. Hai bên đường cũng san sát những chòm nhà sàn ngói cùng một kiểu. Được biết mỗi ngôi nhà như vậy Nhà nước chi 25 triệu đồng. Thế là dân Tây Nguyên sướng hơn hẳn dân lòng hồ Sông Đà trước đây. Tư duy đổi mới ắt dẫn đến hành động và biện pháp đổi mới. Vẫn chưa thật thỏa mãn, nhưng đó là một nỗ lực to lớn của Đảng, Chính phủ. Âu cũng phần nào bù trì, trả nghĩa cho những năm tháng các dân tộc Tây Nguyên chịu đựng gian khổ, đánh giặc kiên cường.

Anh Tống Minh Điểm, Chủ tịch huyện Sa Thầy, trong lúc giới thiệu với chúng tôi về tình hình địa phương có ý nhấn mạnh đến bốn xã vùng đặc biệt khó khăn, đất rộng, người thưa lại nằm sâu giáp biên giới nước bạn Cam-pu-chia. Anh cũng mong được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước để vực dậy vùng đất nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai phá. Và thế là, để hiểu tình hình ở đó chúng tôi chọn đi Rờ Kơi.

 

                                                 ***

 

Đài báo từng thông tin về nhiều vùng rừng Tây Nguyên bị tàn phá. Mà sao đường đến Rờ Kơi cây rừng xanh tốt lạ. Hỏi ra mới biết là khu bảo tồn thiên nhiên rộng 400 ha của quốc gia được đồng bào dân tộc thiểu số Rờ Kơi bảo vệ. Đáng trân trọng thay những người con dân tộc nơi đây dân trí chưa cao mà lại cầm cờ đi trước trong việc bảo vệ môi sinh. Dân vườn quốc gia Tam Đảo, Ba Vì, Ba Bể, Bến En e phải vào đây tập huấn và học tập chia sẻ kinh nghiệm..

 

Bên phải con đường phía mặt trời lặn là dãy Chư Mo Ray sừng sững. Nắng chiều hắt lên những mảng trọc đỏ sẫm trên đầu núi. Những vết thương của đất đá chen lẫn những dải xanh cằn cỗi đang hồi sinh. Chiến tranh đã lùi xa hơn hai mươi năm, nhưng di chứng của thứ bom hóa học hủy diệt của giặc Mỹ còn ngấm sâu, còn phá hoại lâu dài. Đến loài cỏ tranh dễ tính, phàm ăn cũng không ngóc đầu lên nổi. Hẳn nào bà con Rờ Kơi phải rời làng buôn từ bên kia dãy Chư Mo Ray về lập nghiệp ở lòng chảo bên này.

 Ra đi ai chẳng bịn rịn, thương nhờ bụi cây hốc đá, mồ mả cha ông thân thuộc từ bao đời. Đảng chỉ cho dân đến chỗ tốt hơn sao lại không nghe theo? Ấy là lời bí thư chi bộ đảng xã nói với chúng tôi. Và thực sự từ năm 1993, 549 hộ với 2.663 nhân khẩu đã tụ về làm nên xã Rờ Kơi bây giờ, rũ bỏ kiếp du canh du cư.

                                           

 

 

Hơn năm năm, một quãng thời gian quá ngắn, thế mà Rờ Kơi đã mang vóc dáng một quần thể dân cư có tổ chức ưa mắt. Các nhà sàn ngói giữa vườn cây tươi tốt bao quanh. Từng ô, từng ô vuông vắn xa gần bám theo xã lộ. Tương lai khi kinh tế khá lên, dân cư đông đúc rất thuận lợi cho việc quy hoạch thành thị tứ giao lưu kinh tế văn hóa.

Đang ngồi nhà bí thư Đảng ủy xã À Ghin nghe chuyện thì có thêm À Gao chủ tịch xã, À Ghéo, phó chủ tịch xã và vài thanh niên vào cùng góp chuyện. Nếu không có nước da bánh mật quá lửa đặc thù Tây Nguyên thì tôi cứ nghĩ À Gao đích thị là chàng thanh niên Thái Bình nào lạc vào đất này. Dáng người anh thư sinh nhưng săn chắc, áo quần gọn gàng, gương mặt thanh tú, lanh lợi. Rõ ra dáng người được học hành. Khi được bí thư giới thiệu và “chuyển giao” phần báo cáo tình hình xã, À Gao chẳng cần giấy tờ cứ vanh vách nêu những con số theo yêu cầu của Đoàn công tác. Diện tích tự nhiên của Rờ Kơi rộng bằng mấy huyện đồng bằng, tới 30.910 ha, diện tích gieo trồng 479,9 ha, còn lại là rừng và đất lâm nghiệp chưa được khai phá. Năm 1998 đạt sản lượng lương thực 845,45 tấn. Bình quân lương thực đầu người 317 kg. Lúa nước hai vụ có 35 ha, năng suất 95 tạ/1 ha. Trâu 15 con, bò 682 con, dê 100 con, trên 300 heo và đàn gia cầm 1.350 con, trên 1.200 m2 ao thả cá...

- Ấy ấy! Chủ tịch đọc chậm để kịp ghi, và xin dừng cho hỏi một ý kẻo quên thì thiếu sót quá. Trong những thành tích đó có điều gì là mới mẻ với bà con xã nhà?

 Nhiều chứ! Ví như cây lúa nước là rất lạ lùng với tập tục phá rừng làm lúa nương. Lúc đầu chưa tin và lúng túng lắm. Nay đã quen và thích nó. Năng suất năm nay là 10 tấn/1 ha, bằng cả chục héc-ta lúa rẫy. Một héc-ta lúa nước đỡ phá 10 ha rừng. Muốn có tiền mở rộng ruộng nước ra nữa. Một chân lúa nước một chân nương, ngô sắn. Vững lòng hơn. Không phải phá rừng, đào củ mài sống không đói khổ như trước. Con cá cũng béo mập hơn cơn cá trước đây đặt bẫy, đánh bả, đánh mìn ngoài suối. Nhiều khi cũng chẳng kiếm ra cá. Nay nuôi ao mình, thích thì bắt lên ăn...

Chúng tôi bước ra xem vườn nhà bí thư Đảng ủy xã. Phía đầu hồi nhà hướng đông là giếng nước đào. Một thanh niên đang đẩy cần kéo nước từ lòng giếng lên xối tắm ào áo, thấy người lạ cười bẽn lẽn. Bí thư khoe rằng năm thôn của xã kéo dài trên ba ki-lô-mét có tới 18 vòi tự chảy dẫn nước sạch từ nguồn về, và có tới 37 giếng đào như thế. Vì vậy bà con đỡ hẳn bệnh ngoài da, bệnh mắt và bệnh đường ruột. Vườn của bí thư xanh ngăn ngắt những cây Bời lời và cây Mỡ, chừng mấy trăm cây đã vươn cao hai tầm với. Vài năm nữa là có tiền sắm khối thứ đồ dùng tốt cho gia đình.

Tôi thầm nghĩ mô hình cảnh quan nhà giữa thiên nhiên thế này mới là mô hình sống lý tưởng cho con người thế kỷ 21. Phố xã đông đúc, tiện lợi hàng hóa lắm trò giải trí có khi chỉ tổ sinh bệnh và làm hư người. Nhiều người đã và đang thực hiện mơ ước có nơi nghỉ cuối tuần để hít khí trời trong lành và hưởng thụ không gian yên tĩnh sau sáu ngày hít bụi ô nhiễm và tiếng ồn áo inh tai ở thành phố. Sướng gì hơn ngồi ngay tại vườn nhà mình thưởng ngoạn hoa trái do chính mình gây dựng.

Ngoài cây Bời lời, cây Mỡ phổ biến trong các hộ gia đình, Rờ Kơi còn có 5 ha cà-phê, 19 ha Điều, 28 ha Nhãn, Xoài, Chôm chôm, Mãng cầu và 118 cây Nhãn lồng Hưng Yên và Vải thiều vừa đưa vào trồng thí điểm. Thứ cây có quả quý này xem ra rất hợp đất Tây Nguyên. Bí thư cho biết trên 80% cây sống và phát triển tốt. Thì ra người dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, bắc - nam - trung, nên cây cũng chiều theo ý người, xen kẽ đoàn kết với cây ở Tây Nguyên sum vầy thành tập đoàn giống quý. Xưa nay ta có quan niệm thứ cây quả này phải trồng ở đất này mới tốt. Nhưng đó là cái sai, cái thiếu sót về nhận thức và khoa học. Hoa đào là đặc sản Thủ đô vào Đà Lạt càng thêm đẹp, Các loại cây quả đặc hữu như: Nhãn lồng Hưng Yên, Vải thiều, và các loại cây quả đồng bằng Nam bộ đều phát triển tốt đã cho lứa quả đầu tiên. Đất Tây nguyên màu mỡ, khí hậu ôn hòa không quá nóng, quá lạnh là nơi lý tưởng để trồng cây ăn quả. Chắc chắn vùng đất rộng lớn này sẽ trở thành vựa trái cây hàng hóa chất lượng cao, không chỉ phân phối ngược ra phía bắc vào nam mà con xuất khẩu quốc tế…

 

                                                   ***

 

Theo lô-gíc phát triển kinh tế thì kinh tế, văn hóa, xã hội luôn gắn bó và thúc đẩy lẫn nhau. Rờ Kơi giờ đã có lớp học, trạm y tế khang trang và đời sống tinh thần được cải thiện. Cả xã đã có 31 chiếc ti-vi và 50% số hộ có đài bán dẫn. Dịp Tết Kỷ Mão cấp trên lại lắp cho một chảo pa-ra-pôn tiếp sóng truyền hình xem biết tận Trường Sa, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đón tết vui quá. Xã có 601 học sinh, 128 cháu mẫu giáo, có trạm xã hai y sĩ và hai y tá. Bí thư À Ghin có nguyện vọng xin thêm một bác sĩ và hai y tá nữa để đủ sức chăm lo sức khỏe cho dân. Trận dịch thổ tả năm 1983 đã cướp đi hơn 100 mạng sống của xã. Kinh nghiệm xương máu đấy. Cũng chỉ do dân mình dốt không hiểu biết, lại không có cán bộ y tế hướng dẫn. Từ đó đến nay đã 15 năm không có đợt dịch nào xảy ra nữa. Các tục lệ mời thầy mo cúng chữa bệnh, mổ trâu mổ bò đã chấm dứt. Bà con ăn sạch, uống sôi, biết cách phòng bệnh, được cán bộ y tế tập huấn, xem ti-vi, nghe đài đã hiểu thêm nhiều điều tốt. Đời sống văn minh tiến bộ hẳn lên.

Khi hỏi về xóa đói giảm nghèo, chủ tịch À Gao phấn khởi thổ lộ: “ Năm 1996 Rờ Kơi là xã “đứng nhất” toàn huyện về nghèo đói. Có tới 338 hộ đói nghèo ở bậc 8, bậc 9 - là bậc cuối đói nghèo theo cách phân loại ở đây. Nay chỉ còn 33 hộ đói và 201 hộ nghèo. Kế hoạch năm 1999 là xóa 70% hộ đói và 30% hộ nghèo...”.

Nhưng khi hỏi xóa bằng cách nào thì bí thư và chủ tịch nhìn nhau. Đành tâm sự thực là còn lúng túng và khó khăn. Nhưng quyết tâm ấy đã được ghi vào Nghị quyết chi bộ Đảng và kế hoạch của UBND xã. Xóa đói thì tương đối dễ vì số lượng ít, nhưng xóa nghèo thì còn khá mung lung. Làm sao cho dân giàu lên là vấn đề nan giải, vì dân ở đây chỉ có hạt lúa, củ sắn và chăn nuôi. Không có nguồn thu nào khác. Ruộng lúa nước quá ít, phá rừng làm rẫy thì phạm vào luật pháp.

 “Biết khó thực hiện sao còn ghi vào nghị quyết?” - Tôi hỏi. Cán bộ xã cùng cười thiện chí.

 Còn điều này nữa xin hỏi: “Vậy là năm nào thời tiết thuận thì đủ ăn. Năm nào có thiên tai thì lại đói và nghèo lại. Có đúng vậy không?”. Cán bộ xã nhìn nhau lúng túng. “Đúng có vậy!”. “Thế là xóa đói giảm nghèo chưa bền vững”. Lại cùng nhau cười thông cảm.

Hẳn là vì thế nên huyện mới “chỉ điểm” cho chúng tôi xuống Rờ Kơi nắm tình hình. Có ý tứ cả. Muốn đưa Rờ Kơi vào diện 1.000 xã khó khăn xin Thủ tướng hỗ trợ đầu tư đợt đầu theo Chương trình 135 - TTg. Muốn nâng cấp, xây dựng hạ tầng và bảo đảm bền vững xóa đói giảm nghèo. Bí thư, chủ tịch xã cảm ơn sư quan tâm của Trung ương, nhưng kiến nghị “đã thương thì thương cho đủ”. Còn 177 nếp nhà tranh chưa được ngói hóa xin kinh phí làm nốt cho đồng bộ, bà con khỏi thắc mắc lẫn nhau. “Xem ra vấn đề này tỉnh, huyện phải suy nghĩ bàn bạc tính toán chứ việc gì cũng “đổ” hết ra Trung ương thì gay quá đúng không?”
 Tôi hỏi cán bộ xã. Thế là tất cả lại cùng cười vui vẻ.

Còn tâm tư gì nữa chủ tịch, bí thư cứ nói đừng ngại. Một đồng chí trong đoàn gợi ý. Sau vài hớp chè vườn, bí thư À Ghin thủng thẳng giãi bày: “Ở xã tôi 100% là dân tộc thiểu số mà không có tên trong các dân tộc Việt Nam. Chúng tôi không phải là dân tộc Xê - đăng mà là dân tộc H’Lăng.”

Anh Hà Quế Lâm, Vụ trưởng Vụ Chính sách dân tộc của Ủy ban Dân tộc và Miền núi, cười nhận lỗi: “Đúng, việc đó là nhiệm vụ của cơ quan chúng tôi. Trước sau cũng phải có trách nhiệm làm rõ, xác định cho đúng các dân tộc. Song giờ đây còn rất nhiều việc phải làm trước. Mà dân tộc nào cũng là người Việt Nam cả, cùng nhau xây dựng quê hương đất nước. Bác Hồ đã từng nói: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một...”. Chúng ta đều là con một nhà. Đồng ý không?”  Anh em dân tộc thiểu số được cái rất hay là đồng ý cười, không đồng ý cũng cũng cuời chẳng hiểu họ nghĩ gì?  Tất cả đưng dậy vui vẻ bắt tay hẹn ngày gặp lại.

Trời sắp chuyển sang hoàng hôn. Cái nắng Tây Nguyên càng chiều càng ánh lên vàng hươm rực rỡ lạ thường. Đất đỏ, cây xanh phản chiếu vào nhau đẹp và hoang dã đến bần thần cả người. Tây Nguyên rộng lớn và đầy tiềm năng mời chào vẫy gọi nhân lực, vật lực vào khai thác để tung cánh bay lên, để xứng đáng là trọng điểm kinh tế đóng góp nhiều mặt cho sự tăng trưởng của đất nước.

Dọc đường ra tỉnh, chúng tôi ngây ngất ngắm nhìn một loài hoa lạ. Đó là loài thân gỗ cao chừng hai tầm với, cánh tỏa ra bốn phía, không hề có một chiếc lá, các cành chi chít hoa cánh to. Cây thì hoa tím, cây thì hoa trắng, hoa hồng rực rỡ hệt như cánh anh đào Nhật Bản. Cây nở trước cổng, trong vườn, ở hàng rào các nhà ven đường.

Hỏi gốc tích và tên hoa, các cán bộ địa phương ngồi trên xe cũng không ai biết. Hay là ai đó đã đem anh đào Nhật Bản về trồng?

Giữa màu xanh biêng biếc điệp trùng cây lá Tây Nguyên, những cây hoa sáng rực lên mầu quý phái như nàng công chúa ngủ trong rừng. Thiên nhiên cũng công bằng phú cho đất miền hoang dã loài hoa tươi thắm nở rộ vào độ tiết xuân bước sang mùa gieo hạt như báo hiệu tin vui và tốt lành.

Tây Nguyên đã có mái nhà rông vút lên biểu tượng cho sức mạnh và khát vọng con người. Có núi non và thác nước hùng vĩ biểu tượng cho thiên nhiên hùng vỹ dữ dội. Bước vào thiên kỷ mới có lẽ nên lấy thêm loài hoa “anh đào Tây Nguyên” (cứ tạm gọi là như thế) làm biểu tượng cho Tây Nguyên phát triển nở hoa văn minh, hiện đại và giàu có?

          4-1999

 

 

 

                               KỲ SƠN - BUỒN VUI MẤY NỖI?

 

            Nhìn lên bản đồ nước Việt ai cũng dễ nhận ra cái mầu đất phía tây - bắc miền trung Tổ quốc - giống ngón tay cái ngoắc sang nước bạn Lào như một cử chỉ hữu nghị, anh em gắn bó. Nhưng ít ai chú ý và biết đó là địa giới huyện Kỳ Sơn của tỉnh Nghệ An – nơi cây thuốc phiện được trồng nhiều nhất cả nước. Mầu đất này đặc biệt nổi lên và thu hút sự chú ý của bạn đọc từ khi Thủ tường chính phủ Võ Văn Kiệt vào thăm hồi tháng 4 năm 1995

Bước vào mùa mưa. Một sớm từ Vinh - thành phố Đỏ - chúng tôi khởi hành. Trời ốm nắng. Loang lổ những mây đen lởn vởn trong bình minh ảm đạm. Xe ngược quốc lộ 1 về phía tây bắt vào quốc lộ 7. Cứ thế mà bon qua đất Diễn Châu, Đô Lương, Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương dài dằng dặc. Con sông Lam lúc khuất, lúc hiện như cố bám tựa vào đường. Hay lộ 7 cố bám theo sông Lam? Chắc chỉ những phụ lục lộ ngày xưa mở con đường này biết rõ. Đến Bãi Trang thuộc huyện lỵ Anh Sơn thì, bất chợt con sông Hiếu tự đâu nhập vào, thêm nước cho dòng sông Lam cuồn cuộn tuôn ra bể.

Từ đất Anh Sơn, Sông Lam càng gắn bó với con đường. Bạn chớ lầm khi dân địa phương còn gọi sông Lam là sông Cả. Tại cửa Rào đất Tương Dương, sông Lam vật vã xóa tên, xẻ mình thành dòng Nậm Mộ và Nậm Nơn. Nậm Nơn tách mãi xa con lộ 7 như đứa con nuôi bị ruồng rẫy. Còn Nậm Mộ là con đẻ dòng chính vẫn chung thủy bám chặt đường số 7, ngược lên hết đất Kỳ Sơn, ngược lên tới đầu nguồn bên nước bạn Lào.

Xứ Nghệ quanh co, non xanh nước biếc. Tình, cảnh đẹp đến khắc nghiệt, đẹp đến vật vã trong gió Lào hầm hập. Càng đi về phía núi càng oi ả, chói chang.

Trưa ghé nhờ bữa cơm ở Con Cuông theo lời mời của Chủ tịch huyện Nguyễn Văn Phúc. Nghỉ ngơi trò chuyện hồi lâu rồi lại bon bon trong cái nắng ghê người. Tầm chiều thì “cập bến” Kỳ Sơn.

                                            

 

Đường 7 bây giờ đã nạp thêm nhiều nhân khẩu. Không còn lo như những năm trước, khi xe chết máy không biết ăn nghỉ vào đâu. Đã hình thành những chòm, những nhóm nhà rải rác bám chon von trên bờ vực sông, trên sườn đồi dốc. Phải chăng đó là dấu hiện của trục kinh tế thị trường, để nay mai thành động lực thúc đấy phát triển hàng hóa cho miền tây tỉnh Nghệ An? Những con mắt người Thái, H’Mông, Khơ Mú nhòm ra từ các ô cửa không còn ngơ ngác, lạ lùng như hơn mười năm về trước. Anh Khai, người đưa đường đồng niên với tôi, lại học cùng Trường đại học Tổng hợp - nay là Trưởng phòng Ban dân tộc tỉnh Nghệ An. Ông bạn mang đầy đủ “đặc thù” của dân xứ Nghệ: Ham hiểu biết, hơi ngang ngạnh, khoái châm chọc, tranh luận... nên chuyện đường cũng đỡ tẻ. Anh là người tâm huyết với miền núi và lăn lộn với vùng cao từ ngay sau ra trường, hơn hai mươi năm nay. Buồn vui nếm đủ. Anh cười với tôi mà rằng: “May mà có đổi mới, chỉ mươi năm trước đi công tác trên con đường này vất vả và heo hút lắm. Những toán cướp lục lâm đường 7 khét tiếng cả nước ông còn lại gì. Những thập niên trước, con đường này cũng là tuyến chính của cánh lái xe quá cảnh buôn các mặt hàng Thái từ Lào về. Nay vắng vẻ hơn vì một phần lớn xe cộ chuyển sang đi con quốc lộ 8 và 9 nhẵn rộng hơn. Phần nữa do hàng hóa của ra đã đánh bạt hàng Thái nên cũng chẳng còn món gì lãi lớn mà buôn...”.

Đến Kỳ Sơn chúng tôi “xịch” xe sát cửa nhà đồng chí Việt, Trưởng ban định canh, định cư huyện. Nhìn qua bên kia đường là chợ thị trấn Mường Xén. Chủ khách chào nhau là tôi “lỉnh” cắt đường sang xem “chiếc hàn thử biểu chợ” để đo nhiệt độ kinh tế vùng. Cũng có ý kiểm tra xem chủ kiến của ông bạn Ban dân tộc chính xác đến mức nào?

Chợ chiều đã cuối. Mấy chị hàng thịt ghếch chân lên góc phản cạnh mấy miếng thịt bạc nhạc còn sót lại chờ mấy ông công chức độc thân xa vợ con “rước” nốt để dọn dẹp. Riêng quầy hàng khô và tiêu dùng thì vẫn nguyên hiện trạng. Hàng hóa đầy ăm ắp. Treo, xếp bầy biện trong tủ kính, trên ghế, trên đất đủ thứ linh tinh.

Thấy khách xe biển số Hà Nội, cô cháu gái mảnh như chiếc kẹo kéo nhoi ngay ra từ đống hàng đon đả mời chào: “Bác mua mở hàng cho cháu gặp may”. Nghĩ: “Sao lại mở hàng vào lúc này nữa nhỉ”. Nhưng cứ hỏi xã giao cho cô cháu vui lòng. Dép giày, áo phông, sơ-mi, đồ nhựa, son phấn, xà phòng, đồ nhôm... giá gần tuyệt đối như ở Vinh chú mua làm gì. Chú chỉ tìm mua mặt hàng Lào, Thái thôi. Có gì đưa ra xem?”. Xét một lượt, cô cháu gái bên bẽn lẽn: “Có mỗi kẹo Lào ngon lắm. Bác mua mấy gói làm quà cho các em!”.

Thật là sự chuyển biến to lớn và phấn chấn cho nền kinh tế nước nhà. Mừng hơn nữa là các dân tộc thiểu số vùng heo hút cũng được hưởng cơ chế thị trường. Mua bán thuận lợi những hàng thiết yếu. Xóa dần sự chênh lệch vô lý trong tiêu dùng.

 

Chưa vội làm việc với huyện, sớm hôm sau chúng tôi đi vào xã Tây Sơn. Tuy tiếp giáp với thị trấn nhưng đi lại hết sức khó khăn bởi địa hình rất hiểm trở. Những đỉnh núi sừng sững trước mặt. Đỉnh Pù Niên 1.564 m, Pù Mơ 2.194 m, Pù Lon 2.200 m kéo dài tới đỉnh Pù Sai Lai Leng ở xã bên cao 2.700m tạo nên nóc nhà bắc dãy Trường Sơn. Ô tô Nhật 6 máy bánh to như xe tăng mà bò gần 2 giờ mới hết chặng được có 12 km. Nhiều chỗ lũ năm trước xẻ dọc ta-luy núi, rộng lọt con trâu, sâu hơn tầm với. Miệng đất đỏ vẫn còn toang hoác đe dọa lái xe. Theo lời ông Vừ Chông Pao lão lang người H’Mông, nếu đi bộ vào Tây Sơn người khỏe phải mất 4 giờ và nhớ mang theo bi-đông nước. Khi đi ra phải ngửa người bấm chân “kìm dốc” vừa “chạy nhỏ” vừa nghỉ cũng mất trên 2 giờ.

Được biết Kỳ Sơn vẫn còn 11 trong 20 xã chưa có đường ô-tô vào trung tâm xã. Nhiều xã có đường nhưng không thể đi lại vào mùa mưa. Trong số 16 xã  có người trồng cây thuốc phiện phần lớn chưa có đường đi vào. Sản phẩm ngô lúa, trâu bò làm ra cồng kềnh khó vận chuyển. Sự bế tắc về giao thông là trở ngại chính làm cho cây thuốc phiện còn cơ tồn tại cũng như sự đói nghèo dai dẳng ở các vùng xa, vùng sâu Kỳ Sơn.

 

Vào tới nơi gặp ngay buổi họp của các thành phần cán bộ xã Tây Sơn sơ kết công tác 6 tháng đầu năm. Đồng chí trưởng đoàn: “Xin lỗi vì gây phiền hà làm gián đoạn công việc của các đồng chí. Thôi khỏi nghi lễ thuốc nước. Chỉ xin một người dẫn đường vào xem vườn đồi của bà con có còn mận chín không?”. Thế là nhập cuộc, gỡ bỏ hết mọi ngần ngại. Ai đó nói: “Mận đã trảy hết rồi. Có xem cây không?”. “Xem chứ!” Rồng rắn theo nhau, kẻ ô người mũ leo ngược dốc. Mồm mũi tranh nhau thở đi vào bản Hói Giảng 3. Dọc đường mệt, đứng lại xem cây đào quả đang ửng, cây mận tam hoa đang xòe lộc sau 2 vụ thu hái; cây Mắc coọc đã cao tầm đầu người. Lác đác cam chanh chen cài trên các vườn hộ xiêu xiêu dốc bên lối bản.

Vào nghỉ chân nhà cụ Vừ Pà Dê già làng 65 tuổi. Chủ đi nương. Chuyện với Vừ Giả Tánh - con trai thứ 4 trong số 6 con trai, 3 gái của cụ. Tánh học năm thứ 2 Đại học Biên phòng đang kỳ nghỉ hè. Hỏi chuyện trâu bò, ngô lúa nắm không vững. Thỉnh thoảng Tánh lại phát mấy câu tiếng H’Mông vào gian bếp hỏi mấy chị em cho chính xác. Hiện nhà có 12 nhân khẩu, 5 trâu (3 bò mới chết dịch không kể), 15 dê, 2 ngựa, cỡ trên trăm gia cầm. Có hẳn một kho chứa lương thực. Ngó vào thấy ngô lúa đầy ăm ắp. Tánh cho biết phải ăn hai ba năm mới hết chỗ đó. Ngoài xe máy Minsk nhà còn có xe U-oát riêng. Cậu ba đã đánh đi từ sớm chở khách tuyến Tây Sơn, Mường Xén, Nậm Cắn. Vụ mận vừa rồi nhà thu trên 400 kg.

“Nhà mình có trồng cây thuốc phiện?”. Hai ba người trong nhà trao đổi bằng tiếng H’Mông rồi giao phó cho Tánh trả lời: “Trước trồng nhiều. Vụ này chỉ còn một ít, nhưng cho nhổ hết rồi!”. “Thật lòng không đấy?”. Cười bẽn lẽn. “Ấy là dọa trêu nhau cho thêm tình đoàn kết. Tin nhau là chính phải không à!”. Chứ thực tình cho tôi đi kiểm tra mà leo đứt hơi lên những vạt nương mù tít kia cũng xin đầu hàng.

                                       

 

Về lại trụ sở xã. Mệt bã người nhưng vui. Từ xã 60% hộ đói nghèo mới qua vài năm thực hiện các chương trình dự án 327, định canh định cư, 06 - xóa bỏ cây thuốc phiện, chuyển cây trồng... đời sống đồng bào đã đi vào thế ổn định. Chỉ còn gần 50 hộ nghèo và vài hộ đói chiếm 25% số họ trong xã. Đã hình thành sản xuất hàng hóa là chăn nuôi và cây mận tam hoa.

Bữa cơm ăn toàn bằng thìa và bốc tay như trẻ con, góp thêm phần thi vị cho chuyến công tác vùng cao. Chưa kịp dứt bữa thì trời lộp bộp ném mưa. Tất cả đứng ngay dậy, nắm tay chào nhau rồi vội vọt ra xe. Có nhiệt tình đến mấy cũng chịu. Chỉ cần mưa một trận là xe nằm lại cả tuần, lỡ hết kế hoạch. Anh tài Đức khời máy chạy đua với mưa. Có lần xe rê đít làm cả đoàn nín thở.

 

                                                ***

                                           

Trong buổi làm việc với lãnh đạo huyện, đồng chí Nguyễn Thạc Giáp, chuyên viên cao cấp của Ủy ban Dân tộc và Miền núi đề nghị trao đổi chuyện trò cho thân mật, cứ cần gì hỏi nầy là hay nhất. Từ một huyện có diện tích trồng thuốc phiện lớn nhất cả nước nay chỉ còn rất ít. Phải nói là thành tích lớn. Sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng còn lúng túng, nhưng đời sống nhân dân đã khá lên nhiều. Từ 60% nghèo đói nay chỉ còn 25% trên địa bàn toàn huyện. Chăn nuôi đang phát huy thế mạnh. Tổng đàn trâu, bò, ngựa, dê loài móng guốc đạt tới trên 17.000 con. Gần 30 năm công tác định canh định cư chưa tìm ra mô hình thì nay đã xuất hiện ở hai xã Tây Sơn và Mường Lống. Vụ mận vừa qua toàn huyện thu hái được 48 tấn quả. Công ty thương mại tỉnh thu mua bao đầu ra được 26 tấn cho dân. Đang có kế hoạch từng bước thu mua những sản phẩm đồng bào làm ra theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.

Nếu cho ba yếu tố quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội Kỳ Sơn thì chủ tịch Mùa Nỏ Tu xếp giao thông vào vị trí số một. Quy hoạch, xác định cây con giống mới hiệu quả kinh tế cao thứ hai, xây dựng cơ sở hạ tầng ý tế, trường học, văn hóa thứ ba. Còn những tiềm năng về rừng, cây công nghiệp, cây dược liệu như: sa-mu, pơ-mu, thảo quả, sa nhân. Con đặc sản như: ba ba, lươn, hươu... thì làm dài dài. Tất nhiên cuối cùng vẫn là vốn đầu tư không nhỏ và phải chọn cho hợp lý.

 Chủ tịch đề nghị Kỳ Sơn được vào chương trình của Chính phủ như Mường Tè, Lai Châu. Cần gấp rút nhiều vốn, nhiều dự án hơn nữa. Toàn những điều không có gì là sai, đều chính đáng đúng với nguyện vọng đồng bào. Thực lòng đem Kỳ Sơn so với những vùng núi đá cao như Đồng Văn, Mèo Vạc, Mường Tè tôi e rằng hơi khập khiễng. Tôi đã chú ý quan sát mấy ngày qua. Thấy rừng ở Kỳ Sơn còn rất khá, đang tái sinh rất xanh tốt, lại còn cả rừng nguyên sinh. Đất Kỳ Sơn dốc nhưng màu mỡ, bãi chăn thả gia súc phong phú có cơ hội phát triển chăn nuôi. Tôi đã từng đi tới những xã Lũng Táo, Xà Phìn, Lũng Cú của Đồng Văn. Rửa mặt phải tiết kiệm từng bát nước. Từng chứng kiến những cụ già, con trẻ trong bữa ăn vây quanh nồi mèn mén và một xoong canh cải nước trong.

 

Phải thừa nhận rằng dân Mông ở đâu cũng rất cần cù, chăm chỉ. Nhưng một số cũng có tính ỷ lại; trông chờ nhà nước. Nơi khó quá, đói quá như miền núi đá đã đành, nơi đã đủ ăn vẫn cứ muốn không mất tiền mua. Vào Tây Sơn nhiều nhà lúa ngô, trâu, bò, dê dư dật. Hỏi nguyện vọng vẫn cứ xin Nhà nước cho không muối i-ốt và dầu hỏa. Thế là không nên. Cán bộ địa phương phải giải thích cho dân hiểu và cảm thông với Nhà nước. Đất nước mình hãy còn trên 6 triệu con người đổ xương máu, già cả, ốm yếu, mất người thân trong hai cuộc kháng chiến, còn rất nhiều các gia đình thương binh, liệt sĩ khó khăn thuộc diện chính sách mà Nhà nước cũng chưa lo được bao nhiêu. Mỗi cán bộ, mỗi người dân tự vận động khắc phục mới phải lẽ. Ngân quỹ quốc gia còn “vơi” và còn nợ nước ngoài không ít đâu đồng chí ơi!”.

Đêm dạo phố Mường Xén. Nhà nhà điện sáng bừng. Áo cánh ngồi lần cởi trần xoay lưng ra phía đường hút vào màn hình ti-vi mà không sợ trộm cắp xộc vào. Cả phố huyện mới mọc hai quán ka-ra-ô-kê. Chúng tôi ghé vào một quán uống cốc ca-cao xem mấy thanh niên trẻ ngả nghiêng hát nhạc tình sướt mướt. Tuy vậy, môi trường xã hội còn an bình trong sạch lắm. Liệu có còn giữ mãi được những cảnh đáng yêu ấy khi kinh tế “bốc” lên, khi cuộc sống đã no đủ?

Dạo bước trong ánh trăng và suối ngàn róc rách ven lề đường. Cảnh đẹp đến sững sờ. Nhưng sao vẫn cứ buồn quá. Chạnh nghĩ về những đồng bào H’Mông, Khơ Mú, trẻ em ở tít trong những vùng rừng núi mênh mông heo hút kia, khi nào mới được xem cái ti-vi để mở mang thêm đầu óc.

Xin cho một ngày gần những người dân vùng cao, miền sâu, miền xa được hưởng một phần như phố Mường Xén đêm nay.

                 8.1997

 

 

TRĂN TRỞ ĐỒNG VĂN

                                                                        

          Đúng hôm chúng tôi đi Đồng Văn, trời trở gió. Rét đậm. Ông Vương Quỳnh Sơn “hậu duệ” của “vua mèo” Vương Chí Sình làm trưởng đoàn. Khi đã yên vị trên xe, ông cảnh báo:

- Đi vào thời tiết này mới thấm được cái lạnh của vùng núi đá.

Những ngày này, đường Hà Nội - Hà Giang đã nhộn nhịp người xe xuôi ngược. Đến đoạn Bắc Quang thì vón cục lại, mua bán ồn áo. Ở huyện này có loại cam đặc sản nổi tiếng. Tết Nguyên đán đã cận kề, phải nhanh mắt nhanh tay mà gom, mà đóng kiện kịp chở đi “phân phối” cho thị trường bắc nam.

Hôm sau đi đất Quản Bạ, đường vắng vẻ. Hai bên đường là đá với những hình thù kỳ dị. Đẹp nhưng đau lòng. Những đá đứng, đá ngồi, đá mẹ địu đá con, voi quần, ngựa phi... Lố nhố chèn nhau là những vạt nương, hốc đá nhỏ hẹp vài thân ngô ngoi lên cần cỗi. Lọt vào địa phận huyện Yên Minh lòng chợt dịu lại khi lác đác những vạt thông, sa mộc xanh mướt xiêu xiêu hiện lên trên những sườn núi dốc mù sương. Sang đất Phó Cáo, Phó Bảng của huyện Đồng Văn thì đá không còn xanh đen như ở Yên Minh, Quản Bạ. Đá nứt nẻ, rạn chân chim, nhăn nhúm, mốc thếch già nua. Ngó lên vách núi chỉ rặt cây chó đẻ xơ xác đang tàn úa. Loài lưỡi rắn (thứ Dương xỉ cố đại đã thoái hóa) vừa chèn ép, vừa hữu nghị cộng sinh với cỏ dại nhọn sắc, với những bụi cây gai lúp xúp. Chúng nhọc nhằn tòi ra từ những hốc mắt núi, thớ đá... Độ cao đã nhích lên gần 1.800 m so với mặt biển.

 

Không chọn con đường nhựa Mèo Vạc - Đồng Văn, chúng tôi đánh vật với con đường không số từ Xà Phìn sang. Áp trưa thì tới Đồng Văn. Đúng lúc các ban, ngành của huyện đang tất tả đón khách đến chia vui khánh thành thủy điện Séo Hồ. Hai tổ máy công suất 500 Kw đủ chia điện thắp sáng cho hai huyện lỵ Mèo Vạc, Đồng Văn và mấy vùng phụ cận. Phố Đồng Văn cũng chẳng có gì nhiều để xem. Có mỗi con đường thẳng ruột ngựa, đổ từ dốc phía tây sang phía đông, chạy qua phố huyện chừng 200 m, rồi trôi tuột xuống sân vận động như chiếc dạ dày ngựa. Chợ trưa đã quạnh người. Chỉ còn lơ thơ dăm bà với mấy mẹt táo, lê, măng, miến bỏm bẻm nhai trầu kiên trì chở khách vãng lai.

Nhớ nguồn “viện trợ” của ngân sách nhà nước, Đồng Văn lên được hai ngôi nhà ba tầng cho huyện ủy, ủy ban. Thêm vài cái nhà hai lầu cho phòng ban của huyện Mầu vôi còn mới tinh. Kính mầu lấp lánh. Thợ còn đang tiếp tục chỉnh trang.

Được ngày vui, các chàng trai phố huyện áo Jacket, khăn len vắt lệch qua vai, chễm chệ trên xe Misk rú ga phăm phăm vượt dốc. Tuy chưa đủ tiêu chuẩn thị trấn nhưng đường phố Đồng Văn cũng sáng đẹp lên nhiều. Cũng đủ loại bia, nước ngọt của những hãng nổi tiếng thế giới. Hàng hóa cũng đa dạng hơn những năm trước. Đã xốn xang tiếng cười nam nữ vây quanh sân bóng bàn, cầu lông. Đôi lúc ở một quán nào đó nhạc xập xình bốc lên nghe cũng vui tai giữa cảnh núi rừng.

Chúng tôi thả bộ theo ông Vương vào thăm gia đình ông Phạm Văn Dục. Ông Dục là bạn đồng thời với ông Vương, cùng trong lực lượng vũ trang thời  Cách Mạng Tháng Tám; cũng là nhân chứng vụ bắt sĩ quan, binh lính của Quốc dân đảng theo gót quân Tưởng Giới Thạch vào đất Hà Giang. Ông quê Nam Định. Phiêu bạt lên lập nghiệp ở Đồng Văn đã được ba đời.

Thừa lúc hai ông bạn già đã “hòm hòm kỷ niệm” tôi ngắt ngang hỏi về kinh tế gia đình. Ông trả lời chậm, nhưng rành mạch:

 “Lương hưu anh còn lạ gì. Tiêu pha bấn lắm. Ở đâu không biết chứ ở đây mang tiếng là đồng rừng nhưng củi đóm đắt quá. Bình quân hộ 6 người như nhà tôi mỗi tháng tốn 120.000 đồng củi đun. Khi mặc cả cũng thấy thương đồng bào. Chặt được một địu củi phải leo cao chui sâu vất vả, lại mất đứt một ngày đi về từ Xà Phìn sang chợ. Mỗi địu được 10.000 đồng lờ lãi được bao nhiêu đâu!

Ông Dục cho biết chung quanh vùng này rừng đã hết. Mấy năm rồi Nhà nước có đầu tư, nhưng như muối bỏ bể. Trồng được ít rừng cũng không canh nổi. Mưa rét như thế này ai mà đi kiểm hết. Tôi nghe đài, báo phê phán vùng dân tộc dân trí thấp, không nhận thức được việc bảo vệ môi trường. Anh đi hỏi thử xem. Dân biết cả đấy. Vờ ngơ ngơ thế thôi. Đói thì phải làm liều. Mùa lũ 1996 cuốn trôi cả cầu đường ở Đồng Văn ai mà chả biết...

Vô tình mà thành ra hữu ý. Ông Dục đã cho hiểu một phần việc tôi đang quan ngại. Có bốn “thành phần cơ bản” gắn chặt với cuộc sống người H’Mông: ngô để làm lương thực, củi để nấu ăn và sưởi ấm, cây lanh làm vải mặc, và cây thuốc phiện để mua những thứ thiết yếu cho sinh hoạt. Cây thuốc phiện chiếm tỷ trọng khá lớn trong nguồn thu nhập của người Mông. Nhưng chưa từng bao giờ người Mông giàu lên nhờ cây thuốc phiện. Trừ một số ít kẻ đầu nậu, buôn bán phi pháp.

Tôi đã hỏi nhiều gia đình, nhiều cán bộ xem thái độ về việc bỏ cây thuốc phiện. Ai cũng than phiền về cái hại sức khỏe, gieo rắc tệ nạn, tội ác và phá vỡ hạnh phúc gia đình, bao cái hại không thể lường hết.

Tôi chưa vội khẳng định những con số các tỉnh báo cáo về diện tích phá bỏ cây thuốc phiện, nhưng khẳng định chắc chắn chủ trương của Đảng được mọi đồng bào dân tộc vùng cao ủng hộ. Ý Đảng, lòng dân đã gặp nhau thành sức mạnh. Thực tế chỉ trong bốn năm, cây thuốc phiện đã được xóa cơ bản trên địa bàn vùng núi cao phía bắc. Nhưng “hậu cây thuốc phiện” chưa được giải quyết đồng bộ, kịp thời.

 

Từ miệt Xà Phìn đi Đồng Văn tôi để ý ngắm nhìn những vạt cải dầu đang rộ hoa vàng. Biết đó là một trong những thứ cây thế chân cây thuốc phiện. Buổi tối trao đổi với đồng chí Lưu Sần Vạn người dân tộc Kờ Lao – hiện là phó chủ tịch UBND huyện Đồng Văn – được biết năm vừa qua huyện đầu tư trên 300 triệu để trồng gần 1.000 ha cây cải dầu. Nhưng hiệu quả thì mới là “bước đầu” theo như cách nói của các nhà chức trách. Thế đến bao giờ thì thực sự hiệu quả?

Tôi lân la hỏi trong dân. Cảm nhận chung là dân không mặn mà lắm với cây cải dầu. Dân có cách tính toán thiết thực hơn. Không tiện kể ra những Sùng, những Thào, những Vương... Những người H’Mông, thổ lộ tâm tư, nguyện vọng. Có một phép tính toán giản đơn người “ít chữ” cũng có thể nhẩm ra.

Cây cải dầu chăm sóc tốt chỉ đạt 700 kg/ha. Mỗi ki-lô-gam giá 4.000 đồng. Vị chi 1 ha thu chừng hai triệu tám trăm ngàn đồng. Mất năm tháng vui xới. Khi được hạt có lúc phải chờ đợi hằng tháng mới bán được cho Nhà nước. Trong khi đó gia đình lại thiếu tiền, thiếu lương thực chống đói. Trồng cây đỗ tương, cây ngô giống mới chỉ mất ba tháng  Đỗ tương năng suất 5 - 6 tạ giá 6.000 đ/kg, ngô

đạt 22- 24 tạ/1 ha giá 2.000 - 2.200 đ/kg. Giải phóng đất nhanh. Có thế xen canh cây rau màu, cây chất bột chống đói giáp hạt. Bao nhiêu cũng không đủ để bán trên thị trường tự do. Mỗi ha thu về từ trên ba triệu đồng đến gần 5 triệu đồng. Lợi thế hơn hẳn về thời gian và hiệu quả.

Theo báo cáo ghi ngày 16-1-1996 của UBND huyện Đồng Văn, vụ đông xuân 1996-1997, qua kiểm tra ở một số xã, diện tích thực trồng cây cải dầu mới đạt xấp xỉ 50% kế hoạch đặt ra. Đúng quy luật thôi. Cái gì hợp với lòng dân, đúng sở nguyện ắt nó sẽ tự thân đi vào cuộc sống.

 

                                                      ***

 

Đêm ngủ ở “lâu đài” của “vua Mèo” Vương Chí Sình. Cái rét 2o C núi đá buốt như kim châm. Đống lửa giữa nhà rừng rực chỉ đủ ấm cho phần bụng. Phía lưng vẫn gai gai lạnh. Đã “vũ trang” trên chăn, dưới nệm, mặc cả áo lông, nhưng trống phần đầu nên buốt đỉnh. Tôi nhổm dậy với chiếc mũ lông trùm kín đầu mới yên giấc.

Tầm 5 giờ sáng chúng tôi đã thức bởi tiếng xoong nồi va nhau, tiếng trẻ con bi bô. Cháu chắt ông Vương đã dậy chuẩn bị bữa sáng. Cứ quen như Hà Nội tôi pha đầy một thau nước để đánh răng rửa mặt. Chợt nhớ tối qua anh em trạm biên phòng Xà Phìn phải mua nước của dân dự trữ vào can nhựa. Thảo nào lúc mình rửa mấy bà, mấy cô cứ nhìn chằm chằm. Hỏi ra mới hay nước ở đây quý như xăng. Nước luôn là nỗi khát của cao nguyên núi đá Hà Giang. Hai thập niên lại đây rừng trụi dần, nước càng khó, trở thành vấn đề sinh tử đối với hàng vạn người Mông, nơi “sống trong đá chết vùi trong đá” như nhiều người thường ví von.

Tầm 9 giờ sương mới bớt. Xe lại chuệng choạng đi trên đá trơn ngược lên Lũng Cú. Đã qua mùa thu hoạch ngô từ lâu. Những thân cây ngô khô xếp dọc thành những đụn úp lên những mỏm đá nhỏ dọc đường. Trên những nương cao còn sót lại những thân ngô xơ xác, gầy guộc. Càng lên cao bậc thang càng hẹp. Chỉ trồng được dăm ba hàng ngô. Những bậc đá xếp công phu tầng tầng, lớp lớp leo lên tới đỉnh núi tựa như Kim tự tháp Ai Cập. Đúng là một kỳ công của nền nông nghiệp núi đá. Tôi thầm thán phục người H’Mông, một dân tộc cần mẫn, với bản lĩnh hiếm có và nghị lực phi thường. Đời nọ kế tiếp đời kia khai sơn, phá thạch tạo dựng cơ đồ.

Lũng Cú đã thấp thoáng trong nắng vàng màu hoa cải. Gặp một cặp vợ chồng người H’Mông như đôi chim bồ câu nghỉ chân ven lộ. Chúng tôi hỏi đường về Đồn biên phòng bao xa. Cả ai người cùng cởi mở. Anh dướn người lộ rõ “đài cát xét” bên hông chỉ về phía lá cờ nhỏ xíu:

“Bộ đội biên phòng ở dưới lá cờ kia. Không xa nữa đâu à ! »

           « Cảm ơn nhé! Lại cùng cười. Răng vàng lóe sáng... »

 

 Thấy xe con dừng, cả hai người trực trạm biên phòng Lũng Cú ra đón. Trạm trưởng Trịnh Văn Lâm và chiến sĩ Phan Văn Tâm đều mới 22 tuổi. Một quê Phúc Yên, một quê Hà Tây. Tay xoa xoa mời chúng tôi vào nhà xơi nước. Anh em xuống địa bạn hết. Phải triển khai kế hoạch cùng lực lượng dân quân bảo đảm trật tự an ninh cho địa bàn, cho đồng bào ăn tết vui tươi, đoàn kết. Trạm neo người quá.

« Mộc mạc thôi nhé! Ủy ban Dân tộc và Miền núi gửi tặng anh em chút quà để cung vui. »

Ông Vương nó rồi trao cho Lâm túi ni-lông có kẹo bánh, thuốc là và chiếc phong bì. Chợt nhớ, ông lại kêu Vui phóng viên Tạp chí Dân tộc và Miền núi ra xe lấy tặng thêm trạm cuốn lịch và tấm ảnh Bác Hồ cỡ 40 – 60 cm đã ép platic cẩn thận. Tôi, anh bạn Lê Vui và hai bạn trẻ biên phòng xúm vào chỉnh trang văn phòng. Tấm ảnh mới thay cho ảnh cũ cỡ 30 – 40 cm đã ố vàng. Hai bên ảnh Bác là lịch treo của Bộ Tư lệnh biên phòng và Ủy ban Dân tộc làm cho căn phòng như sáng sủa hẳn lên.

 

Ghé vào trụ sở UBND xã Lũng Cú còn sực mùi vôi. Mãi sau chủ tịch Giàng Sếch Vừ mới tới. Người anh nhỏ như đứa trẻ 12, 13 tuổi. Mũ bê-rê xỉn khói bếp. “Đang vội mà. Xin cho ngắn gọn thôi đồng chí à”.

Lũng Cú là mỏm tận cùng phía bắc đất nước. Quanh thung lũng bao gồm 9 xóm: Tả Giá Khâu, Sen Sa Phìn, Cán Tà, Thiền Bả, Lu Lú, Só Lục, Si Minh Kha, Thanh Ván, Sán Chủ (Cổng trời). Những cái tên đọc cũng đã thấy vất vả, xa lơ xa lắc. Ở đồng bằng, xí nghiệp, nhà máy cán bộ  báo cáo giỏi một mạch là đầy đủ.  Cán bộ dân tộc vùng xa, vùng sâu làm đựợc nhưng nói kém. Hỏi đến đâu, nói đến đó. Chất phác, thật thà.

Xã có 473 hộ, gần 3.000 khẩu. Có 173 hộ thiếu ăn. Loại đói nặng 4, 5 tháng/năm có 100 hộ. Hai trường cấp I cho trên 300 cháu học. Nhưng mấy năm nay chỉ có 8 cháu học lên được cấp 2. Còn lại học xong lớp 5 là về làm nương, lấy vợ lấy chồng. Việc chuyển đổi cây trồng đang còn nhiều khó khăn, chưa lấp được khoảng trống thiếu hụt kinh tế.

Đứng ở sân Ủy ban có thể nhìn rõ toàn thung lũng. Những mảng xanh rất biếc của đậu Hà Lan, đậu răng ngựa. Mảng vàng rực rỡ của hoa Cải dầu. Nhà cửa đều vén lên các sườn núi dành đất để canh tác. Nhưng cái thung lũng nhỏ hẹp này dù có oằn lưng xuống cũng không đủ nuôi bấy nhiêu con người.

Tôi đã lấy nhiều cái “lý lịch” kinh tế, xã hội các xã vùng cao. Sao nó cứ na ná giống nhau đến thế! Thiếu đất canh tác, thiếu nước trầm trọng vào mùa khô. Đói, bệnh, mù chữ, thất học... Thực ra trong những năm qua ngân sách cấp không cho Hà Giang nói chung và Đồng Văn nói riêng cũng không phải là ít. Năm 1996 nguồn thu của Đồng Văn chỉ đáp ứng được 4% việc chi tiêu trong huyện, còn lại là trung ương cấp. Có lẽ nơi đây còn được ưu ái hơn những nơi khác. Liệu có phải là do ít tiền hay do phương pháp đầu tư?

Liệu đến bao giờ Đồng Văn mới thoát khỏi đói nghèo? Tăng tốc sao đây để đuổi kịp các vùng khác trong giai đoạn công nghiệp hóa?

Một điều thú vị và tâm đắc trong chuyến đi này là tôi có nghe một truyền thuyết có liên quan đến vùng chóp nón Lũng Cú. Dân gian còn giữ sự tích rằng:

                                                

 

Từ xa xưa vùng này chưa có tên, còn rất hoang vu. Vào thời Tây Sơn, vua Quang Trung quyết định đặt một trạm biên phòng gần biên giới hai nước Việt Trung dưới chân núi Rồng. Nhà vua trao cho đồn một chiếc trống lớn để làm trống lệnh. Chiếc trống đó có 2 con  rồng chầu trên mặt trống nên gọi là Long Cổ nghĩa chữ hán là trống có rồng. Người H’Mông gọi núi này là Long cư – tức là nơi Rồng ở. Từ sự kiện đó đất này có tên là Long Cổ. Thực dân đến xâm lược phiên âm theo Pháp tự là Long Cu (vì chữ Pháp không có ký tự Ư nên đọc nghe như Lông cu). Không rõ về sau, ai trong số cán bộ miền xuôi lên hoạt động ở đây, ngại từ trên không được thanh nhã lắm, đọc thành Lũng Cú. Gọi nhiều thành quen, thành chính thức. Rồi cũng không ai tìm hiểu đính chính lại. Nghe nói sau này có người truy nguyên cái tên Lũng Cú thì được giải thích rằng : Thung lũng có nhiều Cú mèo nên đặt thế. Tranh thủ lúc cụ Vương đang say sưa trò chuyện với cán bộ xã, tôi lân la hỏi các cụ cao niên có đung vậy không? Tất cả các cụ đều bảo Từ đời cha ông ở đây chưa từng có cú mèo. Nơi quân tường Tây Sơn đóng đồn chỉ chếch nơi bộ đội biên phòng đang đóng chừng 200 mét về phía Tây.

Tôi cứ băn khoăn mãi khi chia tay Lũng Cú. Cái tên Long Cổ xa xôi sao gợi cảm đến thế. Gắn liền với miền đất hào hùng một thời dụng nước và giữ nước. Giá như chúng ta phục hồi cái tên oai hùng ấy cho mũi đất thiêng liêng này nhỉ!

Xe đến đoạn quặt, tôi còn cố ngoái lại nhìn lá cờ nhỏ xíu phía trên trạm biên phòng. Vẫn còn thấy cột cờ ghép bằng hai cây luồng mảnh khảnh. Mầu xanh của rừng nơi địa đầu đất nước sao mà thiêng liêng và thương mến đến thế!

 

Đêm về Hà Giang nói chuyện với đồng chí Thảo, nguyên là giáo viên, rồi  làm Chánh văn phòng UBND huyện Đồng Văn nhiều năm. Nay được điều về làm chủ tịch nhà khách tỉnh. Anh cho biết, khi còn ở Đồng Văn anh thường đưa đón nhiều đoàn khách trong nước và nước ngoài đến thăm Lũng Cú. Đường đi rất vất vả. Đến nơi không có nơi ăn, nơi nghỉ lại bạn lại phải vội vàng về huyện. Nhiều khi khách có nhu cầu ở lại vài ngày tìm hiểu về lịch sử, xã hội, con người và cuộc sống đồng bào các dân tộc, đành phải chịu.

Bất chợt tôi và anh Thảo cùng nảy ra ý tưởng: “Tại sao chúng ta không dành một phần nhỏ trong số hàng nghìn tỷ đồng đầu tư cho miền núi những năm qua xây dựng một nhà nghỉ, một trạm biên phòng đàng hoàng hơn ở nơi mỏm đầu Tổ quốc này nhỉ?” Trên đỉnh núi Rồng mở một con đường bậc thang lên đỉnh núi. Xây một bệ xi măng cốt thép vững chài trên đỉnh núi cắm một cột cờ bằng thép. Giữa bầu trời biên ải một lá cờ lớn phần phật tung bay?”

Để mỗi sớm ban mai các chiến sĩ biên phòng nghiêm trang cháo lá cờ Tổ quốc. Người dân đi về có thể ngắm nhìn lá cờ thiêng liêng đỏ thắm máu xương biết bao thế hệ. Để các dân tộc sống trên thung lũng này thêm yêu Tổ quốc mình, gắn bó đoàn kết quân dân cùng nhau kiến thiết quê hương ngày càng vững mạnh?

  Đồng Văn, mảnh đất xa xôi với tôi còn nhiều điều chưa kịp nhận ra, chưa thật hiểu sâu sắc, song với chuyến đi ngắn ngủi, vùng đất chóp nón của dải đất Việt Nam đã để lại trong tôi những ấn tượng không thể phai mờ...

 

                                                4-1997

 

 

 

CÓ CÒN VĂN HÓA SƠN LÂM?

                                            

           Tôi còn nhớ cách đây 15 năm, đi làm phim phóng sự ở huyện Điện Biên (tỉnh Lai Châu). Một chiều muộn, tôi ngồi thưởng thức rượu nếp nương ở sàn đầu hồi nhà sàn ông cụ người Thái. Sương buông bảng lảng quyện với khói lam. Vài đốm lửa đốt nương lập lòe mãi đâu phía chân trời. Gió ẩn nấp trong những cánh rừng từng đợt phả vào dịu mát. Cảnh tượng ấy hôm nay cứ thu hẹp dần trong quá trình “đô thị hóa”. Tôi tự đặt câu hỏi: Rừng xanh lùi vào tới đâu? Điện Biên êm ả giờ đang háo hức mở rộng. Đường đi đến đâu ở đó mất nhà sàn. Thay vào, là những nhà hộp hai, ba tầng quét ve xanh, đỏ lòe loẹt. Phố xá nhộn nhịp, tiếng ca ẽo ợt phát ra từ những chiếc cát-xét xen với giọng khàn đặc từ nhà hàng ka-ra-ô-kê. Kể cũng vui hơn nhưng không tránh khỏi tiếc nuối những ngôi nhà sàn Thái hiền lành và không khí yên bình nơi núi rừng.

 

            Tôi không hẳn là người hoài cổ, khư khư giữ những hoài niệm cũ. Rất mừng là đồng bào các dân tộc thiểu số đã có những đồ dùng sinh hoạt tiện lợi. Cuộc sống biến chuyển, bà con được hưởng những thành quả của văn minh. Thì cứ uống nước đóng hộp, bia lạnh, dùng cát-xét xập xình, cứ mang tủ lạnh vào ngôi nhà sàn Thái đã có điện, cơn cớ gì phải bỏ đi những nếp nhà sàn truyền thống của Tây Bắc? Giao lưu văn hóa là quy luật ngày càng có xu hướng toàn cầu, trong thời đại điện tử, bùng nổ thông tin. Vấn đề là ở chỗ chọn lựa, hướng dẫn những giá trị văn hóa đích thực của thế giới, những nét đẹp, cách sống hiện đại nhưng phù hợp với văn hóa truyền thống của dân tộc.

            Một dân tộc nhỏ, kinh tế còn chậm phát triển không hẳn có nền văn hóa thấp. Trong lịch sử, đã có nền văn hóa cổ đại Hy Lạp, rực rỡ mà khó thời kỳ nào sánh kịp. Không phải không có lý do mà nhiều nhà khoa học xã hội, văn hóa Âu, Mỹ hành trình tới các miền đất lạ phương Đông để nghiên cứu văn hóa

            Điều thu hút họ vào Việt Nam ta có nhiều lẽ, trong đó hẳn có nếp nhà sàn, mái nhà Rông, tháp Chàm cổ kính với những điệu xòe, múa Chăm, Rông chiêng đầy ấn tượng. Sâu xa hơn là sự tồn tại và phát triển của một dân tộc từng chiến thắng những thế lực xâm lăng hùng mạnh nhất, là bản sắc văn hóa độc đáo được gìn giữ không bị kẻ thù đồng hóa.

                                                           

 

 

            Tháng 8 vừa qua, tôi lại có dịp vào Tây Nguyên. Thực khó gặp những cánh rừng từng che cho những sư đoàn, binh đoàn trùng điệp bất thần xông lên đánh tan quân giặc. Những nhà Rông hùng tráng, đồ sộ vươn lên trời cao từng là niềm tự hào của người Ba Na càng khó kiếm. Nhà Rông đã bị phá, còn nhà Dài lại tranh cãi là có nên để hay không và lạ thay, lại có ý kiến muốn để. Người ta phá bỏ cái đích thực là văn hóa, để lại cái tàn dư lạc hậu? Nhà Dài là cái lạc hậu của thời kỳ mẫu hệ khi cộng đồng bộ tộc chỉ có phương thức săn bắn và canh tác nông nghiệp tập thể cùng làm, cùng ăn. Khi xã hội đã phát triển, các thành viên tham gia vào nhiều ngành nghề xã hội có nhu cầu khác nhau trong công việc và sinh hoạt cá thể, tại sao lại gom họ trong môi trường chung chạ bất tiện như vậy?  Họ cần có một không gian tự do phù hợp để sáng tạo và phát triển khả năng cá nhân. Đặc biệt trong cơ chế kinh tế thị trường, hộ gia đình được coi như một tế bào kinh tế độc lập thì việc tách ra thành các hộ gia đình nhỏ từ cái nhà Dài (đại gia đình) là một tất yếu.

            Trong khung cảnh hùng vĩ của núi rừng, trong cuộc đấu tranh tinh thần quyết liệt, nhà sàn, nhà Rông vẫn là sự sáng tạo kỳ diệu. Vậy mà bị quên lãng. Rồi những cồng, chiêng, đàn T’ Rưng nước, những tấm thổ cẩm, những vũ điệu dân gian, lời ru, điệu hát...trên khắp các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cái thì bị đánh cắp, cái thì mục nát, đang có nguy cơ mai một.

 

            Nhớ lại trong lúc chiến tranh phá hoại ác liệt, chúng tôi đang là những sinh viên đại học lặn lội vào vùng trung du, miền núi sưu tầm vốn văn hóa dân tộc. Cùng ăn, cùng làm với đồng bào. Tối đến nghe già làng, trưởng bản, ông giá bà cả kể chuyện cổ tích, hát ca dao, vè, đã cần mẫn ghi chép lại rất cẩn thận. Sao lúc bấy giờ khổ là thế mà con người nhiệt tình và đáng yêu vậy. Giờ thì khác quá. Dường như ít ai quan tâm đến vốn cổ truyền. Chỉ nghe chuyện lo làm giàu. Ít có không khí học thuật, tranh cãi tay đôi, tay ba, từng nhóm như những thập niên trước. Nếu vô ý, đem chuyện văn hóa, văn học nghệ thuật vào câu chuyện bị cho rằng “hâm”, rằng lỗi thời. Phải chăng, cuộc đua chen đang hướng vào “đồng tiền là tiên, là phật, là thượng đế”. Còn văn hóa chỉ là “gia vị của cuộc sống”.?

Hai khi vực văn hóa lớn đầy bản sắc như Tây Bắc, Tây Nguyên còn thế, ở dải đất miền trung, những dân tộc Vân Kiều, Mã Liềng, Chứt, Răglay, Cờ Ho sống dưới chân dãy Trường Sơn hùng vỹ thì bản sắc văn hóa còn mờ nhạt nữa. Trang phục thì vớ gì mặc nấy. Thôi thì quần âu, áo sơ-mi, quân phục, mũ phớt... đủ cả. May chỉ còn phân biệt được ở nước da và qua đặc điểm nhân chủng học. Bởi quần quật lo miếng ăn, không còn thời giờ thêu dệt những bộ quần áo dân tộc công phu. Nếu có thì chỉ độc một bộ, để mặc vào dịp lễ tết, hội hè. Để dành cho khi chết mặc xuống cõi âm cho cái “ma” nó nhận vào bộ tộc mình. Hoặc để phục vụ cho các nhà quay phim, chụp ảnh.

 

Ông Vương Quỳnh Sơn, cháu của “vua Mèo” Vương Chí Sinh sau đợt công tác ở vùng đồng bào Mã Liềng (Quảng Bình) trở về, than thở với tôi ở một khía cạnh khác: “Tìm hơn 200 hộ dân tộc Mã Liềng mới kiếm được vài người biết hát tiếng dân tộc. Hát hay, đệm nhạc cụ thô sơ nghe lạ lắm. Còn biết khóc bài khóc đưa tiễn người chết có dễ chỉ còn đôi, ba người...”.

Báo chí đã nói nhiều nhưng vẫn chưa nêu hết sự thực về những tệ nạn, tồn tại trong xã hội vùng cao, miền núi. Nghiện hút, cờ bạc, ma chay, rượu chè...đang gia tăng nhanh chóng. Tệ nạn Ma lai (Tây Nguyên), Ma ăn người (Mông), bùa ngải... đang phục hồi dẫn đến nhiều cái chết thương tâm do mê tín, thiếu hiểu biết. Giờ thêm mại dâm, số đề, giật hụi, lừa đảo đang làm khuynh đảo vùng cao vốn xưa nay yên tĩnh. Một số kẻ tự xưng là thủ lĩnh tôn giáo này nọ, dựa vào khó khăn về kinh tế, lạc hậu về dân trí, thiếu hụt về văn hóa thông tin ở vùng cao, vùng xa đã len lỏi truyền nhiều đạo lạ phá rốí an ninh trật tự.

 

Trong cuộc gặp gỡ với 25 chủ tịch xã người H’Mông vùng giáp biên giới của tỉnh Lai Châu tại Hà Nội cuối năm 1994, đồng chí Lầu Sái Vử, Chủ tịch xã Sa Dung, Điện Biên kể: “Kẻ truyền đạo luận điệu rất đơn giản. Chúng dụ dỗ: Ai theo đạo, một ngày cây quả chín ba lần, không theo sẽ phải chết. Hoặc năm 2000 trái đất nổ tung, ai theo đạo sẽ được đón lên thiên đàng hưởng sung sướng”. Thế mà ở xã anh, có 31 hộ theo đạo ngay. Nhưng sau đó bà con thấy chẳng đúng như những gì kẻ truyền đao nói nên giác ngộ, 27 hộ đã bỏ đạo.” Ở xã Tà Liền, huyện Phong Thổ, anh Giàng A Thào, chủ tịch xã cho hay: “Vào đầu năm 1993, người ta tuyên truyền “Ai theo đạo thì vào ngày 14 – 7 ( Quốc khánh Hoa Kỳ ) tự bay lên trời được để tránh thảm họa nổ tung trái đất. Có người vào ngày đó, lấy vải làm cánh đứng trên đỉnh đồi bay thử, ngã bị thương. Họ lại sửa là ai theo đạo sẽ bay được, lại chuyển giọng là phải lập bàn thời, làm nhà thờ cầu nguyện mới cất cánh được?” Nhiều người đã theo đạo vài tháng nhưng mãi không thấy “sung sướng” lại quay về làm ăn.

Mặt trận văn hóa tư tưởng ở một số vùng xa, vùng sâu, còn bị bỏ trống. Phương tiện thông tin tuyên truyền chưa tới hoặc chưa thực hiện được vai trò hướng dẫn những cái đúng, cái sai cho đồng bào. Việc xây dựng phòng tuyến an ninh chính trị chưa có sự quản lý chặt chẽ các đối tượng từ bên ngoài vào truyền giáo xằng bậy ở các vùng dân tộc xa xôi, hẻo lánh. Thứ nữa, sự thiếu hiểu biết và đời sống quá khó khăn, cho nên đồng bào dễ bị kẻ xấu lôi kéo.

Cũng từ đây, dễ nhận rõ văn hóa truyền thống, đạo thờ cúng cha ông, phong tục tập quán tốt đẹp không thể mất đi nhanh chóng mà vẫn tự vận động theo con đường riêng, chảy xiết dưới bề ngầm và tự loại bỏ những yếu tố ngoại lai kệch cỡm, không phù hợp. Tuy nhiên, cần có sự chỉ đạo kịp thời, uốn nắn và ngăn chặn ngay những biểu hiện lệch lạc.

 

Nếu xác định văn hóa là động lực phát triển xã hội thì việc có một chính sách phát triển văn hóa đúng đắn, toàn diện là hết sức cấp bách. Bản sắc văn hóa được hình thành và phát triển trong quá trình đấu tranh lâu dài của mỗi dân tộc gắn liền với môi trường tự nhiên và xã hội được chắt lọc và được cộng đồng thừa nhận, tuân thủ. Văn hóa dân tộc thiểu số vùng cao gắn chặt với núi rừng, sông suối, nương rẫy. Từ sự sáng tạo đến những phong tục tập quán sinh hoạt, thói quen không thể tách rời yếu tố núi rừng. Ta càng hiểu vì sao những cồng chiêng có cường độ âm thanh mạnh, âm vang là những nhạc cụ ăn nhập với thiên nhiên hùng vĩ dữ dội của những ngọn thác ầm ầm âm thanh, dòng sông chảy xiết.

Tôi không tin rằng, dân tộc H’Mông ở phía bắc, dân tộc Ba Na, Ê Đê ở Tây Nguyên người ta áp cho có tập quán thích du canh du cư. Những nhà Rông đồ sộ có cột to cỡ hơn người ôm kia là thứ văn hóa vật thể đã tồn tại hàng nghìn năm. Thứ nhà ấy làm sao phù hợp với phong tục du cư, làm sao dễ dàng chuyển dời nay đây mai đó? Còn người H’Mông miền núi phía Bắc đã thuần hóa bò ngựa từ rất sớm để canh tác và thồ hàng phục vụ cho việc buôn bán. Họ còn biết vỗ béo vật nuôi mỗi năm hai lứa để trao đổi, mua bán, có trình độ thâm canh giỏi trên các vạt nương cao hàng nghìn mét, không mấy thuận tiện về khí hậu, đất đai.

Lẽ ra cần tạo điều kiện về mọi mặt cho đồng bào dân tộc thiểu số ổn định đời sống ngay trên quê hương lâu đời của họ và tự quản về văn hóa có sự gợi mở, hướng dẫn thì nhiều khi lại đưa ra mô hình không phù hợp. Đó là điều tối kỵ trong việc hoạch định văn hóa và kinh tế.

 

Còn nhiều điều trăn trở. Đến Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn bây giờ, gặp những cô gái khó biết họ thuộc dân tộc nào. Ở vùng quê thì quần âu, áo sơ-mi. Ở thị xã thì váy đầm, hoa xanh đỏ. Trong kinh tế thị trường hối hả, sôi động và đất nước đang bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ở những nơi do đặc điểm công việc, không thể duy trì lối ăn mặc phức tạp, rườm rà. Nhưng cũng đừng buộc mọi người đồng loạt đơn điệu chỉ một kiểu, một mầu. Sự pha trộn giữa hiện đại và truyền thống vẫn không làm mất đi bản sắc văn hóa?

 Tôi vẫn cứ yêu một thời trai trẻ, có cô gái Tày e thẹn duyên dáng trong bộ áo chàm, vẫn mê những câu thơ như tạo, như dựng lại cảnh vật, con người vùng cao. Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đang có những nét nhòe và vết gợn. Đáng suy nghĩ là cùng với tiếp nhận cái mới, cần phải chọn lọc, giữ lại bản sắc riêng và phong phú của văn hóa các dân tộc thiểu số trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam để sự sự đa sắc, đa mầu trở thành tài sản quý giá chung của đất nước, lan tỏa và hòa nhập nhưng không hòa tan vào dòng chảy văn hóa của các dân tộc trên thế giới.

12-1995

 

 

 

 

                       MA TÚY - BOM NGUYÊN TỬ THỜI NAY

                                        NỖI LO NHÂN LOẠI

 

            Theo tài liệu của tổ chức y tế thế giới (WHO), hiện nay toàn cầu có trên 50 triệu người nghiện ma túy. Riêng ở Mỹ là 6 triệu người. Mỗi năm họ tiêu thụ trên 3.300 tấn thuốc phiện, ma túy. Không ai có thể đoán chắc được sang thế kỷ XXI sẽ là bao nhiêu. Bởi ở những thung lũng xanh nổi tiếng Pê-ru, Cô-lôm-bi-a hiện còn tàng trữ 70% lượng bạch phiến của thế giới. Vùng “Tam giác vàng” mỗi năm “đóng góp” cỡ 5.500 tấn thuốc phiện. Hàng vạn héc-ta cây anh túc được trồng ở khu vực Mỹ la-tinh. Hàng ngàn mẫu cây á phiện đang mọc tươi tốt ở các nước Cộng hòa Trung Á thuộc Liên Xô cũ. Ở Ap-ga-ni-xtan cây á phiện và súng đạn cùng “thi nhau” phát triển...

            Lịch sử đã từng chứng minh thuốc phiện, ma túy đã dọn đường cho đế quốc Anh thôn tính Ấn độ, xâm lược lục địa Trung Hoa rộng lớn. Trong thế giới ngày nay ma túy và mafia quyện chặt vào nhau như một thực thể không tách rời.

 

Mấy năm gần đây các lực lượng có lương tri chống mafia đã “sờ gáy” nhiều chính khách, trong đó có cả tổng thống, thủ tướng tầng lớp chính trị chóp bu. Họ cũng không thoát khỏi sức quyến rũ của những tỷ đô-la được mafia “tẩy trắng”, “thơm tho, sạch sẽ” trong các ngân hàng quốc tế. Khó có thể biết trong mấy chục năm qua có bao nhiêu tỷ đô-la được mafia “tẩy trắng” còn nằm an toàn trong các nhà băng “cự phách” của thế giới hoặc đầu tư vào các dự án, công trình tầm cỡ thế giới.

Nhiều nước đã nhận thấy chống ma túy mới chỉ là “bứt lá” mà không “nhổ rễ”. Sẽ còn bạo lực, còn nghiện hút, chích choác, còn loạn lạc nếu không nhổ bật được cái gốc nuôi dưỡng ma túy và các tổ chức mafia quốc tế.

Một khi mafia đã trở thành một tổ chức “siêu chính phủ”, vô hình, hữu lực - thật khó thay!

ĐẤT VIỆT HÔM NAY

 

Theo đánh giá tại “Hội thảo về ma túy” tháng 11-1990 tại Hà Nội, có khoảng 50.000 người Việt nghiện ma túy. Những con số báo cáo gần đây chưa có sự thống nhất, nhưng cao nhất là 200.000 người. Điều chắc chắn là những con số này chỉ là con số “có được” chứ chưa phải là con số thực tế.

Hai trăm ngàn nạn nhân ma túy so với trên 50 triệu trên toàn cầu mới ở mức “khiêm tốn”, nhưng đủ làm ta sửng sốt nếu biết được số người tử nạn do hai quả bom nguyên tử Mỹ giáng xuống nước Nhật còn kém xa nạn nhân « tử nạn » ma túy ?

Nhưng đó vẫn chưa phải là điều khủng khiếp nhất. Điều kinh ngạc, lo lắng nhất là tốc độ tăng trưởng đến chóng mặt của nạn ma túy. Nếu so với vài năm trước số lượng người nghiện đã tăng 400% (50.000 người tháng 12 - 1990 so với 200.000  tháng 4 - 1994).

Đứng trên góc độ kinh tế, mỗi người nghiện mỗi ngày hút mươi “bi” thuốc phiện, mươi ống moóc-phin đã tốn 40 - 50 ngàn đồng. Người nặng là 100.000 đồng.

                                                

 

 

Mỗi năm số nghiện hút “tiêu” vào ma túy mà nhiều người nhẩm tính cỡ 200 tỷ đồng e còn quá ư khiêm tốn. Thật là một nghịch lý. Trong khi Nhà nước các tổ chức xã hội, cá nhân hảo tâm đang hô hào, gom nhặt từng đồng để cứu tế cho gia đình thương binh liệt sĩ, trẻ em khuyết tật, mồ côi lang thang, người tàn tật cô đơn ?

Những số liệu thống kế cho thấy 60 - 70% số người nghiện là từ 1985 trở lại đây đa số họ không có nghề nghiệp hoặc có nghề nghiệp thất thường. Từ 70 -90% ở tuổi 16 đến 45 (đa số ở tuổi 16-35). Một số nơi rẻo cao 12 - 14 tuổi đã nghiện. Điều báo động là trong số này 47% - 80% có mức sống đủ và khá. Có sự  “góp mặt” của cả công, nông, kỹ sư, viên chức Nhà nước ; trên dưới 60% có tiền án, tiền sự. Nạn nghiện hút đang lây lan sang lứa tuổi vị thành niên và thâm nhập học đường.

 

Thật khủng khiếp. Một quả bom “siêu nguyên tử, siêu khinh khí” đang phá hủy xã hội, con người từ bên trong, đúng vào giai đoạn mà nước ta đang xây dựng một xã hội hiện đại, công bằng, văn minh? Quả bom tệ hại này không “phàm ăn”, không giết tuốt già trẻ, giá trai, người tàn tật, ốm yêu, mà “chọn” những người trẻ khỏe thậm chí những người có tri thức; đánh vào thế hệ tương lai, là ngọn nguồn tội ác; là chiếc cầu dắt tới AIDS.

Tiếc thay chưa có được “sự nổi giận” một phong trào rộng lớn - có những hành động thiết thực, quyết liệt để ngăn chặn nạn ma túy cứu tuổi trẻ, cứu chính con em mình.

 

CHỐNG AI, AI CHỐNG?

 

Đã có Chương trình quốc gia phòng chống, kiểm soát ma túy - viết tắt là CTQG - 06 - CT gồm 18 bộ, ngành tham gia nhằm giải quyết các vấn đề: phá bỏ cây anh túc, thay thế cây trồng, ngăn chặn, kiểm soát buôn bán ma túy; triệt phá các ổ chứa, chủ chứa tiêm, hút; Đưa người nghiện vào cai ở các trung tâm...

Kết quả là xóa gần hết diện tích cây anh túc ở 15 tỉnh miền núi phía Bắc. Các lực lượng cảnh sát sau hơn một năm đã bắt giữ, xử lý trên 2.000 kg thuốc phiện; trên chục ki-lô-gam hê-rô-in, trên 5.000 ống moóc-phin, đô-la-găng, 50 tấn cần sa; xóa sổ một số ổ chứa, bắt nhiều chủ chứa, đưa hàng nghìn người nghiện vào trung tâm chữa trị...

Đó là những khởi điểm đáng mừng. Nhưng hiệu quả?

Tại Hà nội hiện có trên 3.000 người nghiện. Mỗi năm Trung tâm cai nghiện Cầu Biêu tiếp nhận 500 lượt người. Số hút lại là 97%. Tỷ lệ hút lại ở Trường giáo dục thanh niên Bình Triệu thành phố Hồ Chí Minh là trên 80%. Hai Trung tâm có điền kiện về thuốc men, thiết bị hàng đầu cũng chưa giải quyết được vấn đề tái nghiện. Còn ở các địa phương Đồng Quang Thái Nguyên trong buổi tọa đàm với Bộ trưởng Trần Đình Hoan và Đài truyền hình trung ương: 100 người sau cai nghiện chỉ bỏ được 1-2 người.

Như vậy có nghĩa là số 200.000 người nghiện hầu như giữ nguyên. Tính một cách khiêm tốn mỗi năm họ tiêu thụ khoảng 20 tấn thuốc phiện trở lên.

 

Nếu trước đây chúng ta đánh giá số thuốc phiện này tương ứng với sản lượng thuốc phiện thu hoạch ở vùng cao, và do vùng cao cung cấp. Nhưng từ vụ đông xuân 1993 - 1994 đã phá bỏ hầu hết diện tích Anh túc. Vậy nguồn ma túy khổng lồ này từ đâu đi vào? Giờ đây đồng bào các dân tộc thiểu số không phải là người cung cấp thuốc phiện. Vậy thì ai? Cần phải làm rõ đối tượng và trận địa chống ma túy. Điều chắc chắn là Việt Nam thời mở cửa đang có những điều kiện thuận lợi cho các đường dây buôn lậu ma túy quốc tế và mafia xâm nhập. Đó là một nguy cơ, hiểm họa trầm trọng cần gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh.

Để có thể phát hiện, đối phó, chống bắt giữ các độc tố “siêu ma túy”, băng nhóm ma-phi-a cần phải xây dựng một lực lượng tinh nhuệ với trang thiết bị hiện đại. Cần cảnh giác không loại trừ khả năng ma túy, mafia ngay trong các cơ quan có thẩm quyền dựa vào ma túy để kiếm lợi, làm giàu bất chính; đầu độc bầu không khí lành mạnh của xã hội.

 

MỘT VÀI SUY NGHĨ

 

Theo dõi quá trình tổ chức cai nghiện trong thời gian qua mọi người đều có thể thấy kém hiện quả. Có điều gì trục trặc? Có thể tóm gọn vào hai điểm:

- Chưa tìm ra phương thuốc đặc trị hay nói đúng hơn là chưa đủ tiền để chữa trị thành công.

- Chưa tạo được công ăn việc làm, đảm bảo đời sống cho người sau cai nghiện.

Đất nước đang bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chúng ta đang cần nhiều tỷ đô-la vốn dành cho nhiều kế hoạch, dự án trọng điểm. Chắc chắn thời gian tới chưa thể đầu tư nhiều cho việc chống ma túy. Vì vậy việc chọn lựa một phương án ít tốn tiền mà tăng hiệu quả là một sự thách đố.

Ngoài việc tiếp tục tìm kiếm loại thuốc dân gian, kết hợp với kỹ thuật y tế hiện đại, cần có sự gia tăng nguồn vốn. Nên chăng Nhà nước tổ chức một cơ quan chuyên trách khép kín: từ việc thu gom người nghiện, cai, trị bệnh, lo sắp xếp việc làm. Tổ chức này có quan hệ chặt chẽ các doanh nghiệp Nhà nước, tư nhân đưa người sau cai vào làm việc. Theo dõi, giám sát, sơ tổng kết, nghiệm thu “sản phẩm” của mình. Có như vậy mới khả dĩ giảm và dẫn đến thanh toán nạn nghiện hút.

Ma túy là độc tố ngấm dần từ tế bào tới lúc hủy diệt sinh lực, trí tuệ con bệnh. Chỉ có người trong cuộc mới hiểu rõ khi dứt bỏ nó cơ thể phải vật vã đau đớn ra sao. Khi bắt con nghiện dừng đột ngột sẽ dễ gây tội ác. Vì vậy phải từ từ, nhỏ nhẹ, gỡ dẫn, giảm bớt. Nhẹ nhàng dạy dỗ thuyết phục, động viên. Kể cả việc

 phải dùng biện pháp “tình cảm” để lôi kéo vợ, chồng khỏi “đi ngoại tình với nàng tiên nâu”.

                                                

 

Trong điều kiện tài chính hạn hẹp, diện cần cai nghiện lại rất rộng, rất lớn về số lượng. Cần nghiên cứu một mô hình gọn nhỏ thích hợp với từng vùng dân cư, trên cơ sở tình thương “lá lành đùm lá rách”, tranh thủ mọi đối tượng, mọi nguồn tài chính, giúp đỡ người nghiện mọi khả năng, đặt họ trong mối quan hệ bình đẳng với cộng đồng...

Song, dù có đầy đủ mọi điều kiện thì khách thể cũng không thay thế được chủ thể. Người nghiện hút trước hết phải chịu trách nhiệm với bản thân, với gia đình rồi mới ra xã hội. Phương thuốc hiệu quả nhất là tự cứu lấy mình. Đó cũng là con đường duy nhất dẫn bạn đến tương lai, hạnh phúc của đời mình.

 Những thông tin quốc tế đang làm cho chúng ta càng thêm lo ngại. Tại một trung tâm điều chế ma túy ở vùng Trung Á, các băng đảng Mafia đã làm ra thứ “siêu ma túy”. Từ 100 kg nhựa thuốc phiện mới làm ra 1 lit ma túy cực mạnh. Chất tinh lọc này được tẩm vào đầu kim máy khâu, chỉ cần châm nhẹ mũi kim vào da là đã đủ “phê”. Ma túy giờ đây không chỉ thuốc phiện, heroin, mà còn nhiều biến thái dưới đủ dạng hút, chích, hít…ăn, uống đều có hoạt chất ma túy. Ma túy đi ngay dưới mũi những cơ quan an ninh, các nhà chức trách mà không biết, không quản lý được.

 

Không biết ma túy còn diễn biến tới đâu? Cục diện đấu tranh toàn cầu đang tiến vào giai đoạn mới với đầy khó khăn và thách thức. Việt Nam chúng ta cũng đang trong mặt trận nan giải đó vì một cuộc sống trong sạch không ma túy. Đấu tranh cho mục đích nhân đạo cao cả. Cứu con người ra khỏi tội lỗi, cái xấu, đưa họ trở về giá trị nhân bản vốn có - với đầy đủ vẻ đẹp kiêu hãnh, tự hào, xứng đáng là “CON NGƯỜI” viết hoa như đại văn hào M.Go-rki từng ca ngợi.

 

         9-1994

 

 

 

                                                 HỒ SÔNG ĐÀ

 HÀNH TRÌNH QUÁ KHỨ TỚI TƯƠNG LAI

 

            Tổ máy sổ 8 “nhà máy thủy điện thế kỷ” Hòa Bình đã đi vào hoạt động. Đường dây xuyên Việt 500KV đang từng bước chuyển điện phục vụ phát triển kinh tế, xã hội cho miền Trung và miền Nam. Phần việc cuối cùng trong quyết toán toàn bộ công trình sông Đà đã lên trang. Tới đây một ngày lễ lớn có tầm quốc gia sẽ được tổ chức, kết thúc 18 năm gian truân bươn chải để có một “Hòa Bình sừng sững” trong lịch sử năng lượng nước nhà. Nhiều phần thưởng cho tập thể, cá nhân trong và ngoài nước sẽ được trao tặng long trọng. Phía sau của cờ hoa lộng lẫy, phải chăng còn thấm đượm buồn vui và bao nỗi niềm trăn trở...

                                                          

 

 

                           ĐIỆP TRÙNG NHỮNG CON SỐ...

 

            Chưa bao giờ lịch sử đất nước có một cuộc “di dân ồ ạt”  được tổ chức thực hiện có tầm quy mô to lớn, phức tạp đến thế. Để giải phóng lòng hồ sông Đã làm chiếc túi đựng nước khổng lồ, cung cấp nguồn nước chạy 8 tổ máy phải di chuyển tới gần 10.000 hộ dân cư. Cả một vùng cư dân trù phú, tài sản văn hóa vật chất và tinh thần, những bất động sản vô giá qua bao đời tạo dựng v.v... đâu có dễ nhìn thấy - khi trước mặt ta là một “biển hồ” xanh trong ngọt ngào nước mát!

            Tỉnh Sơn La mất đi 1.300 ha canh tác chiếm 47,4% diện tích lúa trong vùng. Tính ra một năm mất 9.000 tấn lương thực qui thóc. Hòa Bình mất 700 ha lúa hai vụ, 1.050 ha lúa một vụ, mầu một vụ... hàng năm tổn thất một lượng lương thực đáng kể. Nếu ai đã từng “quá bộ” đến những vùng quê miền núi càng thấu hiểu cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số. Họ có gì nhiều để tính ngoài hạt lúa, củ khoai?

            Ngoài ra hai tỉnh còn mất đi gần 800 ha cây công nghiệp, cây ăn quả, trên 200 ha ao hồ thả cá, trên 540.000 m2  nhà ở, xí nghiệp, trạm xá, bệnh viện, trường học v.v... Trong lòng khối nước ngọt ngào kia là những công trình phai đập, thủy lợi, 20 loại và nhiều công trình xã hội kinh tế hạ tầng khác...

            Những thiệt hại là to lớn nhưng rất đỗi tự hào.

            Bởi lẽ, đồng bào các dân tộc thiểu số vùng hồ xưa nay vẫn trung kiên một lòng theo Đảng, dám chấp nhận hy sinh quyền lợi tiêng tư vì sự lớn lên của đất nước.

                      ĐỀN BÙ - HIỆU QUẢ VÀ TỒN TẠI

 

            Đền bù những giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần cho cư dân vùng hồ không thể tính đơn thuần bằng những con số mang ý nghĩa kinh tế. Song con số 70,227 tỷ đồng mà ngân quỹ quốc gia xuất ra cho dân cũng không phải là nhỏ. Đặc biệt trong thời điểm giữa thập niên 80 đến đầu thập niên 90 đất nước đang phải trải qua cơn vật vã chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường.

            Công bằng mà nói, sự cố gắng của Bộ Năng lượng, cùng các ngành và hai tỉnh Hòa Bình, Sơn La di chuyển an toàn cho gân 10.000 hộ dân cư là một thành tích lớn. Mặc dầu còn lúng túng, bị động trong điều hành và những bước đi cụ thể, song bước đầu hai tỉnh cũng đã sắp xếp cho dân chỗ ở mới, và xây dựng được một số công trình hạ tầng cơ sở cho vùng dân cư vừa di dịch đến.

            Ở Hòa Bình 52.930 m2  trường học, trạm xá, xí nghiệp, trụ sở cơ quan đã được xây dựng. Ở Sơn La là 47 trường lớp, 67 công trình nước uống, 13 trạm xá xã. Cả hai địa phương đã làm được 261,7 km đường ô-tô, 768 km đường dân sinh, xây dựng 118 công trình thủy lợi lớn nhỏ, phai đập, cầu treo...

            Vùng cư dân mới đến một số nơi đã lập nghiệp và từng bước ổn định cuộc sống. Một số ít đã có thu thập khá và có tích lũy.

                                                            

 

 

            Tuy vậy, cho tới tháng 5 - 1994 vấn đề kinh tế - xã hội vùng hồ sông Đà vẫn đang đặt ra gay gắt: 5.518 hộ dân (trên 50% số hộ) vén tạm lên quanh hồ đang gặp rất nhiều khó khăn. Đại đa số họ không có ruộng đất để canh tác nên tạo đất nông nghiệp bằng cách đốt phá rừng và khai thác cạn kiệt môi sinh trong khu vực. Bình quân đầu người không quá 12kg lương thực/1tháng. Tính thành tiền từ mức 11.000 đồng - 20.000 đồng/1người/1tháng. Trên 50% số hộ nghèo đói, 10% đói gay gắt. Hầu hết các hộ thiếu vốn sản xuất. Các mặt văn hóa, y tế giáo dục... cực kỳ thấp kém thụt lùi so với quê hương cũ - mà giờ đây là lãnh địa của thủy thần.

                                      BÀI HỌC THỰC TIỄN

 

            Cho đến nay, phần đền bù cho dân đã chấm dứt. Nếu chia bình quân, mỗi hộ dân được đền bù 14 triệu đồng. Nhưng xin thưa ngay là trong suốt 17 năm qua mỗi hộ dân cư ở tỉnh Sơn La được trực tiếp cầm tiền là 2,6 triệu đến 2,8 triệu đồng. Ở Hòa Bình là 0,8 triệu/một hộ. Hầu hết số tiền còn lại đều đầu tư vào xây dựng cơ bản như đường sá, trường, trạm, trụ sở cơ quan v.v... và v.v... với đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp lệ. Trong khi lẽ ra cần phải có sự đền bù đợt đầu tiên “đủ mạnh” (khoảng 3 triệu đồng) để một gia đình có thể tới nơi ở mới một cách khiêm tốn. Những năm tiếp theo cần đầu tư thêm 4 triệu - tức tổng cộng 7 triệu = 50% số tiền đền bù - mới hòng mong các hộ gia đình có được sự ổn định tương đối.

            Theo kinh nghiệm của ngân hàng thế giới đầu tư cho một số nước chậm phát triển, để ổn định cuộc sống cho một hộ dân cư có 5 - 7 khẩu cần 2.000 USD (tương đương 20 triệu đồng Việt Nam). Tất nhiên nguồn vốn này phải được kiểm soát chặt chẽ và điều tiết hợp lý theo từng giai đoạn trong 10 năm liên tục và được tính toán kỹ lưỡng.

            Xung quanh việc đền bù còn nhiều vấn đề đặt ra là nguyên nhân gây nên sự thiếu ổn định và thực trạng hiện nay, mà nguyên nhân bao trùm là thiếu sự phối kết hợp đồng bộ, chặt chẽ và kiểm soát đồng tiền qua 4 đợt đền bù. Ban chỉ đạo sông Đà của hai tỉnh lúng túng trong chỉ đạo và điều hành. Công việc lập, trình khai toán không sát tình hình thực tế và sự kiến khối lượng công trình hạ tầng nơi dân đến thiếu đồng bộ; chắp và bị động. Cán bộ điều hành non kém về trình độ, năng lực. Chưa gắn liền một cách chặt chẽ và tức thời việc đền bù và tổ chức sản xuất cho dân. Một số địa phương có lúc đã buông lỏng quản lý, mắc sai phạm trong việc chi trả tiền đền bù, trong thi công, nghiệm thu, thanh toán v.v...

            Về phía Nhà nước nhìn chung là định mức đền bù quá thấp lại kéo dài qua 4 đợt, tản mạn, nhỏ giọt, manh mún trong lúc lạm phát, đồng tiền mất giá. Đã thế tiền lại chậm đến dân đã gây ra nhiều khó khăn trong tái thiết cuộc sống ban đầu của nhân dân. Về phía dân, nhiều hộ không tin nước hồ sẽ dâng cao nên không di chuyển theo kế hoạch. Vì vậy các hộ này cứ vén dần lên cao theo mực nước dâng di chuyển nhà tới 5-7 lần. Họ đã gây ra trạng thái lộn xộn bị động trong điều hành và tự chuốc lấy khó khăn cho chính gia đình mình...

                                                               

 

                         KẾT QUẢ CÒN Ở PHÍA TRƯỚC...

 

            Đền và bù đã qua một thời không ít thiếu sót về nhiều phía. Nhưng hiện thực đó còn ngổn ngang bề bộn công việc cần được giải quyết nhằm vào mục tiêu duy nhất là “ích nước, yêu dân”. “Hậu sông Đà” vẫn đang bức xúc nóng bỏng.

            Theo tính toán của ngành lâm nghiệp: hiện nay diện tích 80 vạn ha rừng phòng hộ xung yếu lưu vực sông Đà - cách mép nước 2 km - đang bị tàn phá nghiêm trọng. Nếu không có biện pháp kịp thời lập lại sự cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường thì đất đá sẽ lấp dần hồ sông Đà. Có thể tính được những thiệt hại to lớn về kinh tế  nếu vài năm nữa hồ sông Đà chỉ còn đủ nước cung cấp cho 4 tổ máy phát điện trong số 8 tổ máy?

            Vì vậy cần phải có giải pháp tình thế trước mắt và lập dự toán giải pháp lâu dài cho cuộc sống của cư dân vùng hồ. Trước mắt cần dùng ngay vốn dự  phòng của hai tỉnh Hòa Bình, Sơn La cứu đói cho dân. Đồng thời, điều chỉnh bổ sung vốn Chương trình 327 phủ xanh đất trống đồi trọc để chặn đứng việc phá rừng cứu lấy nguồn nước vô giá của hồ sông Đà. Trong lúc nguồn vốn của Nhà nước còn hạn hẹp cần lồng ghép các chương trình, dự án nhằm ổn định và phát triển sản xuất theo hướng nông, lâm, ngư nghiệp.

                Cái được gọi là “giải pháp lâu dài” dân không nhìn thấy. Đến khi nhìn thấy thì “ Hỡi ôi! Hoàn toàn thất vọng”. Đã từng có cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên khai hoang phát triển kinh tế miền núi những năm 1959, đầu những năm 60. Kết quả là sau mấy năm dòng người hừng hực đi “khai phá miền tây” lũ lượt kéo về tơi tả và nghèo đói. Nhà mất, đất canh tác mất, con cái thất học…tóm lại là trắng tay. Ở nông thôn thì nhà tạm, ăn vay, làm bất cứ việc gì miễn là không chết. Ở thành phố thì lê la đầu đường xó chợ chạy ăn từng bữa. Nhiều người đã thành bệnh nhân tâm thần, dở điên dở dại. Những lời hứa năm nào cán bộ, chính quyền không ai dám nhắc tới. Liệu đồng bào phải di rời cho lòng hồ thủy điện Sông Đà để phát triển đất nước coa đi theo “vết xe đổ”? Số phận họ thật mong manh.

 

            Sau cuộc họp bàn biện pháp giữa Ủy ban Dân tộc và Miền núi với các bộ ngành hữu quan, hai tỉnh Hòa Bình, Sơn La đã nhất trí đồng kiến nghị lên Thủ tướng Chính phủ cần có chính sách đặc biệt cho vùng hồ những năm tới.

            Thủ tướng đã xem xét sự cấp bách của vấn đề. Đã chỉ thị cho ngành năng lượng sau khi tổ máy 8 đi vào hoạt động bắt tay vào việc điện khí hóa cho cư dân vùng hồ, sau đó là hai tỉnh Sơn La, Hòa Bình trong vòng hai năm 1995 - 1996. Đồng thời cho phép trích thuế tài nguyên (mỗi năm thu thuế tài nguyên - thuế nước hồ sông Đà là 60 tỷ đồng) đầu tư trở lại cho vùng hồ - là nơi dân chịu thiệt thòi nhất.

            Trong số vốn 279 tỷ đồng của Sơn La năm 1994 (Trung ương cấp 121 tỷ và 417 tỷ của Hòa Bình (Trung ương cấp 267 tỷ) cần kiểm soát chặt chẽ, tính toán rành mạch số vốn của Trung ương đầu tư vào thẳng vùng hồ là bao nhiêu? Cần lập các dự án cụ thể vào mục tiêu cụ thể để khẩn trương giải quyết vấn đề “hậu Hòa Bình” đạt kết quả nhanh nhất.

            Đền bù xong nhưng cư dân hồ sông Đà không bị bỏ rơi trong sự thiếu thốn, nghèo đói - đó là điều quan trọng nhất đáp ứng nguyện vọng của trên 5.000 hộ gia đình đang trong cơn khốn khó.

            Xem chừng tín hiệu vui đã được bật lên. Nhưng hãy chờ đấy! Trước mắt thôi thì “cứ phải tin thôi” chứ biết sao được?

 

                                                      

 

 

 

                                 ANH HÙNG CHÂN ĐẤT

                                                         

                 Chúng tôi về vùng đất Ninh Thuận, quê hương của 3 anh hùng Pi Năng Tắc, Chamalé Châu và Pi Năng Thạnh -  đều là người dân tộc Raglay. Con đường vào chiến khu Bác Ái thật gian truân. Xe hãng Nisan Nhật 6 máy bánh xe to như xích se Tank mà vô cùng chạt vật khi băng qua những bãi lầy, những bụi cây , những khe nước. Có lúc tài xế phải dừng xe quấn xích vào bánh sau, vào số từ từ mới lên khỏi sình lầy. Xe lấm bùn đất như móc từ dưới cống lên xịch đỗ trước ngôi nhà ngói ba gian còn khá mới. Một người đàn ông nhỏ thó và đen bóng đẩy cánh cổng được gài bởi những tay tre sơ sài bước ra đón chúng tôi.

Anh Hùng - Phó ban dân tộc tỉnh đon đả: “Giới thiệu với các anh đây là anh Chamalé Châu - Bí thư Đảng ủy xã”.

 Sinh năm 1933, mấy năm trước ngày đình chiến 1954, Chamale Châu tham gia làm liên lạc cho bộ đội, nhà anh là một cơ sở cách mạng được bà con tin cậy. Trong phong trào Đồng Khởi anh cùng bà con dân tộc Raglay phá tan ấp chiến lược của Mỹ Diệm về lập làng kháng chiến trên núi. Từ 1961 - 1966 anh là Xã đội trưởng du kích xã Phước Trung, rồi Phó Bí thư, Bí thư Chi bộ Đảng xã.

Gần 6.000 ngày đêm từ ngày Đồng Khởi tới ngày toàn thắng, dải đất hẹp này dưới sự lãnh đạo của anh đã gánh chịu bao gian lao, sự hy sinh khó bề kể xiết.

 

 Nắng đã gần tròn bóng. Chị PôPô Thị Phanh -  vợ anh Châu mang lên mấy bắp ngô nướng. Câu chuyện lái sang cây ngô giống mới Bioseed. Năm nay là vụ thứ 2 cây ngô năng suất cao có mặt trên vùng đất Phước Trung. Năm trước Chamalé Châu đã lặn lội tìm kiếm về trồng thử. Năng suất gấp hai lần giống cũ địa phương. Năm nay, anh đã chia giống cho anh Thạnh, ông Tao, ông Kăng và

một số bà con. Đích thị đây là một cây trồng mới để xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc vùng sâu vùng xa.

                                                         

 

 Câu chuyện đang sôi nổi như ngô rang  thì anh Pi Năng Thạnh tới. Anh chỉ nhỉnh hơn đứa trẻ 12 tuổi một chút, còn nhỏ hơn cả anh Châu. Chiếc quần âu đen, áo sơ mi trắng còn hằn rõ nếp gấp. Trên mái tóc đã bạc nửa phần là đường ngôi kẻ thẳng còn bóng nước. Anh vừa đi nương về. Nếu không có cái miệng móm mém, trông anh có vẻ trẻ hơn cái tuổi ngoài 60 bởi bước đi nhanh nhẹn và nói năng linh hoạt. Anh mau mắn giãi bày: “Không biết các anh lên. Hồi này bận quá, đang mùa vụ”.

 

Phải rồi, người anh hùng nhỏ bé ạ! Với 2 ha ngô, 1 ha lúa nước, đàn trâu, bò, dê trên 20 con, gà và đàn con có 10 đứa sao lại không vất vả được? Người anh hùng từng nằm hang ở lỗ thời chiến tranh nay lại nằm lều trên nương bám ngô, bám lúa. Vẫn long đong một nắng hai sương đánh vật với đất đai. Đôi vai nhỏ hẹp đã trĩu xuống mà chưa hề có ngày thanh thản thư nhàn. Cái cực nhọc của con người ở đây càng thêm bội phần bởi thiên nhiên khắc nghiệt. Ninh Thuận là tỉnh khô hạn nhất cả nước. Đất Phước Trung 9 tháng khô cạn nắng như đổ lửa, nhưng đất nghèo đã nuôi ba người con Raglay lớn lên. Phước Trung là vành đai thép bảo vệ căn cứ Bắc Ái  - nơi anh hùng Hoàng Đình Dong được Trung ương điều về lãnh đạo khu 6 thời kháng chiến chống Pháp đã chiến đấu và hy sinh anh dũng.

 

Cuộc đời của Pi Năng Thạnh là một tấm gương  phản chiếu phần nào sự khốc liệt mà oai hùng của Khu 6 anh hùng trong 2 cuộc kháng chiến của dân tộc. Những trích ngang lý lịch của anh hẳn chưa nói được gì nhiều:

Sinh năm 1935. Năm 1952 tham gia làm liên lạc cho Trạm 30 đường Trường Sơn, huyện Bắc Ái Đông. Năm 1954 trong diện đi tập kết ra Bắc nhưng anh xin ở lại cùng bà con chiến đấu chông Mỹ. Năm 1957, Mỹ - Diệm lập ấp chiến lược. Nhiều cán bộ bị bắt, nhiều cơ sở tan vỡ, một số kẻ chiêu hồi phản bội cách mạng. Pi Năng Thạnh chạy thoát lên núi và mất liên lạc. Hơn nửa năm một mình lang thang tìm bắt liên lạc với cán bộ căn cứ Bắc Ái; Ngày trốn trong hang đêm lần mò ra rừng kiếm củ, quả. Đói, rét, ốm, bệnh, tưởng chết. Cuối năm 1957, bắt được liên lạc với đồng chí Lu Ma (tức Năm Hiệp, cán bộ người Kinh). Được phân công “giả chiêu hồi” đánh lừa được địch. Được “bổ nhiệm” chức liên gia phó ấp chiến lược. Bằng nhiều biện pháp khôn ngoan anh ngầm xây dựng lực lượng trong lòng địch. Nhờ các nguồn tin mật được đưa ra ngoài, và tung hỏa mù đánh lừa dụ bọn ác ôn lên núi để lực lương vũ trang của ta tiêu diệt. Anh được địch cử đi học quân sự để làm toán trưởng quân đội Cộng hòa. Đang đi học thì biết tin mình bị lộ. Lấy lý do con ốm trở về quê hương xây dựng lực lượng, tổ chức chỉ đạo bà con dân tộc phá ấp chiến lược và lập làng chiến đấu. Năm 1964, anh được lực lượng địa phương cử đi học trường Quân chính quân khu VI cách Buôn Ma Thuột 30 km.

Đang học dở dang thì nổ ra chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài 1965. Anh được cấp trên giao với cương vị tiểu đoàn trưởng quân địa phương huyện Bắc Ái Đông phối hợp với quân chủ lực. Đại đội do anh phụ trách đã sáng tạo, thông minh luồn sâu, đánh hiểm lập nhiều thành tích. Trong Đại hội báo công anh được biểu dương thành tích Chỉ huy chiến dịch tặng khẩu súng trường CKC. Trở về cơ sở với cương vị Huyện đội trưởng Bắc Ái. Năm1971 ra Bắc học văn hóa và quân sự. Sau khóa học trở về quê hương...

Tham gia đánh 125 trận lớn nhỏ. Được tặng 3 Huân chương chiến công Giải phóng, ba Huân chương Chiến sĩ vẻ vang, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, các huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt máy bay nhiều lần. Anh hùng lực lượng vũ trang năm 1969.

Phước Trung - dải lũng hẹp bề ngang chừng 3 km chưa đầy một tầm chim bay. Mùa khô 1967, giặc đổ bộ 4.000 quân với xe tăng, máy bay, pháo lớn quyết diệt khu căn cứ Bắc Ái. Bấy giờ xã mới có 500 dân và 200 cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang địa phương. Cuộc chiến đấu 3 ngày đêm khói lửa đầy trời đã đánh lui cuộc hành quân quy mô lớn của giặc Mỹ, ngụy. Trong cuộc chiến này Pi Năng Thạnh, Chamalé Châu đã dùng súng bộ binh bắn cháy máy bay giặc làm nức lòng các mặt trận, dấy lên phong trào diệt máy bay Mỹ bằng súng trường bộ bimh.

Mảnh đất bom chà đi xát lại không một nhành cây thước đất nào không có mảnh bom. Trong máu và lửa đã hun đúc nên 3 anh hùng lực lượng vũ trang: Pi Năng Tắc, Pi Năng Thạnh và Chamalé Châu. Có lẽ trên dải đất Việt nam ít có nơi nào mật độ anh hùng “dày đặc” đến thế (3 anh hùng/500 dân).

 

                                                   ***

 

Sau cuộc chiến trở về quê với 2 bàn tay trắng, trước một bãi đất hoang tàn còn ngút khói đạn bom. Các anh và bà con Rắc Lây bắt đầu cuộc chiến mới với con dao, chiếc cuốc. Một lần nữa hai chiến binh lại đi đầu trong cuộc chống đói, giảm nghèo. Không chỉ lo cho mình, các anh chia sẻ chút vật chất có được và kinh nghiệm làm ăn cho cộng đồng. Các anh đã đi vào cuộc chiến đấu trước đây không hề băn khoăn, do dự. Coi việc đánh giặc như cuốc đất trồng cây hôm nay. Không trông chờ sự ưu tiên, đãi ngộ

.

Nay cả hai anh đã có nhà ngói khang trang, có xe máy, đàn trâu bò đông đúc, và quê hương anh trước đây 100% nghèo đói nay đã có 80% các hộ đủ ăn. Một dân tộc chưa hề có người được cắp sách đến trường nay đã có 3 trường học với 7 lớp và gần 150 em, có trạm xá khang trang. Trong khi vẫn chưa có một trụ sở xã dành cho cán bộ địa phương. Uỷ ban xã đóng trụ sở luôn trong nhà Chamalé Châu.  “Hãy dành cho con em và bà con dân tộc trước. Bọn mình quen nghủ hầm, nằm đất chậm tý chẳng sao.” Anh Châu tâm sự rồi cười móm mén.

Khi hỏi về khó khăn và tâm tư cá nhân Chamalé Châu đưa ra “cái lý” thật giản dị, dễ hiểu: “Thời nay còn khó khăn, nhưng so với trước thuận lợi hơn nhiều. Trước chỉ có hai bàn tay, căm thù giặc mà chiến đấu đến cùng. Nay có hạt ngô, con bò, được tự do làm ăn. Mình chưa thạo tính toán như người Kinh nên chưa giàu thôi. Đất đai còn nhưng chưa có tiền làm thủy lợi dẫn nước về. Còn Pi Năng Thạnh lại đưa ra ý nghĩ làm ngỡ ngàng: “Làm Bí thư, Chủ tịch xã phải biết làm ăn, biết làm giàu mới có thể nói dân nghe”.

Chà! Hai ông anh hùng không hẹn mà gặp nhau trong câu trả lời. Ai dám bảo các anh chậm chuyển đổi tư duy, ai dám coi người dân tộc thiểu số vùng xa còn mù mờ với kinh tế thị trường? Xin tỏ lòng kính trọng với sự chuyển dịch “phẩm chất anh hùng” từ thời chiến sang thời bình của 2 quý anh nhỏ bé cơ thể mà không nhỏ trong tư tưởng và suy nghĩ thời đổi mới..

 

Bữa cơm dở trưa, dở chiều được dọn ra ở “trụ sở xã” – tức nhà anh Châu. Một con ngan cho hơn 10 người cả chủ lẫn khách. Món rang và nước sáo nấu lá me chua. Mọi người ăn ngon lành trong câu chuyện cởi mở ngoài lề công vụ.

Với sự “kiếm khuyết công cụ nhai”, hai anh quá vất vả với món thịt ngan già. Cái dáng quá nhỏ càng nhỏ thêm trong cái cách ngồi xổm thời chiến. Tôi không mường tượng nổi hai con người đó lại là hai con “hùm xám” một thuở ngang dọc rừng xanh làm quân thù điên đảo. Cả hai có những nét tương đồng:  đều tiên phong trong đánh giặc và xóa đói giảm nghèo. Đều tự nguyện xin ở lại quê hương khi được cấp trên có ý cất nhắc lên làm lãnh đạo ở cấp cao hơn.

 

Mỗi người có một thân phận và hoàn cảnh gia đình khác nhau. Anh Chamalé Châu không có con. Anh chị xin đứa cháu gái là PôPô Thị Kem - con người chị vợ làm con. Pi Năng Thạnh lại có tới 10 đứa con của hai người phụ nữ. Hai người đểu thương yêu phụ nữ theo cách riêng của mình. Chamalé Châu cố gắng bù đắp sự thiếu hụt tình cảm của người vợ và nỗi khổ không thể sinh đẻ của người phụ nữ. Vì vậy anh cố tránh những tổn thương trong tình cảm vợ chồng làm chi buồn hơn. Pi Năng Thạnh lại thương theo cách thấu hiểu những mất mát của người phụ nữ lỡ thì do cuộc chiến và ước nguyện chính đáng được làm mẹ của họ. Anh đã lấy tới hai bà vợ, gánh vác nuôi 10 đứa con, xây dựng gia đình cho chúng, nuôi cho chúng ăn học đàng hoàng. Anh đã góp phần vào việc giải quyết hậu quả chiến tranh bằng cánh nghĩ của riêng mình. Có cái gì đó vượt ra khỏi khuôn khổ hôn nhân, kế hoạch hóa gia đình quy định chỉ một vợ hai con? Không hiểu sao tôi vẫn thấy dễ cảm thông với các anh. Bởi đằng sau những sự việc đó thấm đượm tính nhân văn mà không thể giải thích theo cách nhìn đạo đức thông thường. Hình như nó vượt lên những gì mà chúng ta thường tâm niệm xưa nay về nhân đạo và những giá trị đạo lý.

 

Cuộc đời riêng của các anh đã cung cấp cho tôi một cách nhìn ít khắt khe hơn trước những thân phận éo le của con người. Nhìn nhận “con người hơn” với những hậu quả sau cuộc chiến mà đất nước này đang đặt ra và cần được giải quyết có lý có tình.

                                              

 

Cuối lịch trình anh Hoàng Thành đạo diễn Hãng phim Tài liệu khoa học Trung ương  muốn quay ghi lại những huân huy chương của các anh phục vụ cho  bộ phim. Chúng tôi ngỡ ngàng trước sự lúng túng của các anh. Cả hai anh bối rối trước yêu cầu của đạo diễn. “ Huân chưng, huy chương, huy hiệu, bằng khen...thì nhiều lắm không thể nhớ hết” anh Thạnh nói. “Có thể chúng ở đâu đó nơi góc tủ, ngăn kéo, hay có cái đám trẻ con mang đi chơi rồ đánh mất, có cái cài trên những bộ quân phục để làm kỷ niệm hay để ở một nơi nào đó mà các anh chưa thể nhớ. Nào ai có nghĩ nó quan trọng đến thế đối với nghề quay phim?” anh Chamales Châu giãi bày.

Mà cần chi phải công thức quá hỡi nhà đạo diễn? Những huân chương nào nói được gì nhiều về một con người?  Chính các anh là tấm huân chương sống có giá trị và đáng tự hào nhất: Sống đẹp, sống hay, sống hữu ích giữa cuộc đời này.

 

              Xuân Kỷ Mão. 1999

 

 

 

 

                                 CHUYỆN NHỎ BIÊN PHÒNG

                                     Du ký

 

Tôi là kẻ ngoại đạo không thuộc biên chế của Bộ đội biên phòng. Nhưng do công việc hay đi công tác vùng cao, vùng sâu nên có cái “duyên” không mời mà vẫn đến với các chiến sĩ quân hàm xanh. Nhiều khi ghé thoảng qua, nhưng cũng có chuyện để nói...

Tôi có cái máu lãng du, ham đi chơi vào những dịp mà người đời cho rằng “dở hơi”. Còn mươi ngày là Tết nguyên đán, gió rét cắt da cắt thịt lại đùng đùng “dẫn xác” lên Đồng Văn, Mèo Vạc. Nào ai đoán trước được tính khí của Giời. Vừ đấy còn nắng chanh chang đã xậm xịt u ám trở gió mùa đông bắc? Hai két mì ăn liền, một két Lavie trong suốt đã xếp lên xe từ hôm trước. Mặc kệ. Đi!

Khỏi dài dòng tả những cú xóc điếng người, những cua gấp “chết người”, những rãnh lầy thụt chữ chỉ, xe đánh võng đùa với Diêm Vương... rồi chúng tôi cũng tới được cái mỏm nhọn như chóp nón nơi đỉnh đầu đất nước có tên Lũng Cú. Vào dịp này những hộ người Mông đang mổ những con lợn tết cuối cùng. Trụ sở xã vắng tanh. Trong khi chờ người đi tìm bí thư, chủ tịch xã, chúng tôi ghé thăm Trạm biên phòng Lũng Cú cách đó không xa. Thung Lũng trong sương mỏng ánh lên màu hoa cải dầu, vàng đến ngây ngất. Trạm biên phòng nằm ngay dưới chân ngọn núi có tên là núi Rồng khá cao. Phía bên kia núi giáp sông Nho Quế là đất Trung Hoa. Chếch vòng chân núi về phái trái 200 mét là nền cũ Trạm đóng quân thời vua Quang Trung - gọi là Trạm biên phòng Long Cổ. Trạm Lũng Cú bây giờ tiếp cũng trên mảnh đất lịch sử thiêng liêng ấy. Đồng thời kế tục  truyền thống vẻ vang giữ nước của dân tộc mấy trăm năm nay.

                                                 

 

 

Trạm nhỏ đơn sơ. Mấy cây “lão đào” khẳng khiu cong lưng hứng cái rét 2oC miền biên ải. Khi chúng tôi vào chỉ gặp chuẩn úy Trịnh Văn Lâm và chiến sỹ Phạm Văn Tâm. “Anh em xuống hết địa bàn phối hợp với dân quân, tự vệ địa phương triển khai công tác đảm bảo cho bà con dân tộc ăn Tết Nguyên đán.” Trạm trưởng Lâm phân bua.

Ở Lũng Cú nói riêng và miền biên cương núi đá phía Bắc đều rất khó khăn về nước sinh hoạt. Đồn nào cũng có nhiều can loại 20 lít để trữ nước. Trạm Xà Phìn anh em cho biết, mùa khô phải mua nước từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng một can. Đời sống tinh thần chỉ có cái đài Cassette, bộ Tú-lơ-khơ, bàn cờ tướng làm vui.

Khi hỏi chuyện tiêu chuẩn tết nhất của bộ đội, hai anh cho biết đã có lực lượng lo chu đáo. Nhưng khi tôi hỏi cụ thể hơn là được những gì thì cả hai không giấu nổi sự lúng túng đành phải khai thật: “ Có rượu, bánh kẹo, bánh chưng. Ba ngày tết mọi người được bồi dưỡng thêm 5.000 đồng/ngày”.

“Thế này nhé! Mấy ngày tết anh em vất vả. Đoàn chúng tôi góp vui thêm cho anh em mỗi người 50.000 đồng và một ít bánh kẹo, thuốc lá. Gọi là của ít tình nhiều”. Cụ Vương Quỳnh Sơn – chuyên viên cao cấp của Ủy ban Dân tộc và Miền núi đặc phái viên của Bộ trưởng Hoàng Đức Nghi nói với hai anh em trực trạm. Hai bên nắm tay nhau thật lâu. Cám ơn rồi hẹn ngày gặp lại. Nhưng biết đến bao giờ mới có dịp? Những con người đang thầm lặng làm những công việc không tên, những việc nhỏ bé không bao giờ được ghi trong lịch sử nhưng lại chính là cái nền xây thành thế trận lòng dân bảo vệ an ninh nơi tận cùng đất nước.

 

Đến đồn Phó Bảng chúng tôi gặp gỡ với trưởng đồn Nguyễn Gia Lâm và phó đồn Nguyễn Xuân Tâu. Hai anh một quê ở Vĩnh Yên một quê Tuyên Quang. Đều có hai con và gia đình ở quê nhà. Công việc của đồn bận suốt 365 ngày ít có phút nghỉ ngơi nghĩ chuyện gia đình. Chen vào những khoảng trống công tác nghiệp vụ là chăn nuôi, tăng gia cải thiện bữa ăn. Mỗi năm các anh thu hoạch được chừng 3 tạ lợn hơi, vài tạ gà, gia cầm, hơn một tạ cá và 3 - 4 tấn rau xanh.

Trên đường ra xem trạm cửa khẩu, đồn phó Nguyễn Xuân Tâu chỉ cho tôi thấy mấy ngôi nhà trên một vuông đất cao ráo cách trạm không xa. Anh “nháy nháy” ý nhị: “ Đã có 2 - 3 cặp “uyên ương” giữa chiến sỹ của đồn với chị em địa phương đang ở đó. Đồn dành mảnh đất đẹp khuyến khích anh em xây dựng gia đình tại chỗ, yên tâm phục vụ lâu dài. Vẫn còn 2 - 3 nhà nữa để chờ những cặp mới”.

À ra thế! Đất nước đổi mới, biên phòng cũng có khác. Mươi mười lăm năm về trước “anh biên phòng” nào mà đi lại “hơi khăng khít” với phái đẹp địa phương là coi chừng! Dù động cơ có trong sáng đến mấy cũng không tránh khỏi  những ánh mắt nghi ngờ, lời ong tiếng ve  làm chột ý định “xe tơ kết tóc với chị em”. Nay nguyên tắc thì vẫn giữ vững, nhưng tư duy và phương pháp đã mới lên nhiều. Thế là phải quá! Gắn con người với tình đất, tình người là bền chặt nhất, là thế trận tối ưu nhất để bảo vệ lâu dài biên cương Tổ quốc. Để một hai thế hệ nữa, mỗi đồn biên phòng phát triển thành một cụm dân cư, to hơn thì thành thì tứ đông vui. Trong đó có nhiều con em của Bộ đội biên phòng nối nghiệp cha anh giũ gin biên cương Tổ quốc.

 

Trên đường từ đồn về Xà Phìn tôi nói chuyện với đồng chí trạm trưởng biên phòng Xà Phìn đi nhờ xe. Được biết mỗi tuần anh phải từ đó ra đồn giao ban một lần. Nếu đi bộ theo đường tắt cũng dài 25 - 30 km. Đi mất gần một ngày. Bất kết ngày mưa gió, rét mướt. Nhớ hôm chúng tôi từ Lũng Cú ra cũng có đồng chí trạm trưởng biên phòng Lũng Táo xin đi nhờ về đồn Phó Bảng. Đoạn đường cũng dài tương tự. Đi bộ là chính. Họa hoằn mới có may mắn đi nhờ xe ô tô của đơn vị, cơ quan lên công tác tại địa phương. Đường ở trên này vắng vẻ lắm.

 Nghĩ mà thương anh em. Lại vừa phục ý chí và tinh thần khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Tôi cứ băn khoan liên tưởng và thắc mắc: “Tại sao không trang bị cho mỗi trạm biên phòng một hai chiếc xe máy Minsk nhỉ? Chỉ cần một phần tiền nhỏ trong các vụ tham nhũng của nhưng quan chức, lãnh đạo trung ương, địa phương là đủ trang bị cho tất cả các trạm biên phòng chứ đáng là bao! Anh em vừa đỡ vất vả, vừa có phương tiện cơ động để chiến đấu, đi lại giữa trạm và đồn, đi xuống cơ sở và giải quyết những trường hợp đột xuất.

        

                                               ***

 

Cuối tháng 6 vừa rồi, tôi lại đi công tác miền Tây Nghệ An. Làm việc với đồng chí Hoàng Xuân Lương - Phó chỉ huy trưởng về chính trị Bộ đội biên phòng tỉnh - mới vỡ lẽ ra nhiều vấn đề mới. Ngoài công việc nghiệp vụ và công tác thường xuyên, Bộ đội biên phòng Nghệ An còn được tín nhiệm giao cho làm chủ dự án 06 - xóa cây thuốc phiện, chuyển đổi cây trồng vật nuôi cho đồng bào Mông ở 2 xã Na Ngoi và Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn. Đó là công việc hoàn toàn mới mẻ.

Ở Nậm Cắn, các anh đã vận động bà con phối hợp với chính quyền địa phương ổn định đời sống sản xuất cho các hộ gia đình. Sau hơn 3 năm phá bỏ cây thuốc phiện đã mua được 150 con bò giống, trồng 10.000 cây mận tam hoa, hàng ngàn cây mơ, cam quýt, làm được 2 cầu treo, 6 km đường dân sinh, trang bị 10 máy xay xát cho xã... từng bước cải thiện cuộc sống cho đồng bào. Năm 1993 xã này có diện tích thuốc phiện tới 150 ha, nay chỉ còn là 10 ha các anh đang vận động xóa nốt.

Ở xã Na Ngoi đã gây được đàn bò 900 con, 15 máy xay xát cho 15 bản, trồng 20 ha vườn hộ gia đình, làm 12,5 km đường giao thông cấp 6, hỗ trợ đời sống cho 450 hộ đi vào ổn định. Nhờ thế diện tích thuốc phiện xã trồng năm 1993 là 500 ha nay chỉ còn trên 70 ha đang tiếp tục nhổ bỏ.

So với một số dự án thực hiện ở những vùng cao, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số giao cho bộ đội biên phòng bao giờ cũng ít thất thoát nhất và có hiệu quả có thể cân đong đo đếm bằng những con số rất cụ thể.  Các anh không có thế mạnh nghiệp vụ tính toán kinh tế. Nhưng có thể mạnh về con người: Được nhân dân tin cậy, được đào tạo rèn luyện trong môi trường kỷ luật nghiêm, lập trường vững. Và rất gắn bó với từng bước đi của kinh tế xã hội địa phương. Tôi không có ý khuyến khích việc Bộ đội biên phòng ở đâu cũng xin làm chủ dự án. Nhưng điều chắc chắn là ở những nơi cần thiết, cũng nên có Bộ đội biên phòng tham gia sẽ mang lại nhiều lợi ích cho dân và cho vấn đề an ninh chính trị vùng biên giới vốn luôn phức tạp.

 

Sau những chuyến đi, tôi trở về với những lo toan, tất bật đời thường chốn thị thành ồn ã. Nhưng những con người trẻ tuổi dọc miền biên cương xa xôi để lại trong tôi nhiều tâm sự. Mỗi người trong số họ đều có thân phận và hoàn cành gia đình khác nhau, tâm tư khác nhau, dân tộc khác nhau, ước vọng khác nhau... nhưng khi bước vào nhiệm vụ họ đều có chung một phẩm chất tuyệt vời: Trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, có trách nhiệm cao, vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Trong thời bình họ là người gánh mũi chịu sào nơi đầu sóng ngọn gió. Họ không kêu ca, đòi hỏi, nhưng xã hội phải có trách nhiệm cao hơn nữa đối với họ, để tạo lập một cuộc sống vật chất, tinh thần ở mức cần thiết tương xứng với nhiệm vụ yêu cầu trong điều kiện cách mạng mới.

Nên chăng tổ chức những đơn vị kết nghĩa Bộ, ngành, địa phương miền xuôi với các huyện, tỉnh, các đồn biên phòng ở những vùng xa, vùng khó khăn? Tạo thêm nguồn lực, sự động viên, giúp các địa phương đó xóa đói giảm nghèo, vừa góp phần nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc cho nhân dân, các tổ chức xã hội...

 

Được biết năm 1997 phát triển giao thông miền núi là công tác trọng tâm của Chính phủ. Thật là đáng mừng. Nói một cách công bằng, những năm gần đây giao thông, miền núi cùng đã có những chuyển biến lên nhiều. Giờ đây đi từ thủ đô Hà Nội lên mỏm tận cùng Lũng Cú, Đồng Văn cũng chỉ mất 2 ngày. Từ thành phố Vinh đi mỏm tận cùng phía Tây là cửa khẩu Nậm Cắn, thuộc huyện Kỳ Sơn cũng chưa đầy một ngày. Các tuyến quốc lộ đang rộng ra và nhẵn lên...

 

Không còn sợ nỗi xa cách đường trường. Mà chỉ sợ... lòng người xa cách!

 

 Số tháng 8-1997 - Báo Biên phòng. Giải nhì cuộc thi viết về đề tài Biên phòng - không có giải nhất

 

 

 

 

 

                                                  

 

 

 

 

 

                                          AI LÊN SƠN VỸ...

                                      

              Từ Đồng Văn xuôi về Mèo Vạc đường không xấu lắm. Nhưng ngồi trên xe cứ cảm như đang thách thức với sự sống còn. Nhiều cua gấp xe ngược, xuôi tránh nhau sợ đến thót tim. Cứ bám lấy ta-luy núi mà đi. Nhìn phía dưới là vực sâu thăm thẳm đầy bất trắc.

Anh bạn ảnh nghiệp dư Lê Vui Tạp chí Dân tộc và Miền núi chầu trực mãi mới được đi chuyến này, hy vọng chụp được những pô ảnh độc chiêu. Đến mũi Máo pì lèng cả bọn đều nhảy ra khỏi xe. Không gian tĩnh lặng. Những núi đứng, núi ngồi lô xô điểm xuyết những đám sa mộc vọt lên, mờ ảo qua tấm voan sương mỏng. Lê Vui mon men ra mũi đá, nhưng bỗng khựng lại lùi về phía sau.

Đứng ở mũi Máo pì lèng nhìn xuống sông Nho Quế bé xíu vòng vèo chỉ hơi ánh lên trong màn sương. Ở độ cao trên nghìn rưỡi thước - từ đây vật thể sẽ rơi theo chiều thẳng đứng mà phóng xuống cái dải nước mờ mờ kia. Nghĩ đến đã thấy lạnh sống lưng

 

Hai tai cứ u u nghe chuyện câu được câu mất tức anh ách. Ấy là khi xe đang trượt xuống thung lũng Pả Vi. Cách huyện lỵ Mèo Vạc 9 km, quặt cua gấp phía trái lại tiếp tục ngược mũi xe ngửi trời mà leo lên Sơn Vỹ - vùng cao xa xôi giáp biên với nước Trung Quốc. Sơn Vỹ trước đây quá mênh mông nên sau này chia thành 3 xã: Thượng Phùng, Xín Cái, Sơn Vỹ. Xe cứ vòng vèo đánh vật với những quặt, khe thung; nhảy cẫng trên những đá hộc, đá tai mèo nhọn sắc như mũi dao, mũi chông. Qua gương chiếu hậu thấy chúng tôi nhăn nhó xô huých vào nhau anh tài Nguyễn Văn Dự nói với lại động viên:

“Chưa đến chỗ khó nhất đâu! Trước khi đi em đã lột hết lốp Nhật thay toàn bộ lốp UWAT Nga “nồi đồng cối đá”. Tuy có xóc hơn nhưng yên tâm. Lốp Nhật mỏng không chịu nổi những mũi đá nhọn sắc trên cung đường này”.

 

Vậy là tính trung bình mỗi giờ chỉ đi được 8-10 km. Nhiều đoạn chỉ 5 km tương đương người đi bộ. Hỏi đường đi Thượng Phùng, Sơn Vỹ nhưng đành chịu. Chiếc cầu bắc qua sông Nho Quế đã bị lũ 1996 cuốn trôi chưa bắc lại được. Phải dừng lại ở Xín Cái cũng cùng độ cao với hai xã, cũng đều khó khăn như nhau.

                                                  ***

 

Đã một giờ chiều, trụ sở xã khóa im ỉm. Hỏi đường về nhà riêng của đồng chí Sùng Sếnh Vư - Bí thư đảng bộ kiêm Chủ tịch HĐND xã. Đến nhà Bí thư tôi không thể tưởng tượng được nhà anh đơn sơ, hoàn cảnh đến thế. Ngồi trong nhà có thể quan sát hết bên ngoài qua lớp cây nứa đan thưa huếch hoác. Lòng nhà chỉ rộng chừng 4m, nền đất sét lồi lõm cao thấp. Hai chiếc gọi là “giường” làm bằng phên nứa đặt trên 6 chiếc cọc chặt từ thân cây ra. Cuối góc giường là đống chăn rách lỗ chỗ và quần áo nhàu nhĩ. Ngoài 3 chiếc chảo gang và chiếc cối xay đá để nghiền ngô làm mèn mén, vài chiếc xoong nhôm cụt tai méo mó và bát đĩa sứt mẻ…chẳng có vật dụng gì đáng giá.

 

Được biết không riêng gì nhà anh Vư nghèo. Cả xã mới có 4 hộ có nhà lợp ngói, 10 hộ có nhà trinh tường bằng đất nện. Còn lại 260 hộ nhà tạm bằng tranh tre ken. Nhiều hộ quá nghèo phải thưng vách bằng cây ngô khô ghép lại. Cái nghèo đói ở đây phô ra khắp nơi bởi những mái che sơ sài, xiêu vẹo; những đứa trẻ chân đất bụng ỏng ngơ ngác ùa ra xem ô tô...

Xín Cái gồm 6 dân tộc: Mông, Dáy, Xuồng, Dao, Lôlô, Hán - trong đó trên 70% là đồng bào Mông. Hạt ngô là lương thực chủ yếu. Lúa nước chỉ có 47 ha. Đời sống đồng bào hết sức khó khăn. Có trên 50 hộ thiếu đói gay gắt từ 4 - 5 tháng/năm. Còn lại đều thiếu ăn 1 – 3 tháng.

 

Sau một hồi trò chuyện bằng tiếng Mông với chủ nhà, cụ Vương Quỳnh Sơn gần 80 tuổi là chuyên viên cao cấp của Ủy ban Dân tộc và Miền núi – trưởng đoàn công tác – bảo Lê Vui lấy 500.000 đồng trao cho chủ nhà để hỗ trợ khó khăn. Cụ Vương có cách làm dân vận rất độc đáo. Trước các chuyến đi cụ thường lên gặp Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc và Miền núi Hoàng Đức Nghi chi cho chừng mươi triệu đồng Việt Nam. Chuyến công tác nào tôi được tham gia bao giờ cụ cũng gọi tôi lên giao cho việc xuống y tế chuẩn bị các loại thuốc cho đoàn. Một người khác làm “kế toán” giữ tiền, ghi chép, lấy chữ ký chứng nhận thực chi để về thanh toán với tài vụ Ủy ban. Chuyến này Lê Vui được giao phó chân kế toán. Cụ Vương là lão làng, lại là hậu duệ của Vua mèo Vương Chí Sình nên được người Mông kính trọng và nghe theo. Cụ ghé vào tai tôi nói nhỏ:  “Chúng nó mang tiếng là làm lãnh đạo nhưng nhiều đứa đông con, vợ đau yếu…quá khổ. Nó nhận làm lãnh đạo giúp cho nhà nước là tốt lắm rồi. Cứ cho chúng nó ít tiền là thiết thực nhất. Bữa cơm của vợ con chúng nó có tý mỡ dính mép cũng phấn khởi.”

 

                                                     ***

 

Xin dừng lại đoi chút để kể thêm về kiểu dân vận đặc biệt của cụ Vương. Nhớ lại một lần cũng dịp gần tết đi công tác với cụ. Sau khi ghé thăm các cháu và ngủ một đêm ở dinh thự Sà Phìn, hôm sau chúng tôi làm việc với xã Lũng Cú để kết thúc đợt công tác. Chuyến đi kéo dài qua một số bản, xã huyện Mèo Vạc, vòng về các bản xã huyện Đồng Văn. Mỗi lần trước khi đi cụ bảo văn phòng Ủy ban Dân tộc lấy từ kho ra cho cụ một hai chục tấm ảnh Bác Hồ. Số ảnh này là số thừa trong dịp Nhà nước tổ chức diễu binh, diễu hành lớn vào năm 1995 nhân 50 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc Khánh 2 – 9. Đoàn diễu hành của Ủy ban Dân tộc mỗi người được phát một ảnh chân dung Hồ Chủ Tịch to cỡ 40 - 60 cm ép platstíc có khung mạ đồng và cán tre để cầm. Do in quá nhiều nên còn thừa bỏ vào kho chẳng để làm gì. Cụ bảo nhân viên văn phòng tháo hết cán ra xếp bọc, buộc cẩn thận để cụ mang đi. Đến UBND các xã, các nhà văn hóa thôn bản, trường học cụ đều tặng ảnh Bác Hồ. Đúng là không đi cơ sở không biết, hoặc nhiều cán bô đi nhưng không để ý, không nghĩ ra. Các cơ sở công quyền, xã hội, giáo dục…miền núi – đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, rẻo cao biên giới không có ảnh Bác Hồ để treo. Hoặc nếu có cũng nhỏ như tờ giấy khổ A4 được cấp từ bao giờ đã ố vàng, sờn rách lề ảnh. Chỉ có những người sát dân, hiểu dân, biết được nơi nào thiếu cái gì mới nghĩ ra như cụ Vương. Ảnh thừa để trong kho rồi cũng làm mồi cho gián, chuột cắn nát phí phạm. Cụ đã làm một việc lưỡng tiện và hữu ích. Thật đáng phục.

Sau khi “phân phát” tiền hỗ trợ cán bộ xã, bản cuối chặng đi còn thừa 1,8 triệu đồng. Cụ nơi với chủ tịch xã Lũng Cú khi làm việc xong vào 9h 30’ sáng: “ Đi công tác còn thừa gần 2 triệu mày bảo chúng nó đi mua một con lợn về mổ thịt làm bữa cơm trưa. Nhớ mời tất cả lãnh đạo cơ quan đoàn thể, thưởng thôn, già làng, trưởng bản về ăn bữa cơm đoàn kết. Chẳng mấy chốc hai thanh niên lực lưỡng đã khiêng về con lợn đen to tướng và mổ thịt ngay. Giữa trưa thì các thành phần đã về khá đông đủ. Chợt nhớ mấy hai hộp mỳ hai tôm mang đi dự phòng mới dùng hết nửa hộp cụ sai Lê Vui ra xe lấy vào. Cụ cười cười bảo Bí thư xã: “ Nói mấy đứa cn gái đi mang về đây một rổ rau cải rửa kỹ cắt nhỏ ra. Mỳ này nấu với cải mèo ngon tuyệt vời. Ta kết hợp món ăn của địa phương với Trung ương cho thêm tình đoàn kết.”

Cụ Vương là thế. Rất hóm hỉnh, tâm lý, diến đạt đơn giản dễ hiểu, dễ nghe có sức thuyết phục với đồng bào không riêng gì người H’Mông mà cả các dân tộc thiểu số khác. Có lẽ vì vậy mà các đời bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc dùng cụ tới khi cụ đã 80 tuổi.

 

                                                ***

 

Nhìn ra vườn nhà anh tôi thấy con gà trống duy nhất to bự có lẽ tới 4 Kg, cặp chân của to gần nửa cổ tay. Nó thấy người lạ vươn cổ gáy vang rồi xòe canh như che chở cho con gà mái đang nuôi một bầy con nhỏ. Mải chuyện không biết từ lúc nào vợ anh Vư đã thịt con gà trống mang vào nhà rang đãi khách. Với người Mông, gà ngon phải là gà già thường nuôi 2 - 3 năm mới ăn thịt để dành cho năm mới hoặc đón khán raách quý. Chặt thành những miếng to, anh Vư cho tất cả thịt vào chiếc chảo gang, ném  nắm muối vào rồi nổi lửa. Mèn mén thì đã có sẵn đồ từ hôm trước. Chỉ trong chốc nhát anh múc ra chiếc bát to. Tôi nhìn thấy máu tươi gà vẫn còn rỉ ra từ xương ống. Sợ gia chủ mếch lòng, tôi rỉ tai cụ Vương: “Cụ ơi! Thịt còn đỏ bên trong chưa chin, xương còn rỉ máu thế kia làm sao chúng con dám ăn. Cụ bảo anh ấy xẻ làm đôi cho vào chiếc nồi nhôm rang cho kỹ kẻo đau bụng đi tả giữa đường thì gay đấy!” Cụ nói tiếng H’Mông với anh Vư, và “mệnh lệnh” được thực hiện ngay. Khi thịt đã chin, mèn mén mang ra tôi gợi ý với cụ Vương là ta đãi chủ nhà món mì hai tôm nấu với cải mèo thật tuyệt. Cái món mèn mén khó xơi, cứ như ăn bánh khảo tắc cổ không nuốt nổi, lại còn ảm khói nữa. Cụ liền bảo chị Vư ra vườn nhổ lưng rổ rau cải mèo rửa sạch, thái ra ném vào nồi to mỳ sợi. Uống rượu nhắm với thịt gà, rồi mỗi người làm một tô mì nấu rau. Đang đói nên thấy còn ngon hơn phở Hà Nội. Nhìn hai đứa con anh Vư hăm hở với món mì nấu, có lẽ chúng chưa bao giờ được ăn món nào ngon đến thế. Tôi càng thấy lũ trẻ miền núi thật thiệt thòi. Nhưng biết làm sao?

 

Ở Hà Nội tôi đã từng nghe những dự kiến đầy hấp dẫn về trồng cây công nghiệp, phát triển chăn nuôi để vùng miền núi khó khăn thành những vùng sản xuất hàng hóa. Các cuộc tranh luận và những câu hỏi đặt ra gay gắt: Tại sao không chuyển đổi cơ cấu sản xuất, thay cây này con nọ, khai thác tiềm năng thế mạnh? Có đi thực tế đến những nơi tận cùng gian khó đâu mà biết? Ở đâu không biết chứ vùng này mùa khô đá đen, núi trọc cỏ cây trắng khô làm gì còn cỏ mà chăn nuôi? Thế mới biết “nói thì dễ nhưng làm thật là khó”.

 

Những thế hệ đi công tác miền núi trước tôi khi nói chuyện thường nhắc tới một vùng cao núi đá có cách “nuôi bò trên lưng”. Cái hình tượng dí dởm ấy giờ đây tôi mới thật hiểu rõ. Những tốp người đi nghiêng nghiêng vắt vẻo trên những sườn núi, trĩu nặng những lá cây lấy từ khe đá mà tôi gặp trên đường đi. Chính là thứ lá làm thức ăn cho bò. Đó là một loại thảo mộc nhỏ thân hơi cứng, phiến lá hẹp có hoa màu trắng và tím, vị thơm như thuốc bắc. Mùa này nhìn lên các sườn núi ở Sơn Vỹ trắng một màu cỏ lau chết. Đến loại phàm ăn, sống dai như cỏ tranh cũng héo hết. Kiếm đâu ra cỏ cho bò, ngựa?

Trong nhà anh Vư tôi thấy có một đống to loại lá đó xếp bên cạnh bàn thái giống bàn thái thuốc bắc cùng chiếc dao bản to, cán dài. Phải thái vụn thứ cây ấy cho bò nhai tại chuồng.

Vùng Sơn Vỹ này rừng đã hết từ lâu. Kiếm được miếng ăn đã vất vả. Kiếm được mớ củi nấu cũng vất vả không kém. Nhưng cái tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau, sẻ chia khó khăn sao sâu đậm tình người. Nhà nào cũng thiếu ăn nhưng bà con vẫn tự nguyện đóng góp mỗi nhá 1 sanh (chảo) ngô hạt - tương đương 15 kg – 20 kg làm quỹ khuyến học nuôi các cháu trường bán trú. Những mong con em mình học hành có cái chữ, tiến bộ để bằng người. Tiếc thay, do cái nghèo các em không có điều kiện học lên. Cả xã có 13 điểm mở lớp với gần 300 học sinh tiểu học. Nhưng hết lớp 5 không có em nào học tiếp lên được cấp trên.

 

Giải pháp ổn đinh, phát triển kinh tế, xã hội cho vùng cao Sơn Vỹ hẳn phải có một sự án tổng thể đủ mạnh và toàn diện. Nhưng đến bao giờ? Trong khi Sơn Vỹ đang rất cần những thứ tối thiểu hoàn toàn nằm trong tầm tay có thể giải quyết được.

Anh Sùng Sếnh Vư thủ thỉ với chúng tôi: “Về nước ở đây không quá khó khăn như vùng cao nguyên Đồng Văn. Chỉ cần có chất nổ, có mìn để phá đá khơi nguồn nước từ trên núi và khai hoang lập những ruộng nước mới. Cái dân đang rất cần là phân Urê và giống ngô Q2 có năng suất cao. Có ngô nhiều là tự túc được lương thực tại chỗ là có tất cả. Năm 1996, giống ngô Q2 đã được trồng trên diện tích 100 ha, năng suất bình quân trên 2 tấn/ha gấp hơn hai lần năng suất giống ngô địa phương. Bà con rất phấn khởi. Hiện nay cả xã còn tới 423 ha phải trồng bằng giống ngô cũ. Đồng bào hy vọng vụ ngô tới cấp trên cho nhiều giống mới và phân Urê để giảm bớt cái đói nghèo...”.

Là một xã giáp biên, phức tạp về hoạt động tội phạm, còn những phong tục tập quán lạc hậu nặng nề. Nhưng 27 đảng viên trong đảng bộ là tấm gương trong sạch, liêm khiết đã dìu dắt mọi người vượt lên trên những khó khăn. Đã biết tổ chức, phát huy sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc giữ vững an ninh chính trị và chủ quyền biên giới quốc gia. Năm 1996, Xín Cái vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân trương chiến công hạng đầu trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc của tỉnh Hà Giang.

 

Trước khi chia tay, anh bạn Lê Vui chợt nhớ xin dấu để đóng giấy di đường. Ấn mãi mực không ra. Phải đổ nước sôi vào ngâm chừng uống dập ấm trà mới in được một hình tròn mờ mờ trên công lệnh. Anh Vư thanh minh, cười như mếu: “Đã lâu lắm rồi không có  cán bộ đến thăm, có được đóng dấu cho ai đâu...”.

Sơn Vỹ còn rất nghèo, còn đang lúng túng lối thoát ra khỏi sự lạc hậu; đang rất cần những tri thức khoa học kỹ thuật, những nhà khuyến nông, khuyến lâm tận tụy hướng dẫn cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Để Sơn Vỹ sớm thay da đổi thịt, có một bộ mặt tươi sáng hơn nhiều miền quê hôm nay tôi gặp, Sơn Vỹ đang ngóng chờ những giải pháp thực tế, những bàn tay, những tấm lòng...

 

                  3-1997

 

 

 

 

 

                                           TÌM VỀ LỄ HỘI KATÊ

 

           Ai đã từng một lần về với mảnh đất duyên hải nam trung bộ hẳn khó quên vùng đất khắc nghiệt đầy nắng gió; hẳn không khỏi ngẩn ngơ trước những tháp Chàm cổ kính cô liêu trên những ngọn đồi mờ ảo trong sương sớm; những điệu múa chăm trong đêm hội huyền ảo sắc màu...

                                                             

 

Đang là trung tuần tháng 9, đài báo miền Trung sắp có cơn bão lớn đi qua. Nhưng không cưỡng nổi lòng khao khát, chúng tôi tìm về với Lễ hội Katê. Khởi hành vào ngày 22 - 9. Xe chạy như ma đuổi giữ cơn bão, mỗi giờ chạy tốc độ 60 -70 km, các cột cây số vùn vụt lùi về phía sau. Có ngày dậy từ 5 giờ sáng, chỉ đặt tấm thân ê ẩm đường trường vào lúc 9 giờ đêm. Trưa 24 - 9 chúng tôi đã có mặt tại chân tháp Pô Klong Girai (Ninh Thuận). Nhưng thật đáng tiếc do sự trực trặc về thông tin, lễ hội đã tổ chức vào hôm trước. Chúng tôi chỉ còn biết sững sờ trước ngọn tháp húng vỹ cháy bừng sắc gạch trên đỉnh đồi lộng gió biển khơi..

 

TÌM VỀ...

 

            Nguồn gốc của lễ hội Katê tương truyền: Sau khi tạo ra vũ trụ và vạn vật Yan Inưgăr (thần Đức Mẹ xứ sở) và Pôyan Amư (Đức Thánh Cha) hiện thân xuống cõi trần sống cùng dân tộc Chăm. Đức Thánh Cha sáng chế ra các công cụ sản xuất, thần Đức Mẹ xứ sở dạy cho thần dân của Người biết trồng cấy, nuôi tằm, kéo tơ dệt vải, xây dựng nhà cửa, đánh bắt hải sản... để duy trì, phát triển nòi giống.

Công cuộc kiến tạo đã chỉnh chu, trăm dân thuần thục mọi công việc, ngành nghề, hai vị thần  hóa thân về cõi siêu nhiên. Trước lúc chia tay Đức Mẹ xứ sở căn dặn: “Dân tộc Chăm các ngươi nếu còn tưởng nhớ tới chúng ta thì hàng năm đúng những ngày từ 1 - 7 thượng tuần (1)  nhớ cúng giỗ chu đáo Đức Thánh Cha, còn ta cũng vào ngày 1 - 7 tháng 9. Bằng không nếu các ngươi làm sai, chúng ta sẽ không hiển về hưởng lễ. Hãy đừng quên!”

 

Đối chiếu lịch Chăm với dương lịch thì lễ hội Katê thường rơi vào tháng 10 dương, hoặc tháng 9 dương nếu là năm nhuận (như năm nay). Lễ hội Katê được tổ chức và chỉ đạo thông qua giới tu sỹ Bà La môn chịu ảnh hưởng rõ rệt của đạo giáo du nhập từ Ana Độ. Dịp lễ tết Katê bao giờ cũng trùng với thời gian thu hoạch xong lúa mùa. Nhìn vào các vật phẩm cúng tế, dựa vào truyền thuyết kể trên cũng như các tượng vua Chăm hiển thành được thờ trong các tháp cho thấy: Lễ Katê nhằm thỏa mãn yêu cầu cõi tâm linh, ôn lại công lao của các thần sáng tạo, các anh hùng có công lao, giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn” giàu tính nhân văn và mang đậm sắc thái lễ nghi nông nghiệp.

Katê là lễ hội cộng đồng mang tính quần chúng rộng rãi, thu hút mọi tầng lớp, lứa tuổi tham gia. Để đến với lễ hội, trước đó hàng tháng trời mọi thứ phải được chuẩn bị hết sức công phu, chu đáo. Từ khâu chuẩn bị sân bãi, trang sửa đền tháp, cờ lọng, trống chiêng, nguyên vật liệu để làm đồ cúng tế, luyện tập văn nghệ và các trò chơi truyền thống trong lễ hội.

Về trình tự, Katê bao giờ cũng bắt đầu bằng việc tổ chức đại lễ ở các tháp lớn như: Pô Klong Girai, Pô Rômê, thứ đến là Katê làng xã, sau cùng là Katê trong các gia đình thường kéo dài hàng tháng tùy theo sự lựa chọn ngày tổ chức của mỗi gia đình.

                                            

 

Theo phong tục truyền thống, vào ngày cuối cùng của tháng trước lễ hội, người đứng đầu giáo phái Bà La môn là Pô Adhia (sư cả) phải có mặt tại tháp  thờ để làm lễ mở tháp. Sau khi xin phép thần linh, mọi người tất bật lau rửa các vật dụng được cất giữ trong miếu và chuẩn bị các đồ tế lễ. Vào khoảng xế trưa, các tu sĩ, bô lão xuất phát từ tháp thờ đi tới một thôn người Raglay cách miếu thời không xa để đón y trang của vua và hoàng hậu. Trong khi đó người Raglay cũng khởi hành rước y trang đi ngược chiều đoàn người Chăm tới miếu thờ. Lễ bàn giao y trang, mũ mão cho người Chăm được tổ chức trang trọng khi hai đoàn người gặp nhau ở giữa đường. Rồi hai đoàn người nhập làm một cùng rước y trang về làm lễ đặt vào trong tháp. Theo tiếng Chăm Raglay có nghĩa là người lưu lạc trong rừng. Truyền thuyết kể rằng khi vị vua cuối cùng của Triều đại Chăm bị nhà Nguyễn đàng trong truy diệt. Y trang  gồm kiếm báu, vương miện giát vàng, quần áo, trang sức do lo bị cướp mất nên người Chăm đã giao cho người Raglay mang đi dấu trong rừng sâu, núi thẳm. Nguời Răglay và người Chăm cùng chung nguồn gốc như anh em một nhà nên được người Chăm tin tưởng giao phó cho trọng trách cất giữ đồ của vua Chăm.

             

                                                             ***

 

Sau bữa tối, các bô lão, nam nữ thanh niên từ các làng lân cận kéo về chật ních sân tháp. Họ kể cho nhau nghe sự tích, lịch sử các vua chúa, thần thánh, ngâm thơ, múa hát trong hòa âm trầm bổng của các nhạc cụ dân tộc cho tới tận khuya.

Từ mờ sương cho tới hết buổi sáng ngày mồng một là việc chuẩn bị và hoàn tất các đồ tế lễ cũng như các dụng cụ cho buổi đại lễ. Gần trưa, đã thấy trước sân miếu chiếc kiệu sơn son thếp vàng cờ lọng thêu rồng phượng tua vàng rực rỡ. Khi đã chỉnh đốn đội ngũ tham gia hành lễ, chờ đúng giờ lành cuộc rước bắt đầu. Sư cả và các chức sắc Bà La môn dẫn đầu. Đi giữa họ là Chamưnêi (người trông coi tháp) gánh 2 “CHIẾT” lớn đựng báu vật của nhà vua. Tiếp đến là 4 thanh niên khỏe mạnh khiêng kiệu. Sau họ là đội vũ nữ múa nghi lễ rồi đến hàng hàng, lớp lớp, dân chúng rùng rùng chuyển động tiến về đền tháp.

 

Sau khi dừng lại trước cửa tháp khấn vái thần coi giữ cửa, cánh của tháp chợt mở toang. Các chức sắc giáo phái Bà La môn tuần tự theo thứ bậc bước vào và tiến hành các nghi thức qui định. Về chính lược có thể kể ra theo trật tự gồm các bước như sau: Lễ mộc dục (tắm tượng), lễ mặc y phục, đại lễ (bày tất cả các vật phẩm, đồ cúng lễ) lễ túc trực, lễ hèm tục (đọc, diễn các tích sử, thánh ca nêu công lao các vị thần,...), lễ tiễn biệt. Sau khi các đấng linh thiêng đã thọ hưởng thành quả lao động của thần dân, lộc thánh được sẻ chia bằng cuộc chè chén say sưa của mọi người có mặt nơi hành lễ. Qua sáng mồng 2 là lễ tại nhà Sư cả cũng không kém phần nghiêm trang đầy đủ. Bà con đến chúc mừng Sư cả và thông qua  ông nhờ gửi thông điệp tới thánh thần về ước mong ăn nên làm ra, bình an hạnh phúc của mọi người.

Ngày mồng 3 các gia đình mang lễ vật đến ngôi nhà làng cầu mong mưa thuận gió hòa, khấn vái thần linh, thổ địa, thần hoàng cho sức khỏe và mọi điều tốt lành.

Từ ngày mồng 4-7 trước đây thường là tết Katê trong thân bằng họ tộc do người có vai vế, uy tín trong họ đứng ra tổ chức. Ngày nay sau khi tổ chức Katê làng xã, các gia đình ăn tết tùy vào sự chọn lựa một ngày trong tháng Katê.

 

                                        …LỄ HỘI

 

Đang chán nản vì trượt dịp đại lễ Katê ở tháp Pô Klong Girai, bỗng chúng tôi nhận được tin Katê làng xã sẽ tổ chức ở Ma Lâm vào ngày 9 - 10 (chủ nhật). Trong cái rủi lại có cái may. Xe tức tốc rời tỉnh Ninh Thuận đi huyện Hàm Thuận Bắc tỉnh Bình Thuận. Nắng trưa như đổ lửa, con đường men theo bờ biển lộng gió, quanh co uốn lượn qua Cà ná, Tuy phong với những bãi đá kỳ dị tung bọt trắng phau mỗi khi song biển ập vào. Cảnh như mơ. Bắt vào đường huyện đầy ổ gà, ổ lợn lõng bõng nước mưa đọng lại từ hôm trước. Đường vào xã càng nhão bùn đất. Những tốp người hối hả, nhễ nhãi mồ hôi ngược xuôi tất bật cho giờ khởi lễ vào đúng ngọ. Các gia đình nhộn nhịp bánh trái, rượu cam, xôi chè. Tại ngôi chùa Ấn giáo ( Bà la môn) các mẹ, các chị đang gói bánh, đồ xôi củi bếp khói um. Ngoài sân chùa một tốp thanh niên đang vật một con dê đen tuyền cắt tiết. Khói hương mù mịt trong chùa tỏa ra ngoài thơm ngát. Đạo diễn Hoàng Thành của Hãng phim tài liệu Trưng ương lắc lắc cái đầu to tướng cùng thợ quay phim nhào ra nhào vô tranh thủ ghi lại những hình ảnh lạ lùng trong các khâu chuẩn bị buổi lễ.

 

Gần tới giờ, chúng tôi chạy ngược ra sân trụ sở hợp tác xã cách chùa chừng 2 cây số để đón cảnh mở màn. Đã thấy 2 chiếc kiệu đậu cạnh sân, cờ xí vuông, cờ đuôi nheo viền xanh đỏ phấp phới, lọng tua vàng rực rỡ đung đưa trong cái nắng chói chang. Sư cả, các chức sắc, quan khách và dân chúng đã đông nghẹt tràn cả ra đường đi, ồn áo, chen chúc vòng trong vòng ngoài chỉ trỏ đội vũ nữa múa nghi lễ đang phẩy quạt nôn nóng chờ giờ hành lễ.

Bỗng tiếng Mã lai (2), tiếng trống Ginăng (3) gióng lên trang trọng, tiếng kèn Saranai (4) vút lên réo rắt đưa mọi người vào không khí trang nghiệm. Tiếng nói cười im bặt. Anh Hoàng Thành tóc bạc phơ, ngực lủng lẳng máy ảnh nhễ nhại mồ hôi loay hoay tìm góc đứng cho quay phim chính. Còn tôi “Cameraman cưỡng chế” cũng lăm lăm máy quay liều mạng lách qua những vòng người vào trong “xí chỗ” để “chộp” cận cảnh.

Điệu múa nghi lễ bắt đầu. Tám thiếu nữa Chăm áo dài cánh sen thắt dải thổ cẩm xanh quanh eo hướng về chiếc kiệu. Họ mềm mại chuyển động theo đội hàng hai, lúc tiến lúc lùi, vòng tròn, giãn ra nhập lại theo từng giai điệu nhạc. Hai chiếc quạt to bằng chất liệu lụa mỏmg trên hai tay xòe rộng, lúc nâng cao ngang tầm mặt, lúc hạ xuống ngang gồi rung giật, lúc như cánh chim vẫy gió, lúc như sóng biển dập rờn. Nhìn đôi tay khéo léo của họ du khách khó tin họ chính là những cô gái mới hôm qua còn tay hái liềm lao động chăm chỉ trên đồng ruộng quê hương. Một anh bạn trẻ rỉ tai tôi: “Múa Chăm khó nhất là đôi tay. Nhiều cô văn công tỉnh  luyện mái vẫn không dẻo được.”

Bốn thanh niên y phục nghi lễ quấn khăn trắng toát đã nâng kiệu lên vai. Tiếng trống Ginăng chuyển làn hành tiến. Vòng người giãn ra nhường đường cho đội thiếu nhi mang cờ xí đi đầu. Tiếp đến là kiệu hoa, đến đội vũ nữ vừa đi vừa múa. Dòng người kéo dài suốt 2 cây số tới đền tháp.

Đến trước cửa chùa đoàn người dừng lại. Tiếng nhạc bỗng trầm xuống trong nghi lễ mở cửa chùa. Đội vũ nữ vẫn tiếp tục múa chuyển làn, vẻ mặt xuất thần, trang nghiêm có phần hơi thần bí. Các chức sắc Bà La môn tuần tự thực hiện các nghi lễ, dân chúng lầm tầm khấn hai tay chắp vào nhau dương cao trên đầu. Mỗi lần vái lại xoài người trên chiếu rồi lại chắp tay cao trên đầu liên tiếp cầu mong may mắn tránh mọi rủi ro cho gia đình, con cháu.

 

Trong lúc đứng chờ ngớt mưa ở cửa chùa, một bà cụ ghé vào tai tôi: “Các ngài ở đây linh lắm. Năm nào cũng vậy, cứ khi kiệu rước tới chùa là trời lác đác mưa, sau đó là mưa to. Các ngài điều gió, khiển mưa và ban lộc cho thần dân, cho mùa màng tươi tốt.”

Trời vẫn xám xịt, mưa trút xuống không ngớt. Ngồi trên xe đồng chí Huỳnh Thanh Tâm chủ tịch huyện cho biết: “Nếu đẹp trời đêm nay mới vui. Đoạn đường ta đang đi đây sẽ kín đặc người đến dự không chỉ đồng bào Chăm mà cả các dân tộc khác cùng vui. Dân tộc Chăm vốn có năng khiếu văn nghệ, cuộc vui không biết đến lúc nào mới ngừng vì ai cũng muốn tỏ rõ khả năng văn nghệ của mình.”

 

Tuy không được dự đêm Katê huyền ảo, nhưng những gì chúng tôi chứng kiến cũng đủ thấy sự hoàng tráng, tưng bừng náo nhiệt của lễ hội Chăm độc đáo, giàu bản sắc dân tộc. Tôi đặc biệt chú ý tới tiết mục tắm cho một vật tạc bằng đá xanh (tựa như tấm bia mộ). Sư cả dùng một chiếc bát đồng múc nước rửa cẩn thận tấm đá, vừa làm thầy vừa như bắt quyết, miệng lầm rầm tụng ca. Dứt đoạn thầy rắc cát vào chân tấm đá, vun gọn, rồi dùng ngón tay chấm vào cát vẽ mắt, mũi, mồm, mặc quần áo, quấn khăn cho tấm đá...

Tôi biết đó là thần Siva được tạc dưới dạng bia hoặc ống - biểu tượng dương - gọi là Linga ( dương vật ). Nếu vẽ thêm hình mặt người (như vừa miêu tả) thì gọi là Mukhalinga. Còn bệ đá mà Linga cắm vào gọi là Yoni - biểu tượng âm ( âm vật ). Cũng như một số dân tộc khác, người Chăm quan niệm trời đất, âm dương giao hòa mới sinh ra vạn vật - trong đó có con người. Đó là biểu tượng của nền văn hóa phồn thực mang ý nghĩa sinh tồn và phát triển, sự bất diệt của nòi giống. Không riêng gì Mukhal - Linga và Yoni mà các vật phẩm cúng tế trong lễ Katê phần lớn đều thể hiện thuyết âm dương ngũ hành: Bánh tét đòn, bánh tét dẹt, chuối cả nải đặt úp ( khác các dân tộc nải chuối đặt ngửa ), bát Sakya đặt ngửa, bánh quế v.v...

Trong thời gian ở Bình Thuận có người mách tôi: “Gần đây đã có hiện tượng lợi dụng lễ hội Katê, một ít người tổ chức rượu chè quá đáng, đánh bạc thâu đêm ở một số tụ điểm trong ngõ ngách.” Đang vui tôi bỗng thấy buồn vì những gì vừa nghe. Nhưng hiện tương tiêu cực không hay như vậy những năm gần đây thường có trong các dịp lễ hội truyền thống của dân tộc. Điều đó đặt ra nhiệm vụ cho chính quyền các cấp phải mạnh tay diệt trừ. Để các lễ hội trở về đúng bản chất trong sáng, tâm linh của nó. Để các lễ hội như Katê mãi mãi là ngày hội trong sáng, lành mạnh là ngày vui đoàn kết giữa các dân tộc. Mỗi lễ hội  như một bông hoa đẹp tỏa hương thơm, khoe sắc thắm của nền văn hóa đa sắc màu của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

 

                                                                                                            Tháng 10-12/1995

 

Chú giải:

(1) Lịch Chăm được tính theo vòng quay của con trăng. Một năm có 12 tháng, mỗi tháng chia làm hai tuần trăng. Từ mồng 1 - 15 gọi là tuần trăng thượng biểu hiện dương. Từ 16 - 30 (hoặc 29 - tháng thiếu) gọi là tuần trăng hạ biểu hiện âm.

(2) Mã lai: loại chiêng không có núm

(3) Ginăng: Trống bằng gỗ hình ống dài bọc da hai đầu. Đầu trên vỗ bằng tay đầu dưới gõ bằng dùi gỗ.

(4) Saranai: Kèn làm bằng gỗ bên trong rỗng loe hình loa, 7 lỗ trên thân kèn (như sáo trúc).

 

 

 

 

Trích ngang về tác giả: Đinh Đức Cần

          Bút danh :  Lưu Chí Thiện, Trần Quang Vân, Lê Nguyễn

          Sinh năm 1950

          Quê: Khánh Hải, Yên Khánh, Ninh Bình

          Hiện nayở Hà Nội

           Cử nhân khoa Ngữ - Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội

           Cao cấp Lý luận chính trị - Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

           Sách đã xuất bản: Giải quyết vấn đề cây thuốc phiện NXB: Lao động Xã hội  1994, Xóa đối giảm nghèo ở các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam NXB Lao động Xã hội  1996

            Thơ:  Miền Ký ức NXB Hội nhà văn  2012

            Lễ hội Ka tê dân tộc Chăm: Kịch bản và tham gia quay phim

    Một số phim tài liệu ngắn về dự án, phong tục tập quán dân tộc thiểu số Các phóng sự, ký sự, thơ, truyện dịch trên các báo Trung ương và Tạp chí Văn học nghệ thuật địa phương

 Sách mới : Từ dinh thự Vua Mèo tới tượng Nữ thần Tự do. NXB Công an Nhân dân 2019

Giải nhì (không có giải nhất) Du ký “Chuyện nhỏ Biên phòng” do Báo Biên phòng, Cục chính trị Bộ Tư lệnh Biên phòng và Cục Báo chí Bộ Văn hóa Thông tin tổ chức 1999.

Giải Cuộc thi thơ “Nước Nga trong trái tim tôi” do Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga, Ban phát thanh tiếng Việt Đài phát thanh Moskva và Hội Nhà văn Việt Nam đồng tổ chức. Trao giải năm 2012.

            Giải thưởng: Loạt phóng sự về vua Mèo với Bác Hồ trong cuộc thi “Bác Hồ với đồng bào các DTTS, các DTTS với Bác Hồ” do Ủy ban Dân tộc phối hợp với Bộ tư lệnh Biên phòng và các ban ngành TW liên quan tổ chức. Trao giải năm 2013.

            

           

( Hết )

              

Phần II

CHUYỆN VUA MÈO

VƯƠNG CHÍ SÌNH
 

        Đại đoàn kết dân tộc là trụ cột quan trọng bậc nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời là phương châm chiến lược của cách mạng Việt Nam. Có vô vàn những câu chuyện, sự kiện, văn bản...về sự quan tâm, tình cảm Bác dành cho đồng bào dân tộc thiểu số và vùng dân tộc miền núi chiến khu cách mạng Cao Bắc Lạng, Hà Tuyên Thái; về những nhân sỹ, trí thức, người tài năng, nổi tiếng theo Bác về với cách mạng. Trong đó chuyện cha con vua mèo Vương Chí Sình là câu chuyện dài nhiều tình tiết ly kỳ, hấp dẫn nhất đã làm tốn bao giấy mực mà vẫn còn nhiều điều hư hư, thực thực, đúng sai... vẫn thách đố bạn đọc?

         Rất nhiều những bài viết từ trước đến thời điểm này nói nhiều về nhân vật vua mèo, nhưng có không ít một số tình tiết chưa chính xác, hoặc có sai sót...về  nhân vật, kỷ vật, sự kiện, thời gian. Khi thì vó vẻ như rất cụ thể, có khi như giai thoại không biết nên tin hay không tin? Âu cũng là chuyện thường tình của lịch sử xưa nay - có khi hàng trăm năm sau mới được bổ xung, chỉnh sửa cho đúng đắn, trọn vẹn...

Tác giả loạt Phóng sự tư liệu lịch sử này thấy mình có trách nhiệm phải chia sẻ, công bố những tư liệu đã được dày công tìm hiểu, ghi chép, đối chiếu qua các văn bản, tài liệu lịch sử, cá nhân có liên quan với các sự kiện...mà hầu hết lần đầu tiên được công bố đối với bạn đọc. Tác giả mong muốn góp phần làm sáng tỏ sự thật - điều mà lịch sử, xã hội và bạn đọc luôn trông đợi...
                                                                                                                                    Đinh Đức Cần

 

HOÀN CẢNH,XUẤT THÂN VÀ THÀNH THỦ LĨNH

VÙNG MÈO ĐỒNG VĂN

 

Nói tới khái niệm “vùng Mèo”phải được hiểu không chỉ có 4 huyện núi đá Hà Giang, mà còn bao gồm một phần đất phía nam tỉnh Vân Nam và Quảng Tây Trung Quốc giáp Việt Nam. Sau cuộc khởi nghĩa chống nhà Thanh thất bại, quân binh Mèo rút lui về miền nam Vân Nam Trung Quốc lập thủ phủ Khai Hoa (hoa nở - tiếng mèo: Pas Tơv’kha). Nhà Thanh tiếp tục truy đuổi chiếm phủ Khai Hoa rồi đổi tên thành Khai Hoá (khai mở văn minh). Nghĩa quân rút về Đường Thượng (nay thuộc huyện Yên Minh - Hà Giang) tôn Sùng Chứ Đa làm thủ lĩnh.  Sùng Chứ Đa tự xưng là Thuận Thiên Chủ, chia xã hội Mèo thành 4 cấp: Thiên chủ, Nguyên soái, Đầu binh và Trưởng thôn. Xoá hết Chế độ dòng họ mèo do Người cầm quyền dòng họ làm thủ lĩnh, Sùng tập trung quyền lực vào cá nhân. Do vậy không được lòng thủ lĩnh các dòng họ khác. Họ bàn nhau lật đổ Sùng, giao cho họ Đào đang sống ở Phó Cáo thực hiện. Họ Đào là họ của vợ Sùng nên dễ tiếp cận với lãnh chúa  hơn. Họ Đào thuê hiệp thợ đang xây dinh thự cho Sùng và đã giết được Sùng vaò mồng 2 tết năm 1827.

  Đương thời Sùng Chứ Đa sử dụng một thanh niên trai trẻ thông minh là Vàng N´jiên N´tor (Vàng Zền Tơ) làm đổng lý văn phòng. Khi Sùng bị hạ sát Zền Tơ chạy sang Pa Pú thuộc huyện Ma Lập Pha tỉnh Vân Nam Trung Quốc lánh nạn. Tại đây, Tơ được nhà họ Lý thương tình gả con gái cho. Khi tình hình đã êm ắng, họ chuyển về đất Sà Phìn - nơi lối rẽ Xà Phìn đi Lũng Cú. Họ có 2 con trai là Vàng Pá Tro và Vàng Giống Lồng (nhiều sách viết là Vàng Dúng Lùng - vì nghe âm mông rất khó, tôi phải nhờ cụ Vương Quỳnh Sơn hậu duệ của vua mèo đọc từng nguyên âm, phụ âm để ghi, cụ Sơn có tên mèo là Vàng Giống Sính).Viết và đọc theo chữ và âm hán Vàng Giống Lồng là Vương Chính Đức - sinh năm 1865 tại Pá Tró (tức con gấu) Sà Phìn. Lúc ông Zền Tơ mất Đức mới 12-13 tuổi. Nhà Đức nghèo xơ xác. Ngaỳ ngày Đức đi lang thang gặp đám ma, đám cưới thì xin vào thổi khèn, múa võ để kiếm cơm. Bộ quần áo lanh bố mẹ may cho rách te tua, Đức lấy đá đột thành lỗ rồi dùng dây rừng túm lại che chỗ rách. Tới khi rách quá Đức mới chịu về nhà để mẹ vá cho, rồi lại biến đi. Để buộc chân Đức quy gia, bà Lý mang sính lễ sang bản Lũng Hòa, Sà Phìn hỏi con gái nhà họ Sùng làm vợ Đức. Song chứng nào tật nấy, ngay cả khi đã có vợ con cũng không ngăn được máu giang hồ của Đức. Đức có tài thổi khèn múa võ rất giỏi, nên đi đâu cũng được yêu mến chào đón (chả thế mà ông có tới 3 bà vợ).

 

Khi quân Cờ đen của tướng Lưu Vĩnh Phúc rút đi năm 1885. Còn 3 nhóm tàn quân ở lại: Lương Tam Kỳ giữ đất Tả Châu Định Hoá, Tuyên Quang. Hoàng Sùng Anh chiếm giữ Bảo Thắng, Bảo Nhai, Bảo Sen, Lào Cai, Yên Bái. Hà Quốc Trường chiếm đất Hà Giang. Khi quân Pháp tấn công lên vùng dân tộc nhằm mở rộng bộ máy cai trị, chúng gặp phải sự kháng cự quyết liệt của lực lượng các thủ lĩnh dân tộc Mèo, Thái, Tày. Một trong số đó là thủ lĩnh mèo Vừ Phái Lồng - chiếm cứ một dải đất rộng lớn từ nam Vân Nam Trung Quốc sang vùng núi đá Hà Giang. Sau khi đánh bại chúa Bảo Lạc lấy lại vùng đất của người Mèo, ông đã cho mở đường đi Mông Tự - Vân Nam, đường Bách Xác Quảng Tây Trung Quốc xuống Cao Bằng, Hà Giang lưu thông buôn bán. Dân Mèo khi ấy mở rộng giao lưu buôn bán thừa thãi hàng hoá, làm ăn phát đạt, no đủ.

 

Khi biết tin quân Pháp sẽ trở lại đánh lên Hà Giang, Hà Quốc Trường lo sợ cho mời Vừ Phái Lồng đến để bàn phối hợp đánh Pháp. Sau khi đánh bật quân Pháp khỏi vùng mèo, Hà Quốc Trường đã phản bội giết chết Vừ. Do chủ quan, tin vào sự thành thực của Trường, Vừ cưỡi la chỉ có 2 hộ vệ đủng đỉnh từ Linh Cảm bên kia sông Nho Quế đến gặp Trường. Vừa xuống la trước cửa thành Đồng Văn, ông bị lính của Trường chém chết. Sau khi Vừ chết, Trường cho tàn quân Cờ đen mà đa phần là dân đầu trộm đuôi cướp, lục lâm thảo khấu tràn xuống vùng Mèo bắt bớ, cướp của, chém giết, hãm hiếp phụ nữ, cướp trẻ con mang sang Trung Quốc bán lấy tiền uống rượu. Áp đặt chế độ hà khắc, đàn áp và phá bỏ các tập tục truyền thống của người Mèo.

                                                     

 

Không chịu nổi sự o ép, các thủ lĩnh Mèo tập hợp lại thành lập đảng “Hươu Nai” dưới sự lãnh đạo của Vàng Dí Tủa. Nghĩa quân rút vào rừng sâu, dựa vào thế núi non hiểm trở chống lại Hà Quốc Trường. Vương Chính Đức là một trong những thủ lĩnh dòng họ Vương của nghĩa quân đó. Ông là thủ lĩnh giỏi khèn, giỏi võ, can trường, thông minh được nghĩa quân tin cậy, thán phục. Ở trong rừng sâu thiếu thốn, đói khát, nên có một lần Vàng Dí Tủa đang đêm ghé qua nhà thăm vợ con. Thấy chồng ốm yếu, vợ Tủa mời thầy thuốc đến thăm bệnh. Do ăn nhiều thứ củ, quả, lá rừng nên Tủa mắc bệnh đường tiêu hoá, chướng bụng. Sau khi tẩy độc, thầy thuốc dặn ông giữ gìn kiêng khem nghiêm nghặt, ăn uống từ từ từng tí một. Lúc đó đang mùa ngô chín (từ cụ Sơn dùng). Thương chồng, vợ Tủa luộc ngô và đồ mèn mén để ông ăn và mang vào rừng. Do quá đói ông đã ăn quá no nên bội thực đứt ruột mà chết

 

Sau cái chết của Vàng Dí Tủa, Vương Chính Đức được suy tôn lên làm thủ lĩnh. Lên cầm quyền, thủ lĩnh họ vương khôi phục lại Thiết chế dòng họ truyền thống của xã hội Mèo, dựa vào sự cố kết các dòng họ trong sự thống nhất chặt chẽ. Ông củng cố lực lượng, không chịu thế bị động trong rừng sâu. Một mặt ông chuẩn bị tấn công, đồng thời chỉ thị, truyền lệnh cho các dòng họ Mèo rằng: Khi nghĩa quân nổ súng, các gia đình mèo có quân Trường ở hãy vùng dậy dùng mọi vũ khí, dụng cụ, tìm mọi cách giết chúng.

Khi nghĩa quân nổ súng tiến vào từ Linh Cảm bên kia sông Nho Quế, chỉ trong vài đêm quân của Trường bị sát hại nhanh chóng bằng tên độc, súng kíp, bị cắt cổ...Các toán quân đầu đuôi, sau trước không ứng cứu được cho nhau. Hà Quốc Trường cùng vợ con chạy thục mạng về Quảng Tây bên kia biên giới (có tài liệu nói là Trường bị giết chết). Chấm dứt mộng xưng hùng xưng bá, mưu toan chiếm dải đất từ châu Vân Sơn, Vân Nam Trung Quốc kéo dài tới các huyện núi đá Hà Giang. Ngoài ra, ông Vương còn có công bang giao, gắn kết với người Mèo ở Trung Quốc. Tích trữ lương thảo, súng đạn tính kế lâu dài. Cuộc chiến vũ trang đánh Pháp của người Mèo hai bên biên giới Việt - Trung từ 1909 -1913 là một minh chứng cho tầm nhìn chiến lược của ông.

 

 

 

VƯƠNG CHÍNH ĐỨC VỀ VỚI CÁCH MẠNG

                                                                       

           Vùng đất người Mèo do Vương Chính Đức cầm đầu vừa đánh dư đảng quân Cờ đen, vừa đánh quân Pháp buộc chúng không thể vào được đất Đồng Văn. Mãi tới năm 1900, Pháp huy động một lực lượng lớn phối hợp với địa phương quân khố xanh Tày, Thái từ Bảo Lạc Cao Bằng đánh sang. Trận chiến gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên. Vương Chính Đức bị vỡ trận buộc phải rút lui để quân Pháp chiếm cứ Đồng Văn.

Rút vào rừng sâu, ông củng cố lực lượng liên tiếp quấy rối và đánh cho quân Pháp thất bại nặng nề. Những năm đầu thập  niên thế kỷ XX, người Mèo ở Đồng Văn và nam Vân Nam Trung Quốc khởi nghĩa vũ trang rầm rộ - tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa từ 1909 -1913. Sau gần 4 năm không thu phục được vùng đất dữ, bị hao binh tổn tướng. Trong khi quân của Vương Chính Đức thắng lợi giòn giã buộc Pháp phải hoà đàm. Hiệp ước Pháp - Mèo do tướng Jenera Pecneucin (Pê nanh) và Vương Chính Đức ký tháng 10 - 1913 có các điều kiện lợi thế cho người Mèo. Trước hết Pháp phải triệt thoái toàn bộ quân rút ra khỏi Đồng Văn - kể cả địa phương quân do Pháp chỉ huy. Trả lại cho người Mèo cai quản theo chế độ tự trị bên cạnh một đại lý Pháp và một khung hành chính đại diện cho Nam triều mang ý nghĩa tượng trưng.

 

Năm 1905, khi thuốc phiện trở thành hàng hoá và là nguồn thu lớn của Pháp (có tài liệu nói nguồn lãi từ thuốc phiện chiếm gần 1/3 tổng thu của Pháp ở Đông Dương) nên Anh quốc cũng muốn tranh giành mối lợi này. Nhưng trong khi Anh đang mải thôn tính Miến Điện thì tỉnh trưởng Vân Nam vốn có quan hệ từ trước với Pháp đã liên kết với toàn quyền Đông Dương lập công ty Á phiện Việt Điền để chia nguồn lợi này. Giá thuốc phiện bấy giờ là 1 đồng bạc trắng/1 lạng cân tiểu ly=37,5 gram thuốc phiện. Toàn quyền Đông Dương giao cho sở Đoan chính Đông Dương làm đại diện thu mua. Đồng thời đưa bàn đèn dạy dân cách hút thuốc phiện. Riêng Đồng Văn sản lượng thuốc phiện lúc cao nhất lên tới 20 tấn/năm. Chính nhờ thuốc phiện mà Vương giàu lên nhanh chóng, củng cố quyền lực, mua sắm vũ khí, nuôi được binh sỹ. Thắng lợi của Vương trước quân Pháp đã làm át bóng thổ ty người mèo là Dương Tụ Nghĩa đang sở hữu đất Mèo Vạc - vốn trước đó rất mạnh có mưu đồ thâu tóm quyền lực muốn cai quản cả vùng cao nguyên đá. Do thế lực về cả kinh tế và quân sự của Vương ngày một tăng, đó cũng là lý do quân Pháp nhượng bộ và hy sinh quyền lợi thả lỏng vùng đất Vương quản lý.

Tiếp đến, một sự kiện đáng nhớ là người Mèo toàn Đông Dương còn có cuộc nổi dậy đánh Pháp từ năm 1918 -1921. Trước tình hình không thể kiểm soát được vùng Mèo, và nguy cơ mất nguồn thu lớn từ thuốc phiện, ông Vương được Pháp phong chức Chánh quan Mèo và được đưa vào làm thành viên của công ty Việt Điền. Song do việc phân phối quyền lợi từ nguồn thu thuốc phiện có nhiều man trá, do chính sách nô dịch, o ép vô lý nên người Mèo Đồng Văn có xu hướng ly khai và chuẩn bị vũ trang chống Pháp. Thông qua bọn mật thám, việt gian, Pháp nắm được tình hình. Năm 1936 Thống sứ bắc kỳ tổ chức đấu xảo ở thị xã Hà Giang mời cha con Vương Chính Đức và thủ lĩnh các dòng họ Mèo đến dự. Chúng lừa bắt được tất cả đưa về nhốt tại nhà tù Hoả Lò. Đây là lần thứ 2 thủ lĩnh Mèo Đồng Văn bị Pháp bắt. Để lấy lòng Vương Chính Đức, Pháp cho ông và con trai Vương Chí Thành tại ngoại ở Hà Nội (có bài viết riêng về sự kiện này). Pháp muốn nắm Vương Chính Đức để thu phục đất Đồng Văn phục vụ cho âm mưu chia để trị.

 

Sau sự kiện Nhật hất cẳng Pháp (9-3-1945) đến trước Cách mạng tháng 8 tình hình hết sức khẩn trương. Các lực lượng thân Pháp, Nhật, Tưởng, Việt nam Quốc dân đảng (còn gọi là Việt quốc ) Việt nam cách mạng đồng minh hội (còn gọi là Việt cách) hoạt động ráo riết. Quân Tưởng Giới Thạch dồn người Mèo các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây áp sát biên giới Việt Nam. Để lấy lòng người Mèo, Đờ mông Ba Gia trưởng Phòng nhì mật thám Đông Dương nấp dưới danh nghĩa chủ sân quần ngựa Hà Nội thực hiện âm mưu. Đờ mông Bagia “thầy dùi” cho chính quyền Pháp cách chức một số quan Nam triều nhằm lôi kéo Vương Chính Đức hợp tác chống Tưởng và Nhật.

 Sau đảo chính vài ngày, quân Nhật đánh lên các tỉnh miền núi phía bắc và đổ bộ vào đất Đồng Văn. Quân Pháp đã không thông tin cho người Mèo biết. Chúng lặng lẽ rút sang bên kia biên giới. Chính quyền tay sai do Hoàng Phủ Toại (người tày ở Nước Hai tỉnh Cao Bằng) đứng đầu cũng chuồn theo chân bọn buôn lậu thuốc phiện. Thành ra người Mèo vừa phải phòng ngự ngăn không cho quân Tưởng tràn vào, vừa phải nổ súng chống quân Nhật vừa tới. Trong thế mắc kẹt, Vương Chính Đức hết sức lúng túng.

 Khi đó cũng là lúc cách mạng Việt Nam có chuyển biến mạnh mẽ chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa. Hồ Chủ Tịch kêu gọi toàn dân “ai có súng dùng súng,ai có gươm dùng gươm” nhất tề nổi dậy cướp chính quyền về tay nhân dân. Thấy được vai trò của Vương Chính Đức và lực lượng vũ trang Mèo, Bác cử đại diện của Việt minh là ông Hoàng Việt Hưng, ông Sơn Tùng và ông Thất Tinh đi từ Cao Bằng qua Đường Thượng - Bắc Mê vào Đồng Văn để gặp thủ lĩnh họ Vương bàn việc Việt Minh giúp người Mèo chống Pháp, Nhật và Tưởng. Họ đưa ra 8 điều lệnh của Việt minh bàn với ông Đức. Sau khi xem xét, suy nghĩ ông Đức đã nhận ra những điều đó phù hợp, đúng với nguyện vọng và mục đích chiến đấu của người Mèo. Đồng thời giải toả cho thế mắc kẹt, mở ra lối thoát cho cuộc chiến đấu của lực lượng vũ trang Mèo. Việt minh còn cử ông Việt Hưng ở lại làm tham mưu cho ông Đức.

Sau cuộc gặp gỡ này, ông Vương thở dài nhẹ nhõm, ngửa mặt lên trời mà rằng: “Người mèo ta xưa nay khắc đánh kẻ thù không có ai giúp đỡ. Nay có Việt minh, có cụ Hồ giúp, ta còn mong gì hơn nữa…”Rồi ông nói với thuộc hạ: “Việt Nam ta giờ đã có vua là cụ Hồ, ta phải theo cụ”.

 

Cũng từ đây, chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên cho toàn bộ cao nguyên núi đá gồm 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh là châu Thường Kiệt do ông Vương Chính Đức đứng đầu. Cũng từ đây cuộc chiến đấu của người Mèo hoà vào cuộc kháng chiến của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh.

                                               

KẾ HOẠCH ĐƯA VUA MÈO VỀ HÀ NỘI

                                                              

Cách mạng tháng 8 thành công. Ngày 2-9-1945 Hồ chủ tịch long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước cộng hoà công nông đầu tiên ở Đông nam Châu Á. Lúc này tình hình đất nước cực kỳ cam go. Nạn đói cướp đi sinh mạng hơn 2 triệu người. Ngân khố quốc gia cạn kiệt. Bệnh dịch hoành hành khắp nơi. Thù trong giặc ngoài đe doạ nền độc lập của nhà nước công nông non trẻ. Hồ chủ tịch triệu tập Quốc dân đại hội thành lập chính phủ lâm thời. Tập hợp mọi lực lượng yêu nước có thể tranh thủ, hợp tác. Trong nhiều thành phần, tầng lớp xã hội, Bác rất quan tâm tới đồng bào dân tộc thiểu số miền núi. Một trong những nhân vật ấy là cụ Vương Chính Đức - người thủ lĩnh Mèo quả cảm nổi tiếng với những chiến tích đánh quân Pháp, Nhật, Tưởng giữ vững vùng đất Đồng Văn mấy chục năm qua.

Với lòng trân trọng, Bác viết thư cho Việt minh mang lên Đồng Văn mời cụ Vương về Hà Nội để bàn việc nước. Lúc này cụ Vương đã tuổi cao (81 tuổi ) sức yếu không thể đi được nên uỷ quyền cho con trai là Vương Chí Thành đi thay để đến tiếp kiến cụ Hồ. Vương Chí Thành là con trai thứ 2 của cụ Vương với bà cả - có tên mèo là Vàng Seo Lử (Vang T´sia Lưv).Viết theo chữ và nghĩa hán là Vương Chí Thành. Âm hán đọc Thành là Sình, vì thế ông có 2 tên mà các tài liệu lúc thì viết là Sình, lúc viết là Thành đều được, không sai.

 

Thời kỳ này rất hỗn quân, hỗn quan. Nào Nhật, Tưởng, Pháp, các đảng phái lợi dụng nấp dưới các thế lực thù địch với cách mạng mọc lên như nấm sau mưa. Việt quốc là đám hung hăng nhất. Chúng gây ra nhiều vụ bắt bớ, phục kích chém giết, cướp bóc người tuỳ tiện, tuyên truyền bôi xấu Việt minh gây ra nỗi lo sợ, hoang mang trong dân chúng. Ở Hà Giang có Hoàng Quốc Chính lợi dụng tình hình, theo gót quân Tưởng vào giải giáp quân Nhật. Chính là uỷ viên của Quốc dân đảng, đóng trụ sở tại thị xã Hà Giang. Quân của chính cũng là một thứ  “tạp pí lù” nhưng lúc này vẫn còn mạnh không thể coi thường. Sau khi chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho ông Vương, việt minh cử ông Mai Trung Lâm lên Hà Giang nhằm 2 mục đích:1, Phân hoá các lực lượng đối lập, ta chủ trương tập trung vào kẻ thù chính (sau này ông Lâm là đại tá chỉ huy trưởng Công an vũ trang khu Tây Bắc, sau nữa là chỉ huy trưởng Công an vũ trang Hà Giang - nay là Bộ đội biên phòng) đến đàm thoại với Hoàng Quốc Chính;2, Thực hiện kế hoạch đưa ông Vương về Hà Nội an toàn.

Là lần đầu tiên tiếp xúc với Việt minh, nên Chính chuẩn bị cho thật “chu đáo”. Hắn tổ chức tiệc tại thị xã Hà Giang cho mời quan quân, tướng lĩnh của quân Tưởng Giới Thạch đến dự. Sự bày binh bố trận cho hoành tráng là để thị uy cán bộ Việt minh. Lúc này, ông Vương Chí Thành từ Đồng Văn đi Hà Nội đang dừng chân nghỉ ở nhà riêng tại thị xã ở đầu cầu bên kia cầu thị xã Hà Giang. Từ lâu đã nghe tiếng  ông Vương nhân dịp may này hắn mời ông cùng dự tiệc nhằm vào 2 mục đích: Phô trương lực lượng uy hiếp ông Lâm và lấy lòng, lôi kéo ông Vương. Ngăn cản không cho ông Vương về Hà Nội, và âm mưu giết cho được ông Vương. Hắn bốc phét có lực lượng tới mấy trung đoàn, rồi nói với ông Vương: “Hiện nay Việt minh đang bắn giết khắp nơi, bác đừng đi vội. Để khi nào tôi dẹp yên bọn đó thì tôi với bác cùng về Hà Nội”. Nhưng thực chất hắn đã nảy ra ý định và có kế hoạch cho người phục kich giết chết ông Vương rồi vu cho Việt minh.

 

Trong bữa tiệc, hắn giới thiệu ông Lâm với ông Vương, có ý phô trương là quân mình rất mạnh nên Việt minh phải lên đàm phán. Động thái này không che mắt được ông Vương. Ông tỏ ý nghi ngờ. Nhân lúc tan tiệc quân quan còn say sưa ồn ào, láo nháo, lộn xộn; ông Vương giả tảng ra bàn nứơc phía xa - nơi ông Lâm đang ngồi để uống nước. Ông hỏi nhỏ và nhanh: “Ông có đúng là người của Việt minh không? Ông Lâm nói đúng và hỏi nhanh: “Bác đang ở đâu? Tôi có thể gặp bác vào lúc nào?” Ông Vương bảo: “Nhà tôi ở ngay bên kia cầu. Cái nhà to cửa thẳng vào đầu cầu. Ông đến lúc nào cũng được”.

 

Để đảm bảo bí mật, bất ngờ. Sớm tinh mơ hôm sau khi sương còn đậm đặc không nhìn rõ người. Ông Lâm thức dậy vươn vai khởi động vài cái trước khi tập thể dục, rồi chạy thẳng sang bên kia cầu cách đó không xa. Bà Vương ra mở cửa. Ông chạy tọt vào phòng ông Vương khi ông Vương vẫn còn nằm chưa dậy. Ông bàn nhanh kế hoạch: “Tốt nhất là bác xin được giấy giới thiệu của tướng quân Tưởng chỉ huy Quân đoàn 52 đang đóng tại Hà Giang, nói là về Hà Nội để bàn bạc và giúp tướng Lư Hán. Có giấy đó, cho kẹo Chính cũng không dám ngăn, không dám đụng tới chân lông của bác. Bằng không, việc về Hà Nội bác đừng đi ngựa, vì rất nguy hiểm. Bọn Chính đang cố ngăn không cho bác xuống Hà Nội, nếu bác cứ cố đi nó sẽ phục kích giết chết bác. Chúng tôi đã lường trước tình huống này. Biết được đoạn nào bọn nó tăng cường lực lượng và đang phục kích. Chúng tôi đã có phương án bảo vệ bác. Bác lấy xe của thằng Kỳ mà đi”. (Kỳ là con một nhà giàu ở Hà Nội lên buôn bán ở Hà Giang - thân gia đình Ông Vương -  đang bị mắc kẹt vì chiến sự giữa Việt minh và Quốc dân đảng chưa về được Hà Nội).

 Ông Vương bảo: “Nhưng tài của nó sợ không dám đi”. Ông Lâm nói: “Bác cho gọi thằng tài Hồ dân nghiện thuốc phiện ở thị xã đến. Nó đang đói thuốc vì chiến sự bọn buôn lậu thuốc phiện không đến bán được. Bác cho nó hút thật đã, rồi biếu nó kha khá là nó đi ngay. Bác đi xe nó lái chỉ cần vượt ra ngoại vi thị xã đến cây số 17 - đường Hà Giang - Hà nội sẽ có người đón bác đưa bác về Hà Nội”. Cảm thấy chưa thật yên tâm, ông Lâm nhắc lại và dặn: “Cứ làm đúng như thế ông bác nhé!”

Nói xong ông tức tốc chạy qua cầu trở về thị xã. Sương vẫn giăng mù mịt. Cách vài bước chân là không nhìn rõ, phân biệt được ai với ai.Theo cách đó, ông Vương Chí Thành đã thoát ra khỏi thị xã Hà Giang bằng xe  của Kỳ do tài Hồ lái.

 

 

VUA MÈO VỀ HÀ NỘI

HOÀNG VIỆT HƯNG MẮC KẸT

 

    Theo đúng kế hoạch đã chuẩn bị chu đáo. Khi xe ông Vương đang từ từ chậm lại trứớc cây số 17, có một ông cụt tay cao lớn chạy tới chặn xe lại hỏi lớn: “Có phải xe của bác Vương đấy không?”. Tài Hồ bảo đúng. Ông cụt tay đứng nghiêm chào khi ông Vương bước ra khỏi xe. Rồi tự giới thiệu: “Tôi, Chu Phóng đại đội trưởng Việt minh nhận lệnh lên đón bác” rồi  đưa ông Vương vào một ngôi nhà dân gần đường. Đó là nhà một người Tày cơ sở cách mạng của ta. Khi ông Vương bước vào đã thấy ông Mai Trung Lâm ở đó. Ông Lâm đứng dậy chào hỏi, bắt tay rồi đưa ông Vương đến bàn nước. Sau khi hỏi sơ qua về sức khoẻ, ông Lâm hỏi: “Bác có mang bàn đèn đi không?”. Ông Vương bảo có. “Vậy thì bác lấy ra đi. Tôi tiêm thuốc cho bác hút”- ông Lâm vui vẻ nói.

Tại đây, ông Vương chuyển sang xe của Việt minh đi tiếp đến thị xã Tuyên Quang. Xe dừng, ông Lâm đưa ông Vương vào một ngôi nhà ven đường. Ông Trữ chủ tịch tỉnh Phú Thọ đã trực sẵn ở đó. Ông Lâm giới thiệu ông Trữ với ông Vương và bàn giao cho ông Trữ đưa ông Vương đi tiếp. Ông Trữ mang theo bảo vệ, sau khi thuốc nước xong xuôi, chia tay ông Lâm, ông đưa ông Vương qua Phú Thọ theo ngả đường về bến phà Trung Hà Sơn Tây để về Hà Nội. Từ đây là khu vực an toàn không có trở ngại nào nữa.

Về đến Hà Nội, ông Vương được ông Bùi Công Trừng - khi đó đang là Trưởng hay phó Ban Tuyên huấn Trung ương đón tiếp, lo chỗ ăn nghỉ cho ông Vương.

 

Quay lại sự việc Hoàng Quốc Chính phục kích nhằm vào ông Vương. Do biết được kế hoạch của Chính, Việt minh đã nghi binh đánh lừa được Chính, đưa ông Vương đến cây số 17 an toàn. Chính rất điên tiết, liền nghĩ ra kế hiểm. Hắn cho quân bắn tin đến tai cụ Vương Chính Đức rằng Vương Chí Thành đã bị Việt minh giết chết. Nghe được tin này, cụ Vương bán tín bán nghi. Những bài viết từ trước tới nay trên báo chí thường nói người Mèo thật thà, nhẹ dạ cả tin. Xin nói lại là người Mèo rất hay nghi ngờ, vì dân tộc họ đã nhiều lần bị lừa trong hơn 3 thiên kỷ chiến tranh đánh người hán - từ 1401 thời Thương Chu trước Công nguyên tới đời nhà Mãn Thanh cuối thế kỷ XIX. Để ăn chắc cụ Vương giữ ông Hoàng Việt Hưng (do Việt minh cử ở lại làm tham mưu, cố vấn cho cụ) quản thúc không cho đi đâu. Hoàng Việt Hưng giải thích rằng, đó là âm mưu của Quốc dân đảng nói xấu, nhằm chia rẽ ngưòi mèo với Việt minh. Rồi ông cam đoan: “Nếu Việt minh giết ông Thành thì các ông cứ lột xác tôi”. Ông đề nghị cụ Đức cho người về Hà Nội để kiểm tra, xác minh cụ thể. “Nếu thực sự ông Thành đã chết, tôi xin chết ngay trước mặt cụ”.

 

Vấn đề đặt ra là làm thế nào về được Hà Nội, và ai sẽ đi, bằng cách nào để tránh con mắt nhòm ngó của Chính? Ông Hoàng Việt Hưng giới thiệu với cụ Đức một người là điệp báo viên của tướng Tưởng chỉ huy Quân đoàn 52 đang tìm ngựa để về Hà Nội. Ông Hưng gợi ý cho hắn mượn ngựa, cử giám mã cưỡi ngựa đi cùng để chăm sóc ngựa. Bằng cách đó sẽ xuống được Hà Nội thực thi nhiệm vụ tìm gặp ông Thành. Ông Vàng Giống Sử giám mã của cụ Vương được cử đi. Về Hà Nội, ông Sử đã gặp được ông Thành ở 12 Hàng Ngang - là hiệu bánh khảo nổi tiếng Hồng Thái - nơi ông Thành đang nghỉ. Ông bà Hồng Thái là bạn hàng thân thiết với ông Thành.Vợ ông thường cất bánh ở đây đưa lên cửa  hàng tạp hoá của gia đình ông ở Phó Cáo để bán lẻ.

Gia đình ông bà Hồng Thái đã mở tiệc chia tay để ông Vương sang ở và làm việc với chính phủ. Xong việc, ông Sử vội quay về báo tin cho cụ Vương đang sốt ruột chờ đợi ở nhà. Trước khi rời Hà Nội, Bác Hồ giao cho ông Sử 2 thùng trà ướp sen (đặc sản của đất Thăng Long) nói là quà của Chủ tịch biếu cụ Vương để ăn tết Nguyên đán. Đồng  thời kèm theo bức thư báo con trai cụ đã về Hà Nội bình yên cùng  lời chúc tết của Bác. Tới khi ông Sử về đến dinh thự gia đình cụ Vương ở Sà Phìn ông Hưng mới được giải oan.

Về Hà Nội chưa lâu, Ông Vương biết tin Hoàng Quốc Chính và bè lũ quốc dân đảng đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Vậy Việt minh lấy lực lượng ở đâu, và diệt Chính thế nào trong khi quân của hắn còn khá mạnh? Để trả lời câu hỏi này cần diễn giải một chút. Số là, trong lực lượng của Quốc dân đảng ở vùng biên giới có 2 lực lượng theo 2 phái. Một phái “ tạp pí lù” không đựợc tổ chức chặt chẽ, không được huấn luyện thiếu kinh nghiệm chiến đấu, trung thành ôm chân Chính để cướp bóc kiếm lợi lộc. Phái kia do Ba Viên cầm đầu là lực lượng  lính khố đỏ từ bên kia biên giới mới về nước. Đội quân này có kỷ luật, chính quy, trang bị vũ khí đầy đủ và có năng lực chiến đấu. Ba Viên được biết cụ Vương mạnh như thế mà đã ngả theo Việt minh nên cũng có ý quy phục. Thấy thái độ Ba Viên cũng quyết tâm theo Việt mimh về với cụ Hồ, Mai Trung Lâm gợi ý: “Ông về với cách mạng là có lý và thức thời. Góp công, góp sức giúp Hồ Chủ Tịch cứu nước cứu dân rất đáng được hoan nghênh. Nhưng chẳng nhẽ về  tay không hay sao?”

 

Sau một hai đêm thức trắng suy nghĩ, Ba Viên cho gọi 2 quan một tên là Hải và Mai đến bàn việc. Phương án, kế hoạch binh biến, tác chiến được lên chi tiết thận trọng. Ba Viên cử Mai và Hải đến gặp Hoàng Quốc Chính bàn bạc phối hợp lực lượng đánh Việt minh. Được một lực lượng chính quy tham chiến còn gì mừng hơn. Chính khai chi tiết về lực lượng, dẫn Mai và Hải đi xem việc bố phòng.các địa điểm đóng quân và các hoạt động, canh gác của quân Chính. Cùng với dụng ý khoe lực lượng. Hải và Mai báo cáo đầy đủ với Ba Viên, đồng thời cùng nhau bàn kế hoạch thịt thật gọn quân Chính. Có thêm lực lượng, Chính đã mắc mưu Ba Viên nên chủ quan  không cảnh giác. Chỉ một hai hôm sau, nhằm vào yếu tố bất ngờ, Ba Viên đã khởi sự đưa quân đánh úp quân Chính. Đúng như kế hoạch, bè lũ Quốc dân đảng do Chính cầm đầu bị diệt gọn. Chỉ còn người duy nhất là Trịnh Đình Phách, người tày ở Cao Bằng chạy thoát.

 

                

XUNG QUANH CHUYỆN VUA MÈO Ở HÀ NỘI

VÀ CUỘC HỘI KIẾN VỚI HỒ CHỦ TỊCH

                                                                  

         Theo lệnh của Bác Hồ, ông Bùi Công Trừng đưa ông Vương đến biệt thự 51 Trần Hưng Đạo. Biệt thự này là nơi ở của vua Bảo Đại khi ông này được chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà mời làm cố vấn. Cũng là nơi ông sống với bà Bùi Mộng Điệp - người đẹp Bắc Ninh - bà  là  thứ  phi cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam. (Số nhà đó từ 10 -1957 là trụ sở báo Văn nghệ, hiện nay là trụ sở của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam).  Sau khi xem xét nội thất trong nhà, ôngVương đi vòng quanh nhà một lượt rồi không đồng ý ở đây. Ông cho rằng phố này vắng vẻ, ra vào dễ lộ mặt và không an toàn trong lúc ở thủ đô còn rất phức tạp. Ông Trừng lại xin ý kiến của Bác, xếp ông Vương ở Phủ chủ tịch cho ông yên tâm. Ông Vương từ chối và nói: “Các ông không phải bận tâm sắp xếp nơi ăn nghỉ cho tôi. Tôi tự lo được. Tôi về số nhà 12 Hàng Ngang - hiệu bánh khảo Hồng Thái là chỗ thân quen cho được tự do. Rồi ông sốt ruột hỏi khi nào thì được gặp cụ Hồ. Ông Trường bảo: “Bác đi đường xá xa xôi vất vả, cứ nghỉ vài ngày cho lại sức. Cụ Hồ lúc này bận nhiều công việc lắm. Tôi sẽ xin ý kiến cụ rồi bố trí để bác được gặp vào thời gian sớm  nhất”.

Đôi ba hôm sau ông Vương bị ốm. Ông không phải đi bệnh viện mà Việt minh cử bác sỹ đến thăm bệnh cho ông tại nơi ông đang ở. Bác sỹ vừa bắt mạch vừa dùng ống nghe, chuẩn đoán bệnh rồi chào ông ra về. Một hai tiếng đồng hồ sau có một người mang đơn và thuốc đến cho ông. Anh ta tự giới thiệu tên là Lý Quang Hoa người của Việt minh. Sau này ông Vương mới biết anh ta chính là Hoàng Văn Hoan (người đã làm tới chức Phó chủ tịch quốc hội phản bội chạy sang Trung Quốc sau này).

 

Trứơc khi nói về chuyện ông Vương hội kiến với Bác Hồ cần nhắc tới một nhân chứng trong cuộc gặp là ông Vương Quỳnh Sơn. Bà vợ cả của cụ Vương  Chính Đức sinh cho ông 2 người con trai: Vương Chí Tình và Vương Chí Thành. Ông Vương Chí Tình có một con trai là Vương Đình Quý. Ông Quý chỉ có một con trai là Vương Quỳnh Sơn. Ông Sơn gọi ông Thành là ông chú. Thời gian này ông Sơn mới 18 -19 tuổi. Việc ông có mặt ở Hà nội là do Việt minh giới thiệu ông vào học trường quân sự (sau khi được cụ Vương Chính Đức đồng ý). Đó là trường Lục quân Võ bị Trần Quốc Tuấn đóng ở phi trường (sân bay) Tông gần thị xã Sơn Tây. Cùng học khoá I còn có 3 thanh niên mèo nữa là ông Vương Quỳnh Anh - người anh cùng dòng họ với ông Sơn cũng do Việt minh giới thiệu. Hai thanh niên mèo khác là Dưong Mí Tường và Dương Mí Phụng do Việt nam cách mạng đồng mimh hội (Việt cách) giới thiệu. Việt cách không phá phách, phản động như Việt quốc (quốc dân đảng). Việt cách có thiện cảm và có xu hướng ngả theo cách mạng. Nhưng học đến giữa chừng thì Tường và Phụng đào ngũ chạy về theo quân Tàu Tưởng. Chính chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho ông Võ Nguyên Giáp, ông Giáp giao cho ông Trần Tử Bình là lãnh đạo của nhà trường dẫn anh em ông Vương Quỳnh Sơn vào trường. Ông Bình bố trí ông Sơn vào học lớp C.

 

Khi đã có lịch gặp chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Thành có ý nguyện cho  gặp cháu ông là Vương Quỳnh Sơn. Lúc ông Thành đến phủ chủ tịch đã thấy Bác Hồ ở đó. Bác đi xuống bậc thềm đến tận nơi tươi cười bắt tay ông Thành, chào hỏi thân tình rồi dẫn lên phòng khánh tiết Phủ chủ tịch. Khi đã an tọa Bác hỏi thăm sức khoẻ cụ Vương Chính Đức, gia đình ông Thành, quá trình ông đi đường, việc ăn ở trong những ngày qua có được chu đáo vv…Rồi trao đổi tình hình và việc giới thiệu ông làm đại biểu Quốc hội khoá I (6 - 01-1946). Trước đó, trong Tuần lễ vàng 4 -9 -1945, ủng hộ lời kêu gọi của chính phủ, ông Vương Chí Sình đã đóng góp 22.000 đồng bạc trắng và 9 cân vàng. Nên nhớ rằng khi giành được chính quyền ngân khố quốc gia chỉ có 1,2 triệu đồng tiền giấy rách nát. Chỉ trong Tuần lễ vàng  nhân dân đã đóng góp cho chính phủ 20 triệu đồng và 370kg vàng.

Theo ông Vương Quỳnh Sơn, bản tính ông Sình trung thực, đã hứa là làm nhưng ông kiệm lời, ít nói. Phong cách tiếp khách của Bác Hồ thì lại luôn thân tình, gần gũi - sao cho người đối thoại cảm thấy không có sự phân biệt cao thấp, kẻ trên người dưới. Nhưng ông Thành vẫn có sự e ngại, rụt dè. Ông luôn miệng gọi Bác Hồ là cụ. Có lẽ Bác Hồ thấy việc xưng hô như thế bất tiện và không được thoải mái, tự nhiên. Vì vậy đột ngột Bác hỏi: “Ông tuổi gì?”.Vương Chí Sình nói: “Thưa cụ, tôi tuổi hợi”. Ngẫm ngợi đôi phút Bác nói: “Vậy là ông hơn tuổi. Tôi phải  gọi  ông là  quan bác”. Bởi theo tiểu sử Hồ Chí Minh, Bác sinh năm canh dần 1890 - như vậy kém ông Sình 3 tuổi. Rồi Bác nói thêm: “Từ giờ trở đi đừng gọi tôi là cụ nữa. Chúng ta là anh em”.  Câu chuyện đơn giản chỉ có vậy. Sau này ông Sình còn kể lại nhiều lần với con cháu ông.

 

Cũng trong cuộc gặp gỡ này, Bác dặn dò, giao nhiệm vụ cho Vương Quỳnh Sơn làm công tác thanh vận. Sau khi tốt nghiệp trường sỹ quan lục quân, Vương Quỳnh Anh được điều về Bộ Quốc phòng làm phái viên. Vương Quỳnh Sơn trở về Đồng Văn vận động thanh niên Mèo tham gia cách mạng, rồi thành lập lực lượng vũ trang. Đầu năm 1948 Bộ quốc phòng quyết định thành lập tiểu đoàn chính quy mang phiên hiệu D.350 (còn gọi là tiểu đoàn Mèo - vì đại đa số là người mèo) trên cơ sở lực lượng vũ trang của ông Sơn. Và quyết định bổ nhiệm Vương Quỳnh Sơn làm Tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn D.350 trực thuộc Quân khu 10 - do tướng Bằng Giang làm Tư lệnh quân khu. Trong buổi ra mắt có sự tham dự của ông Tô Quang Đẩu Chủ tịch khu 10, ông Trần Đức Trung Chủ tịch Hà Giang, giám đốc sở công an. Được Bộ quốc phòng uỷ quyền, trong buổi ra mắt tiểu đoàn, ông Trần Đức Trung - Chủ tịch tỉnh Hà Giang đã trao thanh kiếm cho Tiểu đoàn trưởng Vương Quỳnh Sơn để thực thi nhiệm vụ

 

BÁC HỒ CẮT MÁU ĂN THỀ

 ĐỔI HỌ, TÊN CHO VUA MÈO?

 

      Sau cuộc gặp gỡ, ông Vương Chí Sình trúng đại biểu Quốc hội khoá I (6-1-1946) và được giao trọng trách Chủ tịch Đồng Văn. Bác còn cử ông Võ Khải Ca - phái viên của chính phủ - bên cạnh ông Vương làm tham mưu cố vấn giúp ông Vương quản lý mọi mặt ở địa phương. Đồng thời đổi lại tên châu Thường Kiệt, trả lại tên cũ là châu Đồng Văn cho đồng bào dễ nhớ, dễ gọi. Sau tham dự kỳ họp Quốc hội khoá I, ông Vương còn ở lại Hà Nội chơi qua giêng mới trở về Đồng Văn.

Về chính ngôn thì Việt minh giao phó trách nhiệm Chủ tịch hành chính Đồng Văn cho ông Sình (gồm 4 huyện núi đá: Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Mèo Vạc). Nhưng theo Thiết chế dòng họ của xã hội người Mèo thì cụ Vương Chính Đức vẫn là thủ lĩnh tối cao quyết định mọi vấn đề của người Mèo. Ông Sình chỉ là người thực thi nhiệm vụ theo ý kiến của thủ lĩnh. Cần nhớ rằng, khi ông Sình có gia đình riêng ông chuyển ra nhà riêng ở Phó Cáo và mở cửa hàng tạp hoá để mưu sinh. Trước khi Nhật đảo chính Pháp không lâu, ông Thành có mua chức Lý trưởng Nam triều để tiện làm ăn buôn bán. Ông cũng không nằm trong bộ máy tham mưu của bố ông.

 

Sau ngày Hồ Chủ Tịch kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) lúc này cụ Đức lâm bệnh nặng khó bề qua khỏi. Cụ viết thư nhắn chủ tịch Hồ Chí Minh cho người lên Đồng Văn để nhận bàn giao lại vùng đất của người Mèo. Ông Mai Trung Lâm lại được cử lên để tiếp thụ ý kiến cụ Vương. Khi ông Lâm lên tới nơi, cụ Vương triệu tập thủ lĩnh (người cầm quyền các dòng họ) về Sà Phìn để bàn thảo. Như trên đã nói, ông Sình dự họp với tư cách là người quản lý hành chính chứ không phải tư cách thủ lĩnh. Theo truyền thống của xã hội người mèo - không có tập tục cha truyền con nối. Ai giỏi nhất thì được tôn vinh làm thủ lĩnh - không phân biệt tuổi tác, nguồn gốc. Kết luận, cụ Vương giao ước với các dòng họ Mèo rằng: “Ông Mai Trung Lâm là người cụ Hồ cử lên thay mặt cụ. Từ nay mọi việc nhất nhất phải nghe theo ông Lâm. Như vậy là cụ Đức bàn giao đất Đồng Văn cho ông Lâm chứ không phải ông Sình.

Ông Mai Trung Lâm là người hoạt động ở vùng Mèo nhiều năm nên hiểu rõ về phong tục, xã hội người Mèo. Ông không thể chỉ đạo, thống lĩnh lượng vũ trang mèo một khi chưa được thủ lĩnh các dòng họ suy tôn, chấp thuận. Vì vậy ông giới thiệu ông Vương Chí Sình vào vị trí đó. Song cụ Đức không chịu. Cụ nói rằng: “Vương Chí Thành nó có tính khí đàn bà. Gặp việc lớn không dám quyết đoán nên không giao được. Nếu nó thống lĩnh lực lượng vũ trang các dòng họ dễ bị người ta lợi dụng danh nghĩa làm những chuyện không hay“. Người dân tộc nói như dao chém cây, khó lòng thay đổi được. Thành ra ông Lâm trong tình thế mắc kẹt tiến thoái lưỡng nan. Ông đành phải nhận. Song với vai trò, vị trí mới, sau khi tiếp thụ lệnh của cụ Đức, ông giao nhiệm vụ đó cho ông Vương Chí Thành. Nghĩa là ông vẫn là người chỉ huy cao nhất, là cấp trên của ông Thành, nhưng không đứng ra trực tiếp giải quyết mọi vấn đề của người Mèo. Phương án tế nhị, khôn ngoan của ông Lâm cuối cùng đã được cụ Vương chấp nhận. Trong không khí vui vẻ, phấn khởi ông Lâm kết nghĩa anh em với ông Thành ngay sau đó. Ông Vương Chí Thành cũng vui vẻ nhận thêm trọng trách mới, nhưng ra điều kiện: “Khi nào đánh Tây, đuổi Nhật xong ông trả lại đất Đồng Văn cho cụ Hồ”

 

Mấy tháng sau, vào đầu năm 1947 cụ Vương Chính Đức từ trần ở tuổi 82. Lúc này ông Thành mới chính thức là người chỉ huy cao nhất của các dòng họ Mèo, đồng thời lãnh trách nhiệm cao nhất về hành chánh ở Đồng Văn để lo toan công việc kháng chiến. Ông Vương Chí Sình còn có công lớn giải thoát cho thủ lĩnh các dòng họ mèo bị thực dân Pháp giam ở Hoả Lò năm 1936. Nhờ sự kiện đó ông có uy tín với các thủ lĩnh và họ phải mang ơn cứu mạng của ông, nên ông được thủ lĩnh các dòng họ tôn vinh như vua (sẽ có bài viết riêng về sự kiện này).

 

                                                   ***

 

Viết đến đây tôi xin phép được dừng lại để đề cập tới vụ nổi phỉ Đồng Văn năm 1959 có lên quan tới ông Vương Chí Sình. Như trên đã nói khi cụ Đức không trao quyền quản lý Đồng Văn cho con trai mình vì biết rõ ông Sình thiếu quyết đoán trong xử lý những công việc hệ trọng và dễ bị kẻ xấu lợi dụng. Điều này được chứng minh trong Vụ nổi phỉ nêu trên. Thực ra vụ việc này không phải ông Sình là người phát động và cầm đầu gây bạo loạn vùng biên giới phía bắc chống lại nhà nước ta như nhiều người lầm tưởng mà ông bị kẻ khác nấp dưới danh tiếng, lợi dụng uy tín của ông nhằm chia rẽ Kinh Mèo, phá hoại khối Đại đoàn kết dân tộc, gây khó khăn cho chúng ta trên con đường tự chủ xây dựng đất nước.Nguyên do chính là tại cán bộ cơ sở của ta không nắm vững những phong tục tập quán truyền thống của người Mèo, áp dụng máy móc trong việc thực hiện chính sách, cũng như thái quá trong ứng xử với đồng bào Mèo gây nên sự hiểu lầm không đáng có. Công tác dân vận thiếu sự khéo léo, nôn nóng, không kiên trì thuyết phục đồng bào. Từ cái sảy nảy cái ung không sớm có biện pháp giải quyết kịp thời dẫn đến tức nước vỡ bờ. Trong tình trạng căng thẳng đó có kẻ đã lợi dụng lôi kéo bà con Mèo tham gia phục vụ cho âm mưu thâm độc của chúng. Cao trào trong vụ này là một số cán bộ cơ sở của ta chết và bị thương Cơ quan an ninh đã đề xuất đưa lực lượng vũ trang vào trấn áp nhưng đã bị Bác Hồ phủ quyết. Bác quá hiểu về dân tộc Mèo và rất sáng suốt nhận định là trong việc này có bàn tay ngầm của người nước ngoài muốn phá hoại chúng ta. Bác chỉ thị cho các cơ quan chức năng và an ninh xuống với dân giải thích, thuyết phục để đồng bào hiểu rõ chủ trương chính sách của Đảng, đồng thời tìm cho ra kẻ cầm đầu và những phần tử quá khích. Chúng ta đã bắt giữ những đối tượng này. Điểm đặc biệt lưu ý là trong số 200 người bên kia biên giới, ngoài người Mèo có quan hệ dòng tộc với người Mèo ở Việt Nam còn có không ít người Hán (mà ông Vương Quỳnh Sơn gọi là Hán gian). Cơ quan an ninh đã phân hóa bắt được 2 thủ phạm cầm đầu chính trong vụ việc này là người bên kia biên giới. Sau khi kẻ cầm đầu người nước ngoài bị bắt giữ vụ việc được giải quyết êm thấm. Những người bị bắt giữ về phía Việt Nam do bị lôi kéo được học tập, sau đó phóng thích không phải chịu trách nhiệm hình sự. Còn số người thuộc Trung Quốc và 2 tên cầm đầu Bác cử cán bộ cao cấp sang làm việc và giao cho phía bên kia xử lý theo luật pháp của họ. Nên nhớ rằng công lao của ông Vương Chí Thành sau này được Chủ tịch nước Truy tặng Huân chương Đoàn kết dân tộc, còn ông Vương Quỳnh Sơn được tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng III.

                                                  

                                               *  *  *

 

Những tháng đầu năm 1947 và sau đó, tình hình thực tế diễn biến hết sức phức tạp. Các lực lượng thân Pháp, Nhật, Tưởng ở các tỉnh miền núi phía bắc tranh nhau lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin đi theo chúng. Đồng thời chúng gầm gè giữ miếng và xâu xé lẫn nhau. Để ngăn chặn quân Pháp đánh vào các khu căn cứ cách mạng,Việt minh đã tổ chức chiến dịch và một số trận đánh lớn. Ở địa phận Đồng Văn do Vương Chí Sình cai quản, các lực lượng thù địch vẫn không thể lấy được tấc đất nào. Đồng Văn đứng vững trước sóng gió của cuộc chiến. Để tạo thế “ỷ dốc” và khuếch trương thanh thế cho ông Vương, đe nẹt lũ cướp nước và bán nước,Việt minh phao tin rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cắt máu ăn thề kết nghĩa anh em với vua Mèo Vương Chí Sình. Rằng là cụ Hồ đã đổi tên cho ông Sình là Thành (theo tiếng Việt có ý chí và trung thành). Thậm chí còn nói đổi cả họ cho ông Thành theo họ của ông Hồ tức Hồ Chí Thành. Tin đó lan truyền nhanh như gió, râm ran thì thầm từ người nọ sang người kia, úp úp, mở mở. Điều đó còn ngầm cảnh báo rằng: Nếu bọn nào đụng vào ông Thành cũng tức là đụng vào ông Hồ. Như trên đã nói, trong thời gian này Việt minh đã mạnh lên, giáng những đòn đau vào quân Pháp, diệt ác trừ gian. Chiến cuộc đã chuyến dần sang thế chủ động có lợi cho Việt mimh.Vì vậy bọn chúng rất e nể, càng không dám quấy nhiễu, liều mạng đánh vào quân ông Sình, sợ Việt minh trừng trị.

 

Sau nhiều năm cùng cụ Vương Quỳnh Sơn bôn ba trên những chặng đường công tác, tôi đã hỏi cụ ít nhất là 2 - 3 lần về sự kiện ông Thành gặp Bác Hồ ở Hà Nội để xem cụ có sự nhầm lẫn nào chăng? Có phải như người ta đồn Cụ Hồ đã cắt máu ăn thề kết nghĩa anh em với Vua mèo Vương Chí Sình đặt tên, đổi họ cho ông?  Đến nỗi có một lần cụ phát cáu với tôi: “Tao là người trực tiếp có mặt ở đó. Nhầm thế nào được”. Rồi cụ mỉm cười đôn hậu: “Nhiều người chẳng hiểu biết gì về người Mèo và những phong tục tập quán lâu đời của họ, nhưng lại hay bày đặt ra những giai thoại. Kể nhiều thành quen tai cứ ngỡ rằng có thật. Những tin đồn đó chỉ có tính chính trị trong lúc bấy giờ mà thôi. Người Mèo chúng tao có những luật tục rất đặc thù. Giải thích thì dài dòng lắm. Bác Hồ là vị lãnh đạo cách mạng hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán dân tộc Mèo. Bác còn là người rất tinh tế, lịch lãm và sáng suốt lắm. Đâu có phải dân giang hồ hảo hán mà cắt máu ăn thề. Cũng làm gì có chuyện đổi họ, tên cho ông Vương. Cũng chẳng có lễ kết nghĩa anh em nào hết. Chỉ có một câu nói của Bác – “chúng ta là anh em” – mà sinh ra lắm chuyện rắc rối thế?  Câu chuyện gặp chủ tịch Hồ Chí Minh ông chú tao còn kể đi kể lại với con cháu (chính xác như tao đã kể với mày) sau này như một niềm vinh dự, tự hào của dòng họ Vương”.

 

 

KỶ VẬT BÁC  HỒ TẶNG VUA MÈO

HIỆN GIỜ Ở ĐÂU?

                                                                      

          Có rất nhiều bài viết trong các báo, tạp chí, trên mạng về kỷ vật Bác Hồ tặng vua mèo Vương Chí Sình. Thời gian trao tặng, người trực tiếp trao tặng, địa điểm trao tặng, hiện vật trao tặng…mỗi tác giả viết một khác nhau. Người nói trao tại cuộc gặp đầu tiên với Bác ở Hà Nội 1946, người bảo ở dinh thự Sà Phìn vào năm 1956. Tặng 1 hay 2 kỷ vật? nhưng chưa đưa ra được những chi tiết cụ thể của kỷ vật, hoặc thiếu, hoặc không chính xác. Âu cũng là chuyện thường, không ai đáng phải trách cứ. Chuyện quá khứ của lịch sử đôi khi có sai sót là chuyện khó tránh khỏi. Cần phải hoan nghênh tấm lòng của các tác giả muốn đóng góp để làm sáng tỏ sự thật.

 

Với tôi, người được tiếp cận và hầu chuyện cụ Vương Quỳnh Sơn, được nghe trưc tiếp từ cụ, tôi cố sắp xếp những gì cụ kể lúc này, lúc khác thành một tuyến tính cho dễ đọc. Không dám thêm bớt chi tiết, suy đoán, bình luận vào sự kiện. Trước hết, xin nói về kỷ vật. Theo cụ Vương, Bác Hồ tặng ông Thành 2 kỷ vật. Thứ nhất là chiếc áo trấn thủ. Chiếc áo đó may bằng vải ka ki ngoại của Pháp, dầy, chắc, màu vàng dịu. Cuối thân áo có thêu dòng chữ: “Hội phụ nữ Cứu quốc kính tặng”. Đường chỉ may trần theo ô quả trám có cải thêm sợi kim tuyến lóng lánh rất đẹp. Chiếc áo này Hội phụ nữ cứu quốc tặng Bác, nhưng Bác dành tặng lại cho ông Vương Chí Thành.

    Thứ hai là thanh đoản đao có cán dính liền với bản đao (không phải đại đao có cán dài như đao của Quan Vân Trường trong Tam quốc diễn nghĩa của tác giả Ngô Thừa Ân ) cũng không phải thanh gươm như các bài viết của các tác giả từ trước đến nay. Bản thân tôi cũng ngỡ ngàng khi nghe chi tiết này. Theo mô tả của cụ Vương, thanh đoản đao dài chừng trên 60 cm đến 70 cm một ít. Nơi bản đao rộng nhất to bằng bàn tay người lớn. Trông giống như chiếc mã tấu, hay giống như binh khí của tướng lĩnh, anh hùng hảo hán trong phim Tam quốc, Thuỷ hử của Tàu thời kỳ phong kiến. Cuối chuôi đao có đục một cái lỗ buộc sợi dây có gắn quả tua khá đẹp. Việc chế tác thanh đoản đao Bác giao cho xưởng quân giới của ông Trần Đại Nghĩa. Theo yêu cầu của Bác, xưởng quân giới chọn loại thép xanh nhíp ô tô vừa cứng, vừa dẻo để rèn. Không biết cụ Vương có lý tưởng, phóng đại hoá lên không? Cụ bảo nó ánh lên chất thép xanh sáng loáng và cực kỳ sắc bén. Để 1 sợi tóc vào lưỡi đao thổi nhẹ là sợi tóc đứt làm đôi. Vỏ đao được làm bằng gỗ tốt, có vân, không bị nứt nẻ bởi thời tiết và qua thời gian. Sau khi hoàn thành mang lên để Bác kiểm tra. Ngưòi vén tay áo viết vào 2 mặt vỏ bao 8 chữ nho. Một bên là “Tận trung báo quốc” bên kia là “Bất thụ nô lệ”. Bên dưới có chữ ký của Bác. Nét chữ rắn rỏi, chữ ký bay bướm rất đẹp.

Nếu bạn có dịp thăm dinh thự họ vương ở xã Sà Phìn, Đồng Văn sẽ thấy những chữ đó được khắc vào phiến đá mặt tiền phần mộ của Vua mèo Vương Chí Thành. Ảnh của ông ở giữa, hai bên ảnh mỗi bên 4 chữ. Khu mộ của dòng họ Vương nằm ở bên phải cổng vào dinh thự, dưới bóng mát của rặng Samu cổ thụ hàng trăm năm.

 

Điều tôi băn khoăn nhất là tại sao lại là thanh đao chứ không phải thanh bảo kiếm như mọi người thường nói và các bài viết thường trích dẫn?  Điều này được cụ Vương giải mã như sau: Trong lịch sử gần 3.000 năm chiến đấu chống các triều đại nhà Hán ( Hán tộc từ thời  Thương – Chu năm 1401 trước Công nguyên – bấy giờ vua mèo là Si Vưu, vua hán là Hiền Viêm – tới thời Minh Thanh Từ Hy Thái Hậu thế kỷ 19 ) người Hán luôn đánh vào vùng Mèo để giành vùng đất đai màu mỡ lưu vực sông Hoàng Hà - cái nôi của nền văn mimh Trung Hoa. Ngưới Mèo đã nhiều lần bị nhà Hán bội ước, lừa gạt, nhiều phen thua trận. Giặc Hán còn sát hại, tru di các dòng họ Mèo. Giết hết đàn ông ở nhiều vùng đất chúng cai trị nhằm đồng hoá tộc người Mèo. Nhưng ngưòi Mèo vẫn tồn tại với sức sống mãnh liệt và không chịu khuất phục. Mối thù truyền kiếp đó đến mức cực đoan. Người Mèo thường làm nhiều điều đối ngược với người Hán: Hán dùng môi bạc,thìa bạc - Mèo dùng bát gỗ, môi gỗ, thìa gỗ; Hán giỏi võ tay - Mèo giỏi võ chân (vì thế nên người mèo múa khèn - chứ không chỉ thổi khèn đặc biệt đôi chân rất dẻo).Thù sâu đến nỗi, khi chết đi người Mèo cho vào quan tài người chết một chiếc nỏ làm bằng ống trúc nhỏ bằng ngón tay (đặc biệt trong quan tài người chết không đượ cho một tí sắt nào vào). Với ý nghĩa, khi xuống thế giới tổ tiên – nơi “ trời lạnh, đất tối” – ma người Mèo tiếp tục chiến đấu giết ma Hán. Đến nỗi trong tục ngữ mèo có câu: “Lá chuối không là lụa, người Hán không là bạn”. Theo đó, vua chúa Hán dùng gươm - vua chúa Mèo dùng đao. Ở đây nếu có suy luận ra một chút thì ở chỗ, chứng tỏ Bác Hồ rất hiểu lịch sử dân tộc mèo mới tặng đao chứ không phải là kiếm?  Điều này với tôi là quá mới mẻ lần đầu được nghe. Tôi không thể chủ quan cho rằng ai đúng, ai sai? Sau này khi cụ Sơn mất, con trai duy nhất của cụ là Vương Duy Bảo là cháu vua Mèo – người từng làm vụ trưởng vụ Văn hóa dân tộc Bộ văn hóa thông tin, Giám đốc nhà viết văn Đại Nải –  cũng đã xác định kỷ vật đó là thanh đoản đao mới đúng.

 

                                                            ***

 

 Đầu năm 1949, cuộc kháng chiến 9 năm của dân tộc đã bước sang năm thứ 4. Quân cách mạng đã trưởng thành và lớn mạnh nhiều mặt. Các cuộc hành quân nhằm tiêu diệt các khu căn cứ địa cách mạng của Pháp thất bại - tiêu biểu là Chiến cuộc Đông xuân 1947. Pháp xoay sang mở chiến dịch đánh vào Cao Bắc Lạng. Khi đã nắm rõ ý đồ của địch ta mở chiến dịch Sông Lô. Chiến dịch chia làm 3 giai đoạn, bắt đầu từ 29 - 4 kéo dài tới 31 – 5 - 1949 mới kết thúc. Trong những năm trước đó tình hình diễn biến hết sức phức tạp. Pháp, Nhật, Tưởng và bọn thân chúng khi có cơ hội liên tục tấn công vào lực lượng của ta. Trong lúc loạn quân, loạn quan dải đất Đồng Văn vẫn được giữ vững  Để khích lệ biểu dương lực lượng vũ trang Mèo và công lao Vương Chí Sình trong mấy năm song hành cùng cuộc chiến đấu của dân tộc, Bác Hồ cử ông Võ Nguyên Giáp và ông Bùi Công Trừng mang tặng ông Vương hai kỷ vật đã nêu ở phần trên tại thị xã Hà Giang

 

“Vậy kỷ vật ấy hiện nay ai giữ, cụ có biết không?”. Cụ Vương Quỳnh Sơn bảo: “Biết mà không biết”. Lạ. Cụ giải thích: ông chú Sình có 3 cháu trai: Vương Đình Phú, Vương Đình Quang và Vương Đình Thọ. Ông Sình là em trai ông Vương Chí Tình thân sinh của cụ Vương Quỳnh Sơn. Theo đó Vương Duy Bảo người con trai duy nhất của cụ Vương gọi vua mèo là ông chú, cụ Vương gọi ông Sình là chú ruột. Năm 1990 Thọ nó xin phép nhà nước được xuất cảnh đi Ca Na Đa. Khi ông chú tao mất (1962) nó mới 4,5 tuổi gì đó. Năm nó đi định cư ở nước ngoài nó chừng trên 30 tuổi . “Thế còn thanh đoản đao”? Cụ cười buồn. “Về cái vụ này tao có đôi ba lần hỏi cơ quan chức năng. Nghe nói có cán bộ lên Sà Phìn hỏi mượn hay xin gì đó, bảo là để trưng bày ở bảo tàng. Chẳng rõ là ai, vì lắm cán bộ quá. Cũng chẳng thấy trưng bày ở bảo tàng nào. Chịu”. Thằng Thọ khi đi Ca Na Đa nó  nói là mang theo chiếc áo trấn thủ cụ Hồ tặng cha nó không nhắc gì đến thanh đoản đao. Bây giờ cụ đã thành người thiên cổ. Liệu có còn ai tâm huyết đi tìm kỷ vật có gia trị lịch sử như vậy? Thật tiếc thay!

 Không ai ngờ đầu thán 8 năm 2019 Vương Đình Xuân là con trai của Vương Đình Thọ về thăm quê Việt Nam. Xuân cho biết cha anh đã từ trần vào năm 2004. Được cha ủy quyền anh đã mang 2 kỷ vật cụ Hồ tặng ông nội mình hiến tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh. Báo Dân Trí đã đưa tin kèm theo ảnh 2 kỷ vật đúng như đã mô tả trong cuốn sách tôi viết có tên là: “Từ dinh thự vua Mèo đến tượng Nữ thần Tự do” trước đó vào quý 2 năm 2019 do Nhà xuất bản Công an nhân dân phát hành.( Chỉ có sơ xuất nhỏ là Báo Dân trí vẫn viết là thanh kiếm)

 

 

VƯƠNG CHÍNH ĐỨC MẤT CHỨC CHÁNH QUAN

VƯƠNG CHÍ THÀNH CỨU THỦ LĨNH MÈO

 

 Những thập niên cuối thế kỷ XVIII, thuốc phiện tràn lan khắp Trung Quốc huỷ hoại con người, xã hội, làm tê liệt nền kinh tế. Những năm đầu thế kỷ XVIII đế quốc Anh đã đưa giống vào trồng khắp các tỉnh vùng Hoa Nam Trung Quốc. Vùng đất phía nam rộng lớn này khí hậu và thổ nhưỡng rất thích hợp để cây thuốc phiện phát triển. Những nơi ấy không quá rét, đủ lạnh và độ ẩm để cây thuốc phiện nảy mầm và lớn lên. Mùa thu hoạch đủ hanh và nắng ấm không làm nhựa thuốc phiện kém chất lượng. Nguồn lợi thu từ bán nhựa thuốc phiện là rất lớn. Đế quốc Anh ngoài việc đưa nhự thuốc phiện bán ra thi trường thế giới còn mang tẩu đến dạy dân Trung Hoa cách hút thuốc phiện. Thuốc phiện trở thành món hút đầy ma lực với dân chúng, còn là mốt thời thượng của các quan lại triều đình phong kiến. Từ Hy Thái Hậu đi kinh lý nơi nào cũng không quên mang theo bàn đèn để hút thuốc phiện. Tính tới năm 1900 có tới hàng trăm triệu người Trung Quốc nghiện thuốc phiện. Cuộc chiến tranh nha phiến dai dẳng giữa triều đình Mãn Thanh và các thế lực đế quốc Phương Tây nhằm tranh giành nguồn thuốc phiện rất quyết liệt được kết thúc bằng Hiệp ước Thượng Hải vào năm 1842.

 Nhằm tiêu hao sức lực các dân tộc thuộc địa và thu nguồn lợi lớn cho mẫu quốc, Anh và Pháp ban hành chính sách thuốc phiện. Năm 1905, thuốc phiện thực sự trở thành hàng hoá. Cuối thế kỷ XVIII cây Anh túc từ Trung Quốc lan sang được trồng khắp các huyện núi đá Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ là vùng người Mèo sinh sống. Công ty Á phiện Việt Điền là sản phẩm của sự liên kết giữa Pháp và tỉnh trưởng Vân Nam Trung Quốc. Ngoài việc thu mua thuốc phiện thu lợi, công ty còn mang bàn đèn bán và dạy dân hút thuốc phiện  (không như những bài viết và nhiều người cho rằng từ cổ xưa người Mèo đã trồng và có tập quán lâu đời hút thuốc phiện ). Bộ máy công quyền được giao việc thu mua thuốc phiện của dân. Trong khi giá thị trường là 1 đồng bạc trắng/1 lạng cân tiểu ly (=37,5 gram), bọn tham quan bản địa o ép chỉ trả cho dân 0,5 đồng/1 lạng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến người Mèo nổi lên chống Pháp.

 

Trong 4 năm từ 1909-1913, quân dân Mèo đã đánh cho Pháp thiệt hại lớn về lực lượng.  Đồng thời những năm đó Pháp không thu mua được thuốc phiện, tổn hại lớn về kinh tế. Do đó, dẫn đến việc Pháp phải ký hiệp ước Mèo - Pháp tháng 10 -1913. Ngược lại, người Mèo trực tiếp bán thuốc phiện qua ngả Quảng Tây sang Hồng Kông tạo được thêm nguồn lực. Tới năm 1918 công ty Việt điền mới hoạt động trở lại. Chính quyền Nam triều do chúa Bảo lạc người tày Cao Bằng chỉ vâng dạ, nhưng vẫn ăn bớt, ăn xén của dân, đồng thời thực hiện chế độ cai trị hà khắc, lao dịch nặng nề. Chế độ hà khắc đó của thực dân Pháp và lũ quan lại sở tại không riêng ở vùng mèo Đồng Văn mà ở toàn cõi Đông Dương. Từ đó dẫn đến cuộc khởi nghĩa vũ trang của người Mèo quy mô toàn Đông Dương từ 1918 -1921 làm cho Pháp phải nhượng bộ. Sau ít lâu, chúng lừa bắt được Vương Chính Đức và thuộc hạ đem về giam ở nhà tù Hoả Lò. Tuy nhiên không ngăn cản được thủ lĩnh các dòng họ Mèo tiếp tục chiến đấu và đòi thả Vương Chính Đức. Để xoa dịu tình hình và lôi kéo vua Mèo, Pháp đành phải thả ông Vương, đồng thời phong cho ông chức Chánh quan mèo (nhiều tài liệu viết là chức Bang tá - chức này là mô hình cơ chế Pháp đặt ra ở vùng người Thái là người đứng đầu trong vùng). Đồng thời phải đưa ông vào làm thành viên của công ty Á phiện Việt Điền, cùng chia nguồn lợi từ buôn bán thuốc phiện

 

Tháng 7-1931, với quân số 300.000 người, gấp 10 lần quân của Mao Trạch Đông, Tưởng Giới Thạch đã trên thế áp đảo đánh cho quân Mao chạy dài. Ngày 18 – 9 - 1931, từ thủ phủ Nam Kinh, Tưởng cùng đoàn tàu hoả hành quân “bắc phạt” lên Giang Tây tấn công vào sào huyệt cuối cùng của Mao. Song cũng ngay tối hôm đó, vào lúc 10 giờ đêm quân Nhật nổ súng tấn công Shenyang thủ đô của Mãn Châu và một số thành phố lớn khác. Ngay hôm sau 19 - 9 - 1931 Tưởng nhận được tin Mãn Châu thất thủ, liền vội vã rút quân về lại Nam Kinh. Để ngăn chặn nguy cơ thuốc phiện làm mất sức chiến đấu của quân dân, năm 1932 Tưởng ra lệnh triệt phá cây thuốc phiện và triệt tiêu tệ nghiện hút dẫn đến cuộc đối đầu giữa dân và quân Tưởng. Hai bên đánh nhau quyết liệt vào mùa thu hoạch thuốc phiện.

 Bởi sự kiện này mà Công ty Á phiện Việt Điền lần nữa tan rã. Tuy nhiên, những đường dây buôn thuốc phiện lậu vẫn có con đường riêng từ Quảng Tây đi Hồng Kông. Người Trung Quốc dùng tiền đó mua vũ khí chống Tưởng, người Mèo ở Việt Nam mua vũ khí chống Pháp. Trong tình hình khó kiểm soát được vùng Mèo, năm 1936 trong phong trào Dân chủ vui vẻ trẻ trung, thống sứ Bắc kỳ tổ chức đấu xảo tại thị xã Hà Giang mời các dòng họ Mèo về dự. Rồi lừa hốt gọn các thủ lĩnh Mèo của Hà Giang và Lào Cai - trong đó có cha con Vương Chính Đức - mang về nhốt ở nhà tù Hoả Lò Hà Nội. Cũng trong thời điểm này Pháp cách chức Chánh quan của Vương Chính Đức. Nhưng để lấy lòng và lôi kéo bố con ông Đức, Pháp dành cho họ một đặc ân: Vương Chính Đức được quản thúc tại Phủ thống sứ, còn Vương Chí Thành được tại ngoại ở 12 Mai Hắc Đế Hà Nội (là ngôi nhà do ông Vương mua khi nào xuống Hà Nội thì nghỉ ở đó) để tiếp tế và làm liên lạc giữa Pháp hơn chục thủ lĩnh Mèo bị giam trong tù.

 

Lang thang trong một buổi nhàn cư, Vương Chí Thành đi xe lên sân Quần ngựa xem đua ngựa. Ông là người rất mê ngựa và giỏi xem tướng ngựa. Hứng chí, ông đã đặt cửa và thắng 8.000 quan tiền Đông dương. Hôm sau, Đờ mông Ba gia (trưởng phòng nhì mật tham Pháp ở Đông Dương nấp dưới danh nghĩa chủ sân Quần ngựa) đã cho người tìm  và mời ông đến đàm đạo về ngựa đua. Biết ông người Đồng Văn là con vua mèo Vương Chính Đức, trong đầu hắn đã hình thành một kế hoạch. Vương Chí Thành phàn nàn và trình bày với hắn việc Pháp bắt giam những thủ lĩnh Mèo vô tội, thiếu chứng cứ.  Đờ mông Bagia tỏ ra thông cảm với tình cảnh của cha con ông và ý muốn giúp đỡ. Hắn hứa sẽ bay về Pháp để xin chính phủ Pháp cứu xét. Nhưng ngặt nỗi không có tiền thuê máy bay. Sẵn tiền vừa có nhờ thắng đánh cá ngựa, ông Thành liền bỏ ra 8.000 quan để hắn thuê chuyên cỏ về báo cáo với chính phủ Pháp.

 

Hơn một tháng sau, Đờ mông Bagia quay lại mang theo lệnh của chính phủ Pháp tha bổng cho toàn bộ người Mèo đang bị giam tại Hà Nội. Theo chỉ thị của chính phủ Pháp, nếu có người chết trong thời gian bị giam giữ sẽ được bù đắp chi phí mang về quê chôn cất. Đồng thời Pháp cách chức các quan ba, quan tư pháp ở vùng Mèo có liên quan trong vụ bắt cóc. Trong văn bản, chính phủ Pháp cũng truyền đạt ý kiến là muốn hợp tác với người Mèo.

Như phần ở bài trước đã đề cập - chính nhờ công lớn cứu mạng các thủ lĩnh dòng họ Mèo mà Vương Chí Thành sau này mới được các thủ  lĩnh dòng họ tôn vinh bầu làm thủ lĩnh tối cao thay cha ông. Còn trước đó ông chỉ là người thực thi lệnh và kế hoạch chiến đấu của Vua mèo Vương Chính Đức - mặc dù ông từng chỉ huy nhiều trận đánh nổi tiếng, thắng lợi lớn trước quân Pháp và quân Nhật.

 

 

 

 

DINH THỰ VƯƠNG

NƠI Ủ PHÂN THÀNH LINH ĐỊA

 

Sau những cuộc chiến liên miên chống tàn dư quân Cờ đen, quân Pháp. Có lúc đã phải nếm thất bại lui vào rừng sâu chiến tranh du kích tới 4 năm 1909 - 1913. Sau hiệp ước Pháp - Mèo 10 - 1913 mới được yên bình. Có một thuộc hạ của Vương Chính Đức tên là Cư Trồng Lù giữ chức Bách trưởng (đứng đầu chỉ huy 100 lính do Vương đặt ra phiên chế trong lực lượng vũ trang Mèo) hiểu biết về phong thuỷ gợi ý thủ lĩnh nên thay đổi nơi ở. Theo ông Lù nơi đang ở chân núi cao, cạnh hẻm núi không hợp tuổi vua Mèo, không lợi cho hậu thế lâu dài. Nghe ra, họ Vương đã đi tìm thầy giỏi thiên văn, địa lý và thuật phong thuỷ từ bên Tầu về xem đất để gây dựng cơ nghiệp.

Được một quan quân Tưởng giới thiệu có người Hán tên là Trương Chiếu có tài trên thông thiên văn, dưới thông địa lý ông Vương rất mừng vui. Ông sai thuộc hạ mời bằng được thầy địa lý về xem đất giúp. Trong những ngày ở nhà họ Vương thầy Phong  Thủy được trọng vọng, khoản đãi chu đáo. Cuối cuộc khảo sát, thầy đã tìm được nơi đắc địa - đó là một thung lũng nhỏ, ở giữa những dãy núi cao có hình mai rùa - một trong tứ linh theo phong thuỷ. Hiện trạng lúc đó, nơi này chỉ để chăn nuôi, nhốt súc vật lấy phân. Toàn khu mai rùa trồng chè nên có tên mèo là T´Sùa Phình theo tiếng Mèo - nghĩa là bãi trồng chè  (mọi người thường đọc là Sà Phìn). Theo thầy phán nơi đây có vượng khí của bậc đế vương. Xây dinh luỹ ở đây đảm bảo trọn vẹn 2 chức năng công, thủ. Những cung núi dựng đứng xung quanh chỉ có con đường nhỏ độc đạo sẽ ngăn quân thù giáp công 4 mặt. Khi tấn công quân thù khó thoát bởi nghĩa binh Mèo thông thạo các đường ngang ngõ tắt trên các triền núi, di chuyển cơ động chặn và tiêu diệt kẻ thù dễ như trong lòng bàn tay. Dinh thự trên lưng thần Kim quy là biểu tượng của sự vĩnh cửu. Hai ngọn núi phía bắc nhô lên như 2 mâm xôi là sự đầy đặn, no đủ. Thế núi bao quanh là sự vững chãi, sâu rễ, bền gốc mãi về sau.

 

Nhân đây, cũng kể thêm một chút về chuyện này. Có lần tôi cùng cụ Vương Quỳnh Sơn công tác ghé qua dinh thự, rồi đi xuôi xuống xã Lũng Táo 13km nữa để  thăm bà thím của cụ đang sống ở đó. Khi xe chạy vòng lưng núi chuẩn bị đổ dồc xuống dinh thự, cụ bảo tài Dự dừng xe nơi đối diện với 2 ngọn núi phía bắc. Vừa đứng hút thuốc cụ vừa nói: “Hai quả núi kia ngoài chuyện như thầy Tầu phán là hai mâm xôi thể hiện sự no đủ, nó còn che chắn mặt bắc cho dinh thự. Hồi chiến tranh biên giới bọn Tầu nó câu không biết  bao nhiêu là pháo 105 ly sang đất ta. Thế mà không có quả nào rơi vào thung lũng. Tất thảy đều vượt qua thung sang nổ ở mãi chân núi đằng kia. Các cụ ghê thế đấy”.

Nhằm lúc cụ đang phấn chấn, với kiến thức “phọt phẹt” ăn trộm từ sách phong thuỷ, tôi tán dương thêm vài lời.  Đầu cụ gật gật ra vẻ tâm đắc lắm. Thừa thế xông lên, tôi “thỏ thẻ” hỏi cụ: “Con có đọc một số bài báo, nghe vài người kể lại nhưng không rõ thực hư ra sao về thời điểm, thời gian và quá trình xây dựng dinh thự. Có người nói chắc như đinh đóng cột rằng xây vào năm 1914, rằng kéo dài tới 8 năm?”. Cụ cười hóm hỉnh với câu nói muôn thuở: “Kệ cho chúng nó sai. Ngay cả thằng cháu tao cử nhân làm ở Viện xã hội gì đó còn viết sai. Tao cũng không nói cho nó biết. Nhớ có đôi lần tao đã nói cho mày nghe về cuộc chiến Pháp - Mèo 1909 - 1913 dẫn đến ký hiệp ước đình chiến vào tháng 10 - 1913. Bấy nhiêu năm lúc ở rừng sâu, lúc ra trực diện công, thủ liên miên, lo cái ăn, súng ống đạn dược lấy đâu ra tiền mà xây dựng khi cuộc chiến vừa mới ngưng. Mà xây gì mà những 8 năm? Dinh thự thực ra có to tát gì lắm đâu. Có thể bọn viết tính từ khi cụ Đức nhà tao vừa chuyển về nơi đó chăng?”.

 

Theo cụ kể, khi thầy Tầu xem xong đất, đâu đã bắt tay xây ngay. Ban đầu chỉ làm một ngôi nhà trình tường, mái ngói chắc chắn đủ chỗ ở cho gia quyến và người giúp việc cho các cụ.  Đó chính là  nhà cấp thứ 2 ở giữa ( mà bọn nó gọi là trung dinh). Sau nhà cấp 1 phía trước và trước nhà cấp 3 cao nhất là nơi cụ Đức ở. Nguyên bản của cấp nhà giữa này tường trình đúng như hiện nay. Từ khi chuyển về ở, nương chè bị phá dần đi. Thay vào đó cụ Vương cho trồng ngô và rau màu phục vụ cho sinh hoạt đời sống của gia đình và những người phục vụ. Vì địa thế Sà Phìn độc lập cách xa nơi dân cư cần đề phòng khi có sự trắc trở cơ nhỡ về lương thực, thực phẩm.

    Sau cuộc chiến Pháp - Mèo nổ ra trên toàn cõi Đông Dương từ 1918 - 1921, Pháp, Tưởng liên kết tấn công vùng Mèo bắt được Vương Chính Đức. Tuy nhiên chúng không dám làm hại ông, vì quân dân mèo dưói sự chỉ huy của Vương Chí Sình vẫn kiên cường chiến đấu, đốt phá đồn bốt của Pháp, vừa đòi Pháp phải thả thủ lĩnh. Trước tổn thất và nguy cơ bị đẩy khỏi vùng núi đá, Pháp buộc phải thả Vua mèo, đồng thời đưa Vương Chính Đức làm đại diện của người Mèo trong Công ty Á phiện Việt Điền chia nguồn lợi lớn trong buôn bán thuốc phiện như trên đã nói.

Nhờ nguồn thu từ thuốc phiện không còn bị ép giá, ăn chia tỷ lệ công bằng hơn mà họ Vương được hưởng lợi lớn đến nỗi phải xây hầm chứa thuốc phiện dự trữ. Ngoài ra, để ủng hộ vua Mèo xây dinh thự một số thuộc hạ và dân mèo tự nguyện cung tiến  thêm nguồn lực cho họ Vương. Từ cơ sở dãy nhà 2 tầng có sẵn ở giữa, cụ Vương cho phát triển ra phía trước và phía sau tạo thành 3 cấp nhà khép kín. Xây thành bằng đá bao quanh và các phòng chức năng khác nhau trong dinh thự. Dinh thự được xây và hoàn thiện trong 4 năm, từ 1923 - 1926. Giai đoạn này cũng là thời kỳ Vương Chính Đức phất lên giàu có nhất. Thuốc phiện giúp xây dinh, giúp có nguồn lực nuôi dân binh, mua sắm vũ khí đạn dược chuẩn bị cho mưu kế lâu dài trong cuộc chiến đấu với quân Pháp, Tưởng, Nhật sau này.

 

Rồi cụ nói thêm: “Riêng chuyện cái anh thuốc phiện nhiều chuyện kể cả tháng cũng không hết. “Nó” vào xứ ta khi nào? Nó thành tệ nghiện hút từ bao giờ. Mặt trái mặt phải của nó. Công và tội của nó. Khi thuốc phiện trong tay thực dân đế quốc, phong kiến nó nhằm mục đích gì và diễn biến ra sao? Khi thuốc phiện về tay chính quyền Nhà nước Việt Nam sử dụng nó làm gì? Nhà nước Trung Quốc cho trồng rất nhiều,sử dụng nó và nhằm mục đích gì...? Lắm chuyện bọn mày chưa bao giờ  được biết, được nghe đâu. Hôm nay tao hơi mệt rồi, để lúc khác”. Tôi nghé mắt sang đã thấy cụ ngả đầu vào lưng ghế nệm và phát ra tiếng ngáy đều đều.

                        

            

DINH THỰ VƯƠNG - CẦU KỲ VÀ TỐN KÉM

 

Việc xây dinh thự, theo cụ Vương Quỳnh Sơn là do Tống Bạch Giao người Hán - là Tướng biên cương dưới trướng tư lệnh Long Vân của Tưởng Giới Thạch ở Vân Nam giúp đỡ. Là chỗ quen biết nhau, vì Bạch Giao cùng có chân trong Công ty Á phiện Việt Điền với ông Vương. Tống giới thiệu với ông Vương hiệp thợ người Hồi giáo vốn nổi tiếng về xây đền đài, cung vua, phủ chúa của Đạo Hồi. Khi ấy họ đang sinh sống ở vùng Tiên Uy, huyện Lục Nương, tỉnh Vân Nam Trung Quốc.

 Nhân đây cắt ngang mạch viết, cung cấp cho bạn đọc một thông tin thú vị về vị tướng Hán này. Sau này vào năm 1932 khi đã làm chủ tình hình, Tưởng đánh cho quân của Mao thua liểng xiểng. Để chấn chỉnh quân ngũ, Tưởng ra lệnh cấm trồng cây thuốc phiện và tệ hút thuốc phiện.Vì thế công ty Á phiện Việt điền lại tan vỡ. Số thuốc phiện phía Trung Quốc (trong đó có cả của người Mèo vùng cao giáp biên) - mà Tống làm đại diện - bị Pháp không chuyển tiền trả. Chính Tống đã lừa Vương Chí Thành (người được cha giao cho việc giao dịch,buôn bán) và Ngô Chính Tường sang Vân Nam bắt giữ lại và đòi phải trả thay cho Pháp. Lúc này giá thuốc phiện đã tới 5 đồng bạc trắng/ lạng. Họ Ngô và họ Vương phải vét thuốc phiện của gia đình và huy động trong dân cho đủ 18 thồ (tính theo đơn vị ngựa thồ=74kg) nộp cho Tống mới được thả về.

 

Trở lại chuyện xây dinh. Theo cụ Vương Quỳnh Sơn, thời gian này các dòng họ thủ lĩnh vùng cao giàu lên nhờ thuốc phiện nên thi nhau xây nhà to, dinh đẹp. Ngoài họ Vương còn có họ Ngô ở Lùng Chá Tổng, họ Ngô nữa ở Cẩu Phì Lũng đều ở Sà Phìn. Họ Cổng người Pu péo ở xã Phố Là. Họ Dương ở Mèo Vạc xây dinh dưới chân núi Đen xã Sản Pả…Dinh thự họ Vương ở Sà Phìn chưa phải là to đẹp nhất. Nổi tiếng nhất trong chuỗi dinh thự phải kể đến lâu đài của thủ lĩnh Dương Tụ Nghĩa ở Sủng Chà, Mèo Vạc do hiệp thợ từ châu Vân Sơn,Vân Nam xây. Quanh lâu đài có hồ nước treo trồng sen, thả cá (vậy mà tới 70-80 năm sau các nhà khoa học Việt Nam mới làm nổi hồ nước treo phục vụ cho đồng bào ở 4 huyện núi đá Hà Giang). Lâu đài họ Dương đã bị đập phá san phẳng. Nhưng nền lâu đài vẫn còn và một số hậu duệ của Dương Tụ Nghĩa vẫn sống quanh khu vực đó.

Dinh thự họ vương được xây dựng theo tiêu chí và yêu cầu của Vương Chính Đức. Trước hết phải đảm bảo được chức năng phòng thủ. Vì vậy tường thành bao quanh được xây bằng các phiến đá to, gắn xi măng chặt, khít, cao, chống được đạn bắn vào. Tường dày từ 60 -80 cm, cao từ 2,5- 3m. Hai chòi gác bằng đá xanh ngự trên hai góc tường thành sau của hậu dinh có lỗ châu mai, tầm quan sát rộng dễ phát hiện kẻ đột nhập từ 2 bên và phía sau. Khu dinh thự trình tường dày truyền thống của người mèo cũng là một biện pháp phòng thủ, đạn súng trường bắn không xuyên qua được.

 Toàn bộ khu dinh thự gồm 3 cấp nhà khép kín dài 46m, rộng 22m, ngoài cổng dinh có lính túc trực 24/24 giờ canh gác nghiêm ngặt. Tiêu chí thứ 2 là phải tiện ích. Các cấp nhà, các phòng phải phù hợp với đối tượng sử dụng, sinh hoạt. Có kho lương thực dự trữ, hầm chứa thuốc phiện, hầm chứa súng ống đạn dược. Bể lớn có dung lượng 300 mét khối hứng nước mưa đủ dùng quanh năm. Các phòng trong cấp nhà đầu tiên dành để tiếp các dòng họ, quân dân các địa phương đến tụ họp, ăn uống, nghỉ ngơi. Cấp nhà thứ 2 cao dần lên là nơi ở của các bà vợ, con cái, người hầu hạ gia đình vua mèo. Tầng trên tiếp quan Tây, quan ta (sau này là nơi làm việc của UBND xã Sà Phìn). Cấp nhà thứ 3 đã dần cao lên đến 10m so với mặt bằng trước cổng dinh là nơi ở và để Vương Chính Đức ngồi xử tội phạm, bàn chuyện cơ mật trong bộ tham mưu. Tiêu chí thứ 3 là tính mỹ thuật. Kiến trúc có sự pha trộn giữa phong cách thời nhà Thanh Trung Quốc với nhà truyền thống của người Mèo và ít nhiều của kiến trúc pháp trong một tổng thể khá hài hoà. Sự pha trộn đó được thể hiện trong vật liệu (đất, đá, gỗ, sắt thép, ngói lợp); trong trạm khắc đá, gỗ trên viên tảng kê cột nhà, phù điêu đá gắn tường, các đầu đao, cánh cửa, chấn song, lan can, tủ, bàn, vách gỗ ngăn các phòng vv…đều được trạm trổ tinh xảo, cầu kỳ hình Long Ly Quy Phượng, hoa lá thể hiện sự phồn thịnh, quyền quý của bậc đế vương.

   Đặc biệt có nhiều hình hoa và quả thuốc phiện trên phù điêu và tảng kê chân cột. Có lẽ vua Mèo muốn tri ân với cây thuốc phiện - nhờ nó mà ông giàu có và xây được dinh thự. Tiêu chí thứ 4 là bền vững, lâu dài. Đá xanh vĩnh cửu, gỗ Samu (tức thông núi đá  mà nhiều người viết nhầm là gỗ Pơmu) có độ cứng, nhiều nhựa nên không bị nứt nẻ, mối mọt. Ngói máng âm dương nung cứng như sành lên nước ghi xanh có thể chống được mưa đá to bằng ngón chân cái (thường xảy ra ở vùng cao núi đá) đều được mua vận chuyển từ Vân Nam sang. Thực tế việc mua và chuyển, chế tác vật liệu là khâu tốn kém nhất. Hơn 300 thợ Hồi giáo và hàng trăm thợ Mèo khéo tay được tuyển dụng đã ròng rã nhiều năm mới hoàn thành được công việc này. Cuối cùng là gần 100 cây Samu đang trưởng thành được bứng từ Trung Quốc chuyển về trồng ngoài tường thành, tạo nên một cảnh quan xanh mát, đẹp mắt - nay đã có tuổi hàng trăm năm, thân cỡ hơn một người ôm, cao vút chọc lên trời xanh.

 

Những gì đang hiện hữu của dinh thự, nhiều ngưòi đã biết, đã được mô tả chi tiết trong hàng trăm bài viết tôi không có ý muốn nhắc lại. Tôi chỉ đề cập đến những điều bạn đọc chưa biết, và chỉnh lại một vài điều chưa đúng. Theo cụ Vương Quỳnh Sơn toàn bộ dinh thự xây tốn hết non 15.000 đồng bạc trắng (nhiều bài viết lại nói 15.000 đồng bạc Đông dương - quan tiền Đông dương). Riêng bể chứa nước mưa tốn 800 đồng, tường đá vây quanh dinh thự tốn gần 1000 đồng, 2 lô cốt phía sau mất 700 đồng…

Hai bên cửa tiền dinh có câu đối: “Gia tính thiện nhân hiền xuất nhập – Môn trọng người hào kiệt vãng lai” nghĩa là: “Nhà quý người hiền ra vào – Cửa trọng kẻ phong lưu lui tới”. Đến năm 1938 Pháp xóa bỏ chế độ không cho người Mèo tự quản. Họ yếu cầu ông Vương Chính Đức gỡ bỏ câu đối không cho chiêu hiền nạp hiền sỹ. Giữa tiền dinh còn có tấm biển đỏ chữ sơn son thếp vàng mang dòng chữ nho: “Biên chính khả phong” nghĩa là “Chính quyền biên cương vững mạnh” được nhà Nguyễn năm Khải Định thứ 13 phong tặng –nó được quan nhà Nguyễn trân trọng mang từ Huế ra và treo lên. Cụ Vương Chính Đức còn được ban thẻ bài làm bằng ngà voi, được cấp áo mũ tấn phong cho ông làm quan của triều đình.Về phía chính quyền Nhà nước ta ông được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết truy tặng Huân chương Đại đoàn kết Dân tộc năm 2006.

Điều xin nói thêm ở đây là, có tài liệu, người kể rằng việc xây dinh thự bố con Vua mèo bắt phu mèo phục dịch, bóc lột sức lao động và đối xử tàn tệ là không đúng. Để cho khách quan, người viết không dẫn lời cụ Sơn, mà lời kể của ông Vừ Mí Kẻ - là người làm công cho gia đình họ vương từ năm 15 tuổi. Sau này ông kế chức chủ tịch Đồng Văn khi ông Sình nghỉ hưu. Ông Kẻ đã chứng kiến cách cư xử nhân tình của họ vương với mọi người, cơm nước tử tế, công sá sòng phẳng. Ông Vương tính cách ôn hoà gần gũi với người làm công, người phục vụ cho gia đình được mọi người nể phục, kính trọng.

 

 

LŨNG CÚ HAY LONG CỔ ?

 

Vừa rồi tôi có chuyến đi Hà Giang, nhân thăm lại Lũng Cú. Trạm biên phòng giờ khang trang.  Đào, mận xanh um quanh những mái ngói đỏ tươi. Cột cờ sừng sững trên núi Rồng có đường bậc thang dẫn lên bằng thép chắc chắn. Đứng trước cửa trạm, tôi cố tìm vị trí chiếc cột cờ năm xưa ghép bằng hai cây luồng trước sân trạm cũ ( Tôi đã viết trong phóng sự: Trăn trở Đồng Văn ). Hỏi một sỹ quan biên phòng trẻ, anh cười thiện chí: “Em mới về không rõ chuyện trước đây.”

 

Ờ nhỉ! Đã 15 năm rồi còn gì. Ấy là vào dịp áp tết Nguyên đán 1996 tôi có chuyến công tác cùng cụ Vương Quỳnh Sơn - cháu ruột vua Mèo Vương Chí Sình - đi nắm tình hình vùng dân tộc Mông (cụ Vương cứ thích gọi là dân tộc Mèo mặc dù Nhà nước đã quy định gọi là Dân tộc Mông). Ghé vào thăm và trao quà tết cho anh em biên phòng ở trạm. Bấy giờ trạm đơn sơ lắm. Có một nếp nhà 3 gian, mái tranh, tường đất trình theo kiểu nhà người Mông làm nơi tiếp khách. Song song với nó là nhà ngang 5 gian mái lá, tường đất thấp lè tè dùng làm bếp ăn và nơi ở của 7 cán bộ, chiến sỹ của trạm do chuẩn uý Lâm làm trạm trưởng.

 

Trên đường về tôi hỏi cụ Vương, từ đâu có cái tên Lũng Cú hay thế. Cụ cười buồn mà rằng: “Hay ho gì. Sai bét”. Tôi chưa hiểu gì thì cụ đã lên tiếng: “Ngày xưa vùng đất này có tên là Long Cổ. Đâu phải là Lũng Cú như bây giờ. Trước thời vua Quang Trung vùng đất này do thủ lĩnh người Lô Lô nắm giữ, khi đó còn hỗn loạn các thủ lĩnh dân tộc tranh giành nhau quân của triều đình không quản lý được. Sau khi vua Quang Trung thống nhất đất nước có cho lập một trạm biên phòng cách trạm hiện nay chừng 200m về phía tây duới chân núi Rồng. Đồng thời ban cho trạm một chiếc trống lớn, trên mặt trống có vẽ 2 con rồng chầu mặt trời - gọi là long cổ - tức trống có rồng. Mỗi khi có giặc lăm le bờ cõi, trạm biên phòng sẽ thúc trống và đốt lửa làm hiệu, đồng thời cho ngựa trạm chạy về phía sau 13 km là xã Lũng Táo hiện nay (mà cùng thời kỳ với Long Cổ gọi nơi này là Long Đao) – nơi  hậu cứ của trạm là đồn ( nay là đồn biên phòng Má Lé ) quân số đông, có đầy đủ vũ khí, hậu cần khẩn trương lên tiếp viện. Với vinh dự này dân sở tại lấy luôn tên trống vua ban làm tên vùng đất của mình. Cũng đã có người viết rằng: Lũng Cú là đọc “trại” của từ Long cư ( nơi rồng ở). .Người lại viết Lũng Cú nghĩa của chữ Mông là thung lũng trồng bắp (ngô). Cứ thế mà suy thì (xã) Lũng Táo hẳn là trồng nhiều táo?

                                            

Đợt công tác này tôi cùng cụ Vương đến làm việc với UBND xã Lũng Cú. Thung lũng phía trước Ủy ban xã mênh mông toàn là cây cải dầu hoa vàng rực, và những vạt đậu Hà lan xanh thẫm. Xin nhớ cho là, những nơi đất tươi tốt, độ ẩm tốt người Mèo dành trồng rau màu. Ngô trồng trên các hõm đá, trên các nương bậc thang lưng chừng núi đá. Vẫn ấm ức chuyện cụ nói, tôi sốt ruột hỏi:“Vậy nguyên cớ gì lại có sự đổi tên như vậy? ”. Cụ thủng thẳng giải thích: “Chả là trước Cách mạng tháng 8  một cán bộ Việt minh lên vận động cách mạng không biết cái tên Long Cổ truyền miệng trong dân gian, đã theo cái tên  xa xưa mà người Mèo dựa vào một truyền thuyết tự gọi là Long cư nơi rồng ở có núi  Rồng đấy. Trong văn bản của người Pháp ghi là Long cu (vì chữ pháp không có chữ Ô và Ư đọc chệch một tý là ra lông cu). Ông cán bộ thấy cái tên này không được sạch sẽ lắm nên chuyển thành Lũng Cú - với lời giải thích là thung lũng có nhiều cú mèo (không hiểu ông có ý tứ gì hay ngẫu hứng mà đặt thành cái tên kỳ lạ như vậy). Người dân tộc chất phác, hiền lành. Thôi thì cán bộ đã nói thế thì theo thôi. Chẳng thắc mắc gì. Gọi lâu thành quen. Rồi cũng chẳng có ai truy nguyên, xem xét lại. Xã hội bề bộn bao điều phải lo giải quyết. Ba cái vụ nhỏ xíu, lẻ tẻ đó cho qua luôn.

 

Tranh thủ thời gian, tôi lướt gặp đôi ba cụ nguời mông cao tuổi gần đấy chỉ với câu hỏi duy nhất rằng: “Thung lũng quê mình có nhiều cú mèo phải không ạ?” Các cụ cười bảo: “Từ thời tổ tiên chúng tôi chưa hề thấy con cú mèo nào ở đây. ”Thế đấy! Một cái tên hào hùng có giá trị lịch sử và ý nghĩa bỗng trở thành một cái tên có nguồn gốc mơ hồ và vô vị? Tại sao ta không tìm hiểu, đính chính trả lại tên cho vùng đất này để thế hệ con cháu đồng bào các dân tộc tự hào về dải đất thiêng liêng có truyền thống giữ gìn biên cương nơi chóp cùng Tổ quốc?

 

Cụ Vương là một trí thức Mèo có tên tuổi nhiều người biết tới. Cụ từng học trường An be Sa rô của Pháp dành cho con em quan lại chính quyền thuộc địa – là nơi Trường Phổ thông Trung học Viết Đức phố Lý Thường Kiệt hiên nay – nên ông thông thạo tiếng pháp. Từng học tại trường Sỹ quan Lục quân võ bị Trần Quốc Tuấn khoá 1 năm 1946 đóng ở sân bay Tông Sơn Tây. Là Tiểu đoàn trưởng D.350 của Việt minh. Từng làm Giám đốc Sở xây dựng Khu tự trị Việt Bắc, rồi về làm chuyên viên cao cấp của Uỷ ban Dân tộc Trung ương. Cụ là pho sử sống về lịch sử xa xưa của dân tộc Mèo, các dòng họ Mèo, và tên gọi  nhiều địa danh cổ xưa của những vùng đất các tỉnh miền núi phía bắc.

 

Nghe xong câu chuyện, tôi băn khoăn hỏi cụ: “Tại sao cụ không nói chuyện này cho mọi người biết?”.Cụ bảo: “Cái đám nghiên cứu khoa học gì đó nó chỉ dựa vào sách vở, người sau “xào” bài của người trước rồi viết ra kiếm tiền. Có bao giờ nó đi sâu tìm hiểu, dám ăn ở cùng dân đâu mà biết được gốc tích xa xưa. Có nói nó cũng không nghe, không tin đâu. Cứ kệ cho chúng nó sai!”

Tôi trách cụ: “Cụ không nói để cho họ biết để sửa sai thì chính cụ cũng mắc khuyết điểm là thiếu trách nhiệm với lịch sử, đất nước cũng là sai đấy nhé!”

Cụ cười hiền lành không nói gì.

                                            

MÃ PÍ LÈNG HAY MÁO PÌ LÈNG?

 

          Xong việc ở trạm biên phòng, chúng tôi về nghỉ ở dinh thự của vua Mèo xã Sà phìn và ăn Tết Mèo với con cháu cụ Vương. Tết Mèo thường diễn ra trước tết Nguyên Đán của người Kinh một tháng. Bắt đầu từ Tây Bắc dần sang phía Đông Bắc là gần với tết Nguyên Đán (Nhà cụ Vương ở Đông Bắc nên tết muộn hơn nơi khác). Sớm 27 tháng chạp thiếu, chúng tôi lên đường về Hà Nội. Trời ướt sũng sương. Con đường đá không tên gồ gề toàn ổ trâu, ổ voi chen đá hộc trơn nhẫy từ Sà Phìn đi Đồng Văn. Chiếc UWAT nhà binh già nua, ốm yếu thời Liên bang Xô viết cứ hộc lên hộc xuống bò như trẻ lên 3. Già nửa buổi sáng mới tới Mã Pí Lèng trên đất Mèo Vạc. Bất chợt trời hứng chí hửng lên le lói nắng. Cơ hội hiếm có vào mùa này. Cụ Vương bảo tài Dự dừng xe “cho tụi nó xem sông Nho Quế“. Tôi và Lê Vui – chuyên viên Phòng tuyên truyền Ủy ban Dân tộc và Miền núi nhảy khỏi xe, lom khom ra mép vực nhòm xuống sông. Một vệt ngoằn nghèo phản chiếu từ mặt nước hơi ánh lên như dải lụa xanh lơ ai đó vô tình đánh rơi giữa hai vách núi thăm thẳm vẫn còn đang mờ sương. Lê Vui rút máy ảnh mon men ra sát mép vực, chân kê lên hòn đá chênh vênh muốn ghi vài kiểu về con sông huyền thoại, hoang dã. Tôi hét lên cảnh báo: “Lùi ngay vào. Chỉ con 2 ngày nữa là tết rồi đấy. Cậu có cho chúng tôi về ăn tết không hả? Trước khi “ hy sinh” cậu cũng phải có vài lời “ý kiến với cuộc đời” chứ. Đâu có dễ dàng ra đi như vậy được? ”Rồi tôi chạy lại ôm ngang lưng cậu ta, xuống tấn giữ thăng bằng để cậu chụp ảnh. Xong. Tôi nhặt hòn đá to bằng nắm tay nhằm dòng sông ném xuống. Phải một lúc mới nghe thấy tiếng đá va vào nhau khô khốc vọng lên giữa không gian tĩnh mịch. Vậy là viên đá chưa chạm tới mặt sông đang miên man chảy ở tít dưới thẳm sâu kia.

 

Trong lúc ngồi hút thuốc, cụ Vương bỗng hú lên mấy tiếng. Tức thì có 3 đứa trẻ Mông như từ dưới đất mọc lên. Đứa lớn nhất chừng 12 - 13 tuổi, tóc đỏ như râu ngô, tay xách chiếc choòng làm bằng sắt phi 16 có đập bẹp một đầu để bẩy đá. Hai đứa kia nhỏ hơn cầm dao quắm và búa. Chúng bẽn lẽn đứng trước mặt cụ. Tôi hỏi chúng làm gì ở đây nhưng chúng không trả lời. Cụ Vương nói một tràng tiếng mông với chúng, rồi quay lại nói với chúng tôi: “Chúng đi kiếm ăn”. Chúng bẩy đá, đập nhỏ đóng thành khối bán ( vì rẻ hơn giá nhà nước quy định nên bọn giao thông mua của chúng để kiếm tý ) cho bọn giao thông đang sửa chữa duy tu đoạn đường này. Cụ bảo tôi đứng cùng cụ và bọn trẻ. Rồi vời Vui đến chụp mấy pô ảnh. Cụ nói mấy câu với lũ trẻ khiến chúng cười toe toét, rồi lủi vào hẻm núi gần đấy cũng nhanh như lúc chúng xuất hiện.

Khi đã yên vị trên xe cụ bảo: “Cái mỏm này bọn chúng nó gọi là Mã Pí Lèng. Mã mã cái mả tổ lũ chẳng biết gì (cụ Vương khi bức xúc cũng hay văng tục). Dân Mèo chúng tao từ xưa tới nay vẫn gọi là Máo Pì Lèng”. Tôi và Lê Vui lại ngớ ra. Vậy ra hàng trăm bài báo, bài viết về địa danh nổi tiếng này lẽ nào sai? Tôi rón rén hỏi cụ: “Vậy Mã Pí Lèng có nghĩa gì thưa cụ?”Cụ thủng thẳng mà rằng: “Theo nghĩa chữ Mèo nó là sống mũi con ngựa. Nhưng không phải Pí mà là Pì. Nói và viết như vậy vẫn sai. Tên của nó chính xác là Máo Pì Lèng - tức sống mũi con Mèo”.

Máo Pì Lèng nằm ở gần trung độ của con đường có tên là Hạnh phúc từ Đồng Văn đi Mèo Vạc dài 26 km. Từ đây xuống Mèo Vạc còn hơn 12km một chút. Con đường khởi công vào ngày 10 - 9 – 1959 mất gần 6 năm mới hoàn thành (15 – 6 -1965). Gần 2 triệu lượt thanh niên trai tráng của 16 dân tộc anh em từ Cao Bắc Lạng, Hà Tuyên Thái, Hải Hưng, Nam Định…với gần 3 triệu ngày công (2.946.321 ngày công) đục khoét, phá gần 3 triệu mét khối đá (2.899.638) hoàn toàn bằng sức người và đôi tay rớm máu. Điểm Máo Pì Lèng cao như ngửi thấy trời. Vách đá dựng đứng, thòi ra một dọc đá như sống mũi con mèo đang nhòm xuống sông Nho Quế ngửi rình cá. Để chinh phục đỉnh cao này những người dũng cảm nhất đã được lựa chọn vào đội Dũng cơ. Dây buộc ngang lưng, họ treo mình trên vách đá dựng đứng trong cái nóng như đổ lửa từ hẻm núi phun ra. Họ chọc, khoét từng vẩy đá tính bằng cm. Cả một khối núi sừng sững, đặc cứng mất bao công sức mới khoét được một lỗ mìn. Vậy mà cho mìn nổ cũng chỉ văng ra được một mảnh đá chưa bằng chiếc chảo gang của người Mông. Riêng điểm đột phá khẩu Máo Pì Lèng đã mất 11 tháng và hàng chục người đã thiệt mạng. Để rồi có một ngày hai cánh quân ở hai đầu con đường ôm nhau trong nứơc mắt hạnh phúc.

 

Đợt đi chơi chợ tình Khau Vai (27 – 3 - 2012 âm lịch) vừa qua, mấy anh chị em trong đó có nhà thơ, nhà báo Chu Thị Thơm báo Giáo dục và Thời đại cùng đi. Dừng chân nghỉ ở quán nước đỉnh Máo Pì Lèng. Mỗi người xơi một hộp sữa chua, một lon nước bí đao vừa xem cậu trẻ Mông múa khèn. Tôi tranh thủ chuyện với già Mông gần 70 tuổi ra chơi với con là chủ quán nước này. Khi đã gây được cảm tình của ông cụ, tôi rụt dè hỏi: “Cháu có nghe người thì gọi nơi này là Mã Pí Lèng, người thì bảo là Máo Pì Lèng. Ai là người gọi đúng thưa cụ? ”Tao chẳng biết ai đúng, ai sai. Chỉ biết từ thời các cụ của họ tao đến nay vẫn gọi là Máo Pì Lèng. Vậy là có thêm một nhân chứng cho tôi thêm sự tin cậy vào câu chuyện của cụ Vương

 

Tôi có 15 năm công tác, làm việc vơi cụ Vương, học đựơc ở cụ nhiều điều, mở rộng được kiến thức hiểu biết ngoài sách vở. Cụ nói với tôi đủ mọi chuyện lạ lẫm, mới mẻ mà tôi chưa từng nghe. Cả những buồn vui trong đời cụ - có chuyện cười ra nước mắt. Có lần cụ bảo: “ Ở cái cơ quan này nói chuyện với mày được. Mày chịu nghe, chịu nhớ, chịu ghi chép. Tao gần hết vốn với mày rồi đấy. Đến mức mày biết cả mẹo vào nhà người Mèo khi họ treo cành lá cấm trước cửa. Ai vào sẽ chém chết. Mày thành chuyên gia Mèo rồi đấy. Đi mà viết kiếm nhuận bút, ăn tiền của thiên hạ được rồi đấy!”

 

Thú thực, trong những năm công tác cùng cụ, tôi có viết kha khá các bài báo về người Mông. Viết nghiên cứu về văn hoá, phong tục tập quán, về thiết chế xã hội dòng họ ( gọi là Xênh) khép kín, đời sống, xoá đói giảm nghèo, làm cả sách, làm phim về vùng đồng bào dân tộc và một vài dân tộc thiểu số. Nói của đáng tội, cũng kiếm (từ của cụ Vương hay dùng) được vài món tiền nho nhỏ, có lúc khá hơn một chút. Mỗi lần có nhuận bút, tôi lại mua tút thuốc lá thơm và hộp bánh ngon biếu cụ. Mới đấy mà cụ đã thành người thiên cổ đã gần chục năm. Viết loạt bài này thâm tâm tôi như một sự trả ơn cụ. Mong cụ thanh thản dưới suối vàng và yên tâm rằng những điều cụ “lăn tăn“ sẽ có ngày được mọi người biết tới.

 

  Phần III

LANG BANG… XỨ SỞ

                                      HOA HỒNG

THĂM  NHÀ TIÊN TRI MÙ

     NỔI TIẾNG  THẾ  GIỚI

  Sau chuyến đi vài nước châu Âu tôi hạ cánh xuống sân bay quốc tế Franfurk của nước Đức nghỉ vài ngày. Tôi nóng lòng muốn đến thăm nhà bà Van Ga – nhà tiên tri nổi tiếng trên xứ sở Hoa hồng xinh đẹp nước Bulgaria. Bay thẳng đến Plovdiv –thành phố Hội chợ thời Xã hội chủ nghĩa – chưa kịp nóng chỗ, sáng hôm sau tôi lên đường ngay. Lê Xuân Đạo là bạn tôi lấy vợ người Bulgaria nhiệt tình dùng xe riêng của anh đưa tôi đi theo con đường núi vắt ngang từ phía Đông sang Tây Nam. Đã 8 giờ sáng, sương mù vẫn dày đặc. Nhiều đoạn vòng vèo qua các khe núi hẹp, sông suối ven đường, tầm nhìn chỉ vài chục mét phải giảm tốc độ tối đa. Chừng gần 10 giờ sáng, nắng bất chợt bừng lên rực rỡ. Hôm nay là 19 – 10 - 2014 chưa vào chính thu nhưng cũng đủ làm say lòng người chiêm ngưỡng cảnh thu xứ trời Âu. Hai bên đường là những vạt thông xanh biếc chen lẫn những dải Sồi, Dẻ gai, Tần bì và những cây bụi rụng lá sớm lốm đốm, lóng lánh sắc vàng như những bức tranh trong chuyện cổ tích. Phải mất hơn 3 giờ chạy xe chúng tôi mới tới nơi.

 

Qua cổng khu tưởng niệm chỉ hơn hai chục mét lát đá thô giữa hai vạt cây được xén tỉa vuông vức mở ra một không gian thoáng đãng. Dưới chân dãy núi đá chạy dài theo hướng Tây Đông là toàn cảnh khu tưởng niệm bà Van Ga nằm trong thung lũng hẹp - nơi bà sống và trở về với ĐẤT MẸ. Đánh mắt sang trái là nhìn ngay thấy bà. Có cảm giác như bà đã ngồi đó từ lâu để đón khách. Khuôn khổ bức tượng đúng bằng người thật. Tượng bà đặt trên bệ đá hoa cương - đằng sau có cây Lựu chĩu quả chín đỏ. Ngay dưới chân bà là khóm hoa nở tươi thắm. Bà ngồi đó - tay trái đặt trên đầu gối, tay phải giơ về phía trước, mặt hơi ngửng lên. Hình dáng quá quen thuộc đã ghi sâu vào tâm trí hàng vạn người đến gặp bà để chữa bệnh bằng cây thảo dược, những buổi cầu hồn, nghe bà tiên đoán về số phận và tương lai cùng những lời khuyên nhủ thấm đầm chất nhân văn và tình thương con người.

 

Tượng bà được đặt nơi đây vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của bà (3 -9 - 1911/ 3 – 9 - 2011). Bức tương nặng gần 5 tấn đúc bằng đồng thau. Phần đầu và một vài điểm trên cơ thể bà được mạ bạc sáng lấp lánh trong nắng trưa nóng như mùa hè. Đôi mắt mù trũng sâu trông rất sinh động ngước lên bầu trời như đang dõi theo những hành tinh xa xăm. Tôi rón rén đến bên bà xin bà cho được chụp một bức ảnh kỷ niệm với lòng tôn kính nhà tiên tri vĩ đại mà những tiên đoán của bà cho tới nay khoa học vẫn chưa tìm ra lời giải.

                                              

 Bà Van Ga sinh ngày 03 – 11 - 1911 tại thành phố Xtrumise (Nam tư cũ) trong một gia đình tiểu chủ. Mới 7 tháng tuổi bà đã ra “gặp mặt trời”. Cô bé đẻ non gầy yếu hai tai áp chặt vào thái dương, các ngón tay ngón chân gần như dính vào nhau. Không ai dám chắc cô bé có thể sống nổi. Tên đầy đủ của bà là Vangelia Pandeva Dimitrôpva. Vangalia theo nghĩa Hy Lạp là “Người mang sứ mệnh của Thượng đế”. Mọi người đã biết năm 11 tuổi bà bị một cơn lốc xoáy lớn cuốn lên không trung. Người ta tìm thấy cô bé đáng thương nằm bất tỉnh, hai hốc mắt đầy bùn đất, và cô bị mù hẳn từ đó. Khả năng tiên đoán của bà chỉ thực sự nổi danh khi bà 16 tuổi. Dần càng nổi tiếng bởi  tiên tri về những sự kiện rung động thế giới như Liên bang xô viết sụp đổ, tòa tháp đôi ở New York bị phá hủy bởi “những con chim sắt ”; hay số phận những nhân vật nổi tiếng như Hitle, Stalin và nhiều người nổi tiếng ở nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau trên thế giới. Sau nhiều năm gặp gỡ, khảo nghiệm năm 1966 bà được giới khoa học công nhận những tiên tri lạ lùng dự báo chính xác đến ngày giờ của bà. Bà đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học: lịch sử, xã hội nhân văn, Y học, khoa học tự nhiên, thần học…đồng thời họ cho công bố nhiều bài nghiên cứu ở các nước. Thậm chí năm 1970 người Mỹ xuất bản cuốn sách “Người có khả năng kỳ lạ” - trong đó lạ nhất là bà có khả năng tiếp xúc với những người đã chết hàng trăm, hàng ngàn năm? Và mọi sự kiện lớn lao xảy ra trong quá khứ và tương lai trên khắp hành tinh – trong khi bà mù chữ và chẳng đi đâu, chỉ quanh quẩn quanh ngôi nhà của mình

 

Đầu năm 1942, biên giới Bulgaria và Nam tư được mở thông. Có một người lính vệ quốc thuộc Trung đoàn II quân đội Bulgaria tên là Dimitơrơ Gusekôp người làng Krưngllise đến gặp bà để hỏi về người anh trai và mẹ mình trong cơn loạn lạc chiến tranh. Anh đau xót khi biết người anh trai là nhà buôn đã bị giết chết và cướp hết hàng hóa, để lại người vợ ốm yếu và 3 con nhỏ cùng mẹ già. Người lính vệ quốc sau đó chính là chồng bà. Họ kết hôn vào tháng 10 tháng 5 năm 1942, và sống với nhau được 20 năm. Ông mất vào ngày 01 – 4 - 1962.

Nỗi đau lớn nhất của bà là không ngăn nổi cái chết của chồng. Trong khi bà từng chữa bệnh cho hàng ngàn người khỏi bệnh. Bà kiên trì chữa bệnh cho ông bằng cây thảo dược và khuyên ông bỏ rựơu. Nhưng càng về sau ông càng nghiện rượu nặng, rượu đã phá hủy nội tạng của ông. Âu cũng là số phận mà bà phải gánh chịu.

                                               *

                                            *     *

 

Làng nhỏ Rupite nơi bà ở tọa lạc ở miền Đông Nam tỉnh Blagoevgrad cách biên giới Hy Lạp không xa. Bao quanh rẻo thung lũng hẹp là những dãy núi thấp có nhiều cây cỏ rậm rạp và những sông suối nhỏ và ngắn. Phía Tây nhô lên đinh núi lớn. Nơi đây có nguồn nước khoáng nóng tới 75 độ C. Ngay trong vườn nhà bà nước nóng chẩy lênh láng theo những lượn cát đổ vào một vũng nông có biến cảnh báo để du khách đề phòng. Giữa nắng trưa chói chang nước nóng bốc lên thành màn sương mờ mờ. Cách vũng nước không xa là ụ đá vây lấy một miệng giếng vuông xây bằng gạch trên miệng có lưới sắt phi 12 chắn kín. Một biển cảnh báo bằng chữ Bun ghi : “Không được trèo lên. Sẽ nguy hiểm đến tính mạng”.

 

Theo cháu gái bà cho biết, đã có đôi ba lần người ta gợi ý cho bà nên đến ở một đia điểm khác đẹp hơn, đi lại thuận lợi hơn nhưng bà từ chối. Bà bảo ở thung lũng này bà luôn ngập mình trong “nguồn năng lượng vũ trụ?”

Theo hồi ký của bác sỹ Kraximira hiện đang làm việc tại bệnh viện ở thủ đô Sofia – là con của bà Luipka (em gái bà) người được bà tiên đoán khi mới sinh ra sau này sẽ là một bác sỹ giỏi. Trong hồi ký năm 1988 cháu gái bà cho biết bà rất yêu hoa. Bà bảo các loài hoa kể cho bà nghe những câu chuyện thú vị.

  Bà thường dậy sớm vào lúc 5 giờ, khi màn sương còn phủ mù mịt thung lũng. Bà tiết lộ với cháu gái rằng ban đêm thân xác bà tạm được nghỉ ngơi, còn ý nghĩ thì cứ bay lượn khắp nơi theo nhịp điệu của không gian và thời gian. Mở đầu một ngày bà ăn rất ít. Nhiều sáng hầu như không ăn. Bà vô cùng sạch sẽ, luôn sắp xếp đồ đạc gọn gàng, ngăn nắp. Nếu không bị mệt thường vào 9 giờ sáng bà bước vào phòng khách bắt đầu buổi làm việc.

 

      Theo các nhà khoa học : “Đối với bà Van Ga không tồn tại khái niệm quá khứ, hiện tại, tương lai. Trong trí não bà thời gian là một dòng chảy thống nhất luôn hiện hữu trên khuôn mặt bất động và tái nhợt của bà”. Bà tiên đoán rất nhiều sự kiện mọi người đã biết nên tôi không muốn nhắc lại. Gần đây nhất là về Crưm và Ucrain. Cách đây hơn 20 năm, vào năm 1991 bà đã nói “ Sofia rồi sẽ rực sáng. Sau đó là Kiep sẽ được như chúng ta. Còn Crưm thì ra đi”. Về tình hình Ucrain bà tiên tri: “Những gì đã hợp nhất lại thì nay sẽ tan thành từng mảnh”. Trong quá khứ lịch sử đất nước Ucrain có sự hình thành hết sức phức tạp từ cổ đại tới đương đại .

                                             *

                                          *     *

Tôi lang thang trong lũng nhỏ giữa trưa thu đến muộn. Nắng rực rỡ, bầu trời trong vắt. Thi thoảng có vài gợn mây bông lững lờ trôi qua vùng trời thung lũng. Tôi lặng lẽ đứng bên thành giếng thơi ở giữa vườn. Gầu múc được cuộn lên từ lâu im lìm đong thời gian, như chứa bao kỷ niệm những lần bà ra múc nước. Còn đây những cây táo đỏ mọng vẫn chờ bà đến hái chia cho lũ trẻ. Những cây lê quả to chĩu cành từ lâu không người thu hái quả rụng đầy gốc. Chếch phía tây kia là 2 ngôi nhà có ống khói là khu nhà bếp. Còn đây ngôi nhà nhỏ khiêm nhường đầu hồi có rất nhiều chậu hoa đủ màu đang nở rực rỡ - nơi bà sống tới cuối đời. Tôi nghiêm cẩn theo chân một đoàn khách đi vào hành lang hẹp, ngó nhìn vào căn phòng nhỏ chừng hơn chục mét vuông là buồng ngủ của bà. Trên bệ cửa, trên tường có treo những bức tranh thánh. Gối nệm, chăn, ga trải vẫn còn đó trắng toát một màu. Đã gần 20 năm không có hơi người. Tại ngôi nhà yên tĩnh này bà đã có trên 7.000 cuộc gặp gỡ, chữa bệnh, cầu hồn, tiên tri cho hàng vạn người đủ mọi tầng lớp xã hội, mọi tuổi tác, mọi dân tộc của các quốc gia trên thế giới. Vòng lại phía cổng vào, tôi nghiêng mình trước nhà thờ Sveta Petka (còn gọi là nhà thờ thánh Piter) do bà bỏ tiền ra xây năm 1992

 

 

    Qua con cầu cạn nhỏ chỉ mươi mét là khu nhà thờ. Phía trái có vòi nước nóng, mấy bà già đang giặt giũ. Tiến thêm vài mét chếch ngay đó có Kiot bán các đố lưu niệm nho nhỏ - chủ yếu là các bức tranh, tượng thánh. Phía phải là một vạt cây trúc thân bằng ngón tay cái xanh biếc sát lối nhỏ đến ngay nhà tưởng niệm nho nhỏ đang có vài nhóm khách xem ảnh xì xồ bình luận. Tôi bước vào tranh thủ chụp vài bức ảnh. Ôm lấy khuôn viên nhà thờ là hai dãy nhà cấp 4 có tới vài chục phòng là nơi nghỉ ngơi tá túc của con chiên đến lễ thánh. Ngôi mộ nhỏ khiêm nhường của bà ngay mé phải nhà thờ đối diện với phòng tưởng niệm qua lối đi. Bồn hoa nhỏ trước mộ nở thắm đỏ. Một ảnh chân dung bà chỉ to hơn khổ giấy A4 một chút bằng đá đen được gắn bên trái tấm bia có ghi tên bà. Tôi đứng nghiêm cẩn vái 3 lần trước một thiên tài, nhà tiên tri vĩ đại có một không hai của nhân loại.

 

    Người dọn vườn là một bà già nhỏ thó như đứa trẻ 15, lưng hơi còng, khuôn mặt xấu xí đen nhẻm. Tự nhiên tôi liên tưởng tới thằng gù kéo chuông Quasimodo của nhà thờ Đức bà Paris (Nortre Dame de Paris) trong tác phẩm của Victor Hugo. Hai con người đó cứ như là anh em ruột vậy. Bà dọn vườn bảo rằng cứ vào ngày sinh thánh Piter 15 tháng 10 hằng năm sáng ra bao giờ cũng có mưa - có năm mưa to. Nhưng đến tầm 9 -10 giờ là trời tạnh ráo, nhiều năm có nắng bừng lên để con chiên đi lễ. Đến cuối buổi chiều trời lại đổ mưa. Bà bảo đó là sự linh thiêng không giải thich được.

 

Vẫn theo lời kể trong hồi ký của nữ bác sỹ Kraximira cháu gái bà, tính tình bà cởi mở, hào hiệp. Khi xem cho ai bà thường yêu cầu đưa cho bà một miếng đường nhỏ. Bà cầm miếng đường sờ nắn, vân vê nó và bắt đầu nói về họ. Rất hiếm khi bà cáu kỉnh – trừ phi ai đó quấy rầy bà trong lúc bà đang bất động như ngồi thiền mặt hơi ngước lên, dỏng tai tập trung lắng nghe gì đó từ không trung xa xăm để tiếp nhận những thông điệp từ ai đó. Theo những người thân thuộc trong gia đình bà và một số nhà khoa học, bà tiên đoán các sự kiện tới năm 3797 – cái mốc thời gian mà bà cho rằng sự sống trên trái đất chấm dứt. Nhưng đến khi ấy con người khôn ngoan đã tìm ra hành tinh mới di chuyển khỏi trái đất tới nơi ở mới. Bà cũng cho rằng đến lúc nào đó sẽ có những cuộc gặp gỡ giữa con người trên trái đất với các nền văn minh ngoài trái đất…

                                               

 Để về Việt Nam, tôi đi chuyến vé vét của hãng hàng không Qatar (Qatar Aiways) ghé qua Sofia vớt khách. Vì thế tôi ngồi ở hàng cuối, ghế cuối cùng sát sườn trái máy bay. Ngồi sát lối đi giữa khoang là một ông tây cao lớn, râu rậm chừng trên 60 tuổi. Một lát sau có cặp vợ chồng trung niên đến xếp đồ và tim chỗ ngồi. Số ghế của anh ta giữa tôi và ông tây. Còn vợ lại ngồi giữa hai người đàn ông hàng ghế trên. Anh ta nói với ông tây râu rậm nguwowif Bulgria là muốn ông đổi ghế để hai vợ chồng ngồi gần nhau, nhưng không được ông đồng ý. Từ đó hai người đàn ông im lặng có vẻ không hài lòng về nhau.

 Để phá tan không khí có vẻ căng thẳng, tôi bắt chuyện với người ngồi cạnh và được biết vợ chồng họ là người Peru đi du lịch Việt Nam. Tôi khoe với anh ta đã đến quê hương bà Van Ga và cho xem mấy tấm ảnh trong máy ảnh của tôi. Anh tỏ ra rất thích thú và hỏi tôi nhiều điều. Tôi huy động hết khả năng tiếng anh cố diễn đạt những gì mình tận mắt thấy. Không ngờ cuộc chuyện trò đã lây sang ông tây rồi cuốn hút ông quan tâm. Ông rất ít nói, lặng lẽ rút ra từ chiếc cặp da đã sờn một tờ báo khổ lớn và chỉ cho hai chúng tôi xem bài báo bằng chữ Bulgaria suốt hai trang báo. Đó là bài viết mới nhất của ông về nhà tiên tri Van Ga của đất nước hoa hồng xinh đẹp mà ông rất đỗi tự hào. Từ đó trở đi hai người sôi nổi tranh luận, trao đỏi với nhau bằng tiếng anh có nhiều từ ngữ khoa học, chuyên môn. Tôi hầu như “mất điện” chấp nhận tiếng anh ngắn ngồi nghe câu được câu chăng.

 

Sau một hồi dài, câu chuyện cạn dần. Cũng là lúc tiếp viên mang bữa ăn tới. Tôi ngỏ ý muốn xin ông tờ báo, nhưng ông bảo chỉ có tờ duy nhất ông mang tới Thái Lan để tặng người bạn đang du lịch ở đó. Thì ra ông là nhà khoa học Bulgaria. Tôi láng máng có cảm giác hình như ông có mặt trong một bức ảnh ở nhà tưởng niệm bà Van Ga thì phải.

Chấm dứt đề tài bà Van Ga tôi hỏi ông câu cuối cùng rằng trong hàng ngàn cuộc tiếp xúc với bà, người ta cho rằng những tiên đoán của bà chỉ đúng gần 80% có đúng vậy không? Ông không trả lời thẳng vào câu hỏi mà thủng thẳng nói : “Như thế cũng khủng khiếp lắm rồi. Đến thần thánh cũng còn có lúc nhầm lẫn!”

 

                                                                

ROSE VALLEY – THUNG LŨNG HOA HỒNG

                                                

   Balkan là dãy núi cao hùng vĩ vắt ngang miền trung đất nước Bulgaria từ Tây sang Đông kéo dài tới gần Biển Đen. Sườn bắc Balkan là vùng trung du hẹp, thoải xuống vùng đồng bằng mênh mông màu mỡ dọc theo dòng sông Danube – là biên giới tự nhiên giáp quốc gia Rumany. Rặng Rila có đỉnh cao nhất 2.925m rồi đổ dần về phía Tây Nam, núi non thấp dần nhưng dày đặc hơn. Xa hơn về phía Đông là dãy Phodope. Những sông nhỏ, núi thấp dày đặc đã kiến tạo thành Thung lũng Hoa hồng nổi tiếng.

 Thành cổ Plovdiv có tuổi 6.000 năm với dấu tích những nhà hát, đấu trường La mã cổ kính đã cuốn hút tôi đến thăm đất nước xinh đẹp này. Tôi còn khao khát được một lần tới xứ sở Hoa hồng – nơi sản sinh ra thứ nước hoa đặc hữu mà không nơi nào có được. Người bạn thân của tôi đã thành công dân Bulgaria từ những năm 70 thế kỷ trước cam kết đưa tôi tới tận nơi để mua tặng tôi vài lọ nước hoa ở chính nơi sản xuất ra nó – mà nếu không đến Bulgaria không thể có được.

 Xe chúng tôi chạy qua những thị trấn, thị tứ, làng mạc trông có vẻ cũ kỹ và ảm đạm. Rất ít gặp những xe cộ ngược chiều. Hai bên đường là những hàng cây Óc chó đã rụng hết lá sỉn đen trơ trụi. Đến một đoạn đường có nhiều cây Sồi, Dẻ gai lá vàng lóng lánh, Đạo đánh xe vào rệ đường dừng xe hút thuốc. Nhìn về phía Đông Nam xa xa nhấp nhô những rặng núi thấp. Đạo bảo đi chừng hơn bốn chục cây số nữa là tới thành phố Kazanluk (Ka zan lức) – nơi trồng, chiết xuất tinh dầu và các sản phẩm từ hoa hồng nổi tiếng.

 

Lễ hội Hoa hồng đã kết thúc từ lâu. Trên những cánh đồng dài rộng trơ lại những thân hồng trơ trụi được xén tỉa bớt cành chỉ để tầm ngang bụng, ngang ngực người phơi dưới nắng hoe vàng. Thời gian này là mùa nông nhàn. Thành phố nhỏ dường như đang lim dim ngủ sau những tháng sôi động mùa thu hoạch, lễ hội, sản xuất khẩn trương để kịp đưa sản phẩm ra thị trường. Trên đường phố thưa thớt bóng người – trừ những cửa hàng, cửa hiệu bán lương thực, thực phẩm và tạp hóa. Thành phố nhỏ nhưng đẹp, vùng ngoại ô vẫn còn giữ lại những ngôi nhà độc lập vuông vức có nhiều cửa sổ để lấy ánh sáng trời trong mùa đông âm u của một vùng nông thôn trước đây. Trước cổng các ngôi nhà nơi này có vài ông bà già ngồi trên những chiếc ghế băng sưởi nắng, nơi kia có người đang lúi húi xáo đất, tưới cây trong vườn. Còn may cho tôi, các gia đình vẫn để lại những khuôn viên nhỏ, chậu hoa hồng đặt trên những cửa sổ, bệ ban công tỏa mùi thơm ngát. Tôi hít căng lồng ngực thứ hương hoa tinh khiết trời ban tặng cho xứ sở và con người nhân hậu, hiền lành nơi đây. Có lẽ nhờ đó mà tuổi thọ của dân cư rất cao. Những cụ già 70 - 80 tuổi vẫn nhanh nhẹn, sôi nổi và cởi mở. Những thiếu nữ má ửng hồng như trái táo, mắt biếc xanh, gọn gàng duyên dáng  “cười như mùa thu tỏa nắng”…

 

Khang – một sinh viên học Đại học nông nghiệp ở Plovdiv những năm 70 thế kỷ trước cùng vợ và hai con sống ở Kazanluk mua giúp tôi hơn chục lọ nước hoa loại 100 g và những típ nước hoa nhỏ như ống tiêm để cho vào tủ ướp hương cho quần áo. Nước hoa ở đây có nồng độ tinh dầu cao, nên chỉ cần xịt một lượng rất nhỏ không gian đã thơm ngát thứ hương quý phái nhất trong các loài hoa. Tôi được biết ngoài hoa hồng thung lũng này còn trồng trên dưới 100 ha loài hoa Oải hương sắc tím mà hương thơm của nó cũng nổi tiếng được khách hàng thế giới ưa chuộng.

 Khang cho biết thung lũng này có 3 cơ sở chiết xuất tinh dầu và làm các sản phẩm từ hoa hồng, nhưng Kazanluk nổi tiếng nhất. Nước hoa ở đây làm ra chỉ bán cho khách du lịch tới thăm địa phương và tiêu thụ nội địa cũng chưa đủ chứ còn đâu mà xuất khẩu. Hoa hồng ở vùng quanh thành phố mang sắc đỏ thắm nhất. đóa hoa to nhất, thơm nhất, nhiều tinh dầu nhất so với vùng khác mới cho sản phẩm đặc hữu như vậy.

                                                      *

                                                    *    *

Gọi là thung lũng Hoa hồng làm tôi liên tưởng tới những thung lũng ở miền núi Việt Nam nhỏ, hẹp, kẹp giữa những dãy núi cao. Thung lũng Hoa hồng thực ra là dải bình nguyên có bề ngang không rộng kéo từ Tây sang Đông. Xuất phát từ phía nam dãy Balkan tới gần Biển Đen giữa những dải núi thấp dài tới 128 Km với diện tích gần 2000 Ki lô mét vuông. Thành phố Kazanluk nằm ở phần đầu phía tây giữa các dãy núi thấp. Càng về phía đông thung lũng càng mở rộng hơn.

Địa thế vùng Kazanluk được dãy Balkan che chắn luồng gió lạnh giá từ phía bắc thổi xuống, lại được hưởng luồng gió ấm phả vào từ biển Địa Trung Hải len lỏi theo lườn núi, khe sông suối chằng chịt kiến tạo nên thung lũng. Ngoài con sông lớn nhất là Iska dài 368 Km nằm trọn trong đất Bulgaria còn có sông nhỏ hơn là Truma và Maritsa ở phía nam và hàng trăm con sông nhỏ, ngắn, chảy qua vùng núi thấp có độ cao trung bình 350m đủ cung cấp nước cho dải bình nguyên xinh đẹp này.

Đầu tháng 3 hằng năm, khí hậu lạnh ở mức 5 độ C với những trận mưa nhỏ mùa xuân kéo dài vài ngày laị tạnh ráo đủ độ ẩm và độ ấm để lộc hoa hồng nảy nở và phát triển nhanh. Thung lũng có tới vài chục loại hồng nhưng chỉ hồng màu đỏ thắm, màu hồng nhạt, màu trắng được lựa chọn trồng phổ biến để chiết xuất tinh dầu. Những trận mưa lớn hơn, kéo dài hơn quân bình 80 -100 lít/mét vuông vào tháng 5 và tháng 6 hoa bung nở rộ, đồng thời có tác dụng ngăn tinh dầu hoa bốc hơi và làm tăng chất lượng tinh dầu.

Vào vụ hái hoa các vùng thuộc 3 trung tâm sản xuất tinh dầu là thành phố Kazanluk, Larlovo và Kalofer có tới trên 2000 người tham gia thu hoạch. Họ cố gắng kết thúc thu hái trong khoảng 20 - 25 ngày từ giữa tháng 5 đến gần giữa tháng 6. Lễ hội Hoa hồng được tổ chức vào chủ nhật tuần đầu tiên của tháng 6 trước khi mùa thu hoạch kết thúc tại quảng trường Sevtopoilis giữa thành phố Kazanluk. Lễ hội gồm nhiều hoạt động phong phú, đa dạng nhưng chủ yếu là ca vũ dân gian truyền thống của dân tộc và không thể thiếu cuộc diễu hành rước tân Nữ hoàng Hoa Hồng đầy quyến rũ và sôi động.

 

Để lượng tinh dầu cao và có chất lượng tốt nhất, từ 5 giờ sáng - khi nhiệt độ mới 5 - 10 độ C  trời còn mờ sương đêm - 173 làng trồng hoa trong thung lũng đã nhanh chóng ra đồng thu hái. Lúc này tinh dầu hoa chưa bốc hơi. Cuộc thi thu hái dừng lại vào tầm 9 - 9 giờ 30’ khi nhiệt đọ tăng dần lên 20-30 độ C. Hái được đến đâu phải nhanh chóng đưa ngay về xưởng chế xuất. Người ta đổ cánh hoa vào những thùng kim loại lớn, vặn zoăng kín nắp cho sôi trong vài giờ mới chuyển sang các công đoạn tiếp theo. Tùy theo loại và chất lượng từng loại hoa hồng cứ trên 2,5 – 4 tấn cánh hoa mới cho 1Kg tinh dầu thượng hạng. Nói chuyện với một cụ ông da đỏ au, mắt còn tinh anh, râu tóc bạc phơ như ông tiên giáng trần - đang ngồi sưởi nắng trước hiên nhà - Khang dịch lại câu chuyện. Cụ già than phiền: “Hai chục năm lại đây biến đổi khí hậu làm các làng hồng thất thu nhiều. Những năm 70, 80 của thế kỷ trước khí hậu ôn hòa ấm áp chỉ trên 2 đến trên 3 tấn cánh hoa là đã cho 1Kg tinh dầu loại hảo hạng. Do khí hậu ngày càng khắc nghiệt, thất thường hoa nhỏ hơn chút ít nên phải trên 3 – 4 tấn mới được 1Kg. Trước đây chỉ cần 1300 – hơn 2000 bông hồng tùy loại là chiết xuất ra 1gam tinh dầu. Giờ thì buồn lắm…”

                                                        *

                                                     *     *

Truyền thống chế xuất hoa hồng của Bulgaria đã có bề dài lịch sử gần ngàn năm. Từ thế kỷ thứ XII hoa hồng đã được chế xuất bằng phương pháp thủ công thành nước thơm phục vụ cho giới thượng lưu của đế chế Haussmam. Từ nhiều thập niên tinh dầu hoa hồng ở đây là sản phẩm lựa chọn của các khách hàng khó tính như Pháp, Nhật, Đức, Anh, Mỹ. Canada…Mỗi năm Bulgaria xuất khẩu trên 2 tấn tinh dầu hoa hồng chiếm trên 50% lượng tinh dầu hồng trên toàn thế giới. Một gam tinh dầu hồng có giá trị tương đương 120 triệu đồng Việt nam, 1 lít tinh dầu hồng giá hơn 1,5 Kg vàng hoặc trên 20.000 Dollars

 

Trên đường về, nắng chiều đang dịu dần, trời nhanh chóng chuyển sang se lạnh, Đạo tâm sự buồn: “Đất nước này rộng chỉ bằng 1/3 nước Việt ta (110.000 Km2) dân số chỉ 7 triệu người nhưng sở hữu nhiều di sản lâu đời đáng để khách du lịch đến tìm hiểu, nghiên cứu. Trong đó có thủ đô Sofia cổ kính xinh đẹp dưới chân dãy Balkan, thành cổ Plovdiv có lịch sử 6.000 năm từ thời La mã cổ đại, cột mốc trên đỉnh Balkan và nhà thờ tháp vàng Chính thống giáo lưng chừng núi tưởng nhớ và ghi công Nga hoàng đánh tan quân của đế quốc Ottmans (Thổ nhĩ kỳ) trên tuyến phòng thủ Balkan giải phóng cho Bulgaria. Nhưng giờ đây đất nước xinh đẹp trù phú và thanh bình này lâm vào cuộc xâu xé, tranh giành quyền lực của các đảng phái từ khi thể chế Xã hội chủ nghĩa suy sụp, làm cho kinh tế xã hội lao dốc, dân tình khốn khổ. Kéo theo các mặt trái xã hội lộn xộn gắn với tên tuổi của những tên trùm Mafia nổi tiếng thế giới. Hiện nay đất nước này nghèo nhất trong các nước thuộc Liên minh châu Âu. Những năm 70, 80 thế kỷ trước đến học ở đây em thấy đúng là “Thiên đường của Chủ nghĩa xã hội” chứ tìm đâu xa nữa? Vậy mà nay…sao buồn quá!”

 

 

 

NHỮNG TÊN TRÙM MAFIA KHÉT TIẾNG

                                           

Trước đây khi nhắc tới Bulgaria người ta luôn liên tưởng tới một đất nước thanh bình có nền nông nghiệp chế biến thực phẩm phát triển. Máy móc canh tác nông nghiệp của họ đã xuất khẩu sang các nước Xã hội chủ nghĩa. Đất nước của những người dân chăm chỉ, hiền lành, đôn hậu – đặc biệt nổi tiếng là xứ sở hoa hồng và hội chợ Plovdiv quyến rũ khách du lịch đến thăm. Sau khi các nước Xã họi chủ nghĩa Đông âu sụp đỏ theo đà đổ vỡ của Liên bang Xô viết, đất nước xinh đẹp này lâm vào khủng hoảng chính trị, xã hội triền miên. An ninh trật tự xã hội lộn xộn, tệ tham nhũng tràn lan, các giá trị đạo đức, xã hội đảo lộn. Các thế lực xã hội đen hoành hành thao túng, can thiệp vào nền chính trị, kinh tế làm đất nước này suy kiệt tới mức hiện nay là nước nghèo nhất trong Liên mimh châu Âu. Trong những tháng năm lộn xộn đó những tên tuổi Mafia khét tiếng như: Contantin Dimitrov, Maninop, Galiep nổi tiếng trong thế giới tội phạm.

 

HAI TÊN TRÙM VÀ SỐ ĐIỆN THOẠI ĐẸP VÀ ĐỘC

 

Từ thủ đô Sofia xinh đẹp, cổ kính Lê Xuân Đạo có vợ người Bulgaria đưa tôi xuôi phía nam theo đại lộ mới khánh thành mấy năm do Liên mimh châu Âu hỗ trợ chạy về mạn biên giới với Hy Lạp. Cách thủ đô 40Km là một thị trấn lớn (có tài liệu viết là thị xã) Samokov trực thuộc vùng thủ đô Sofia. Samokov có dân số 27.000 người. Xa xa những khu dân cư xen lẫn những cơ sở xí nghiệp, nhà máy nhỏ mái tôn sáng trắng trải dài theo sườn núi về bên phải đại lộ. Ven lề đường có vài nông dân dựng lều bày bán khoai tây bên cạnh là chiếc xe tải nhỏ hoặc xe con 4 chỗ ngồi. Đến một quầy có một bà già trông phúc hậu Đạo dừng xe. Đạo bảo: “Tiện đường em phải mua mươi cân khoai về ăn dần. Đây là vùng trồng khoai tây ruột vàng ngon nổi tiếng nước Bun. Nó càng nổi tiếng hơn từ khi gắn với tên tuổi trùm Mafia khét tiếng Constantin Dimitrov – “Đại gia khoai tây”.

 

Trước sự ngỡ ngàng của tôi Đạo giải thích như sau: Vào năm 1989, 1990 khi phe Cộng sản bị phe Dân chủ lật đổ bắt đầu thời kỳ suy thoái nền kinh tế. Những năm sau đó cuộc tranh giành quyền lực lúc phe này, lúc phe kia thắng thế đã đẩy đất nước trượt dốc không phanh xuống đáy sự nghèo đói. Xí nghiệp, nhà máy sản xuất đình trệ hoặc đóng cửa, nông dân bỏ đồng ruộng hoang hóa, thất nghiệp tràn lan. Thanh niên có sức khỏe, trình độ rời quê hương đi tìm việc làm ở thành phố và các nước trong Liên mimh châu Âu. Xóm làng xơ xác, tiêu điều. Để cứu vãn tình thế nhà nước bãi bỏ các sắc thuế nông nghiệp, khuyến khích nông dân ở lại canh tác nông nghiệp. Cho phép các gia đình có kinh nghiệm sản xuất, có vốn đầu tư tích lũy ruộng đất phát triển, kinh doanh làm giàu từ nông nghiệp.

 Chỉ trong vài năm tại thị trấn Samonov nổi lên “Đại gia khoai tây” Constantin Dimitrov giàu sụ với tài sản hàng trăm triệu Dollars. Sự giàu có bất thường của y đã làm giới cảnh sát để ý, theo dõi nhưng không tìm ra chứng cứ cụ thể. Những chiếc bẫy do cảnh sát chăng ra đều bị vô hiệu, và Dimitrov như kẻ tàng hình với những hoạt động tinh vi khó lường. Có lần bị cảnh sát gọi hỏi yêu cầu minh bạch về tài sản, y giải thích rằng bố mẹ y đã cho y sở hữu vùng đất rộng lớn để trồng khoai tây, nhờ đó y phất lên. Người dân ở Samonov luôn bênh vực và bảo vệ y vì y luôn thân thiện giúp đỡ mọi người một cách vô tư, phóng khoáng. Một số người cho rằng y có mối liên quan tới những “ông Kễnh” trên trung ương và được bao bọc, bảo kê nên cảnh sát chẳng làm gì được?

 

Y ung dung sống xa hoa, yên bình cho tới khi Interpool thông báo cho cảnh sát Bulgaria biết y nằm trong một đường dây buôn bán ma túy quốc tế thì Bộ anh ninh mới truy lùng y khắp trong nước. Nhưng y đã cao chạy xa bay biệt tăm không để lại dấu vết. Cả hệ thống cảnh sát quốc tế vào cuộc, săn lùng khắp các  nước nhưng không tìm được bất cứ dấu vết nào của y. Cho tới khi một đai gia bị hạ sát tại một nhà hàng ở thủ đô Amstecdam Hà Lan năm 2003 cảnh sát mới biết kẻ tử nạn chính là Constantin Dimitrov – trùm ma túy khét tiếng người Bulgaria. Y chết ở tuổi 31 khi đang cùng một người mẫu ăn tại nhà hàng nổi tiếng. Có người cho rằng y bị ám sát bởi Mafia Nga do cạnh tranh làm ăn và ghen tỵ về khối tiền tới 720 triệu Dollars của y?

 

Ngoài lý do nêu trên,người ta còn cho rằng y chết bởi sử dụng số điên thoại di động cực đẹp và cực độc. Số điện thoại có tới 9 lần phát – 0.888.888.888 (68 là Lộc phát) – đã giải thích tại sao y giàu nhanh đến thế. Số điện thoại ma quái ấy trước đó đã làm hại Vladimir Grashnov – Giám đốc hãng điện thoại di động Mobitel – chết năm 2001 ở tuổi 48. Người thứ 3 sử dụng số điện thoại này là Konstantin Dishliev – nhà buôn bán bất động sản giàu nổi tiếng – bị ám sát bên ngoài nhà hàng Ấn Độ giữa trung tâm thủ đô Sofia vào một ngày đẹp trời năm 2005. Hai sát thủ bịt mặt cưỡi xe mô tô phân khối lớn bắn thẳng vào ông, sau đó lủi vào đám đông láo nháo biến mất dạng. Nghe nói nhà doanh nhân này trước khi nhảy vào kinh doanh thị trường địa ốc từng tham gia một đường dây ma túy xuyên quốc gia tới tận Colombia có tài sản vài trăm triệu Dollars.

Chỉ trong vòng chưa đầy chục năm 3 mạng sống có tên tuổi đã tử vong vì sở hữu số điện thoại ma mị đó. Sau cái chết của Dishliev số điện thoại này bị xóa sổ, chấm dứt lưu hành trên mạng

 

THAO TÚNG CẢ CHÍNH QUYỀN

 

 Cách Sofia gần 70 km về bên trái đại lộ đi biên giới Hy Lạp có thành phố khá lớn Dupnitsa thuộc tỉnh Kynstandil. Sau khi chế độ Cộng sản ở Bulgaria tan rã cuối những năm 90 thế kỷ XX có 2 nhân vật nổi lên thống trị thành phố này gần hai chục năm là anh em nhà Galiev. Trước đó 2 tên thuộc lực lượng đặc nhiệm “Mũ nồi đỏ” thuộc Bộ an ninh Bulgaria. Nhân khi đất nước rối ren, chúng cấu kết với các phần tử xã hội đen, các băng nhóm tội phạm ma túy, trấn lột, bảo kê…hình thành nên một tổ chức tội phạm đầy quyền lực.

                                                         

 

 

           Từ năm 1992 tới năm 2010 thành phố này gần như ly khai khỏi sự quản lý của nhà nước như một tiểu vương quốc có luật lệ riêng. Điều đáng nói là, trong khi các thành phố địa phương ở Bulgaria an ninh trật tự khá lộn xộn, phức tạp làm người dân lo lắng, thì ở thành phố Dupnitsa lại bình yên vô sự. Ban đêm nhà dân có thể mở cửa mà không lo trấn lột, trộm cướp. Xe ô tô mô tô có thể để ngoài phố mà không lo mất cắp. Cư dân thành phố không phải đóng thuế cho nhà nước, các loại phí, lệ phí bị bãi bỏ. Bằng nguồn lực tài chính dồi dào không rõ từ đâu, hai tên đầu tư cho thành phố và nâng cao đời sống dân chúng, làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo, người cô đơn không nơi nương tựa…do đó rất được lòng dân. Nghe nói hai tên có mối quan hệ khăng khít với giới cảnh sát, tư pháp, thuế vụ nên chính quyền bó tay không dám đụng tới. Được dân ủng hộ chúng còn ra đăng ký ứng cử đại biểu quốc hội vào các chức danh trong chính phủ?

 

Lo sợ trước sự bành trướng thế lực của tổ chức đen do anh em Galiev cầm đầu, Cảnh sát Quốc gia đã điều tra và bắt giữ hai tên với tội danh lừa đảo, bảo kê, trấn lột, đe dọa, cướp bóc và buôn bán ma túy? Tuy nhiên đã không đủ chứng cứ thuyết phục để kết án. Tháng 7 năm 2010 vụ án lại được xới lên. Hai tên đứng trước vành móng ngựa, nhưng lạ thay trong phiên tòa các nhân chứng đều phủ nhận những điều trước đây đã khai cung với cảnh sát. Người ta cho rằng họ bị đe dọa tính mạng bởi tay chân của hai tên trùm. Ngay cả công tố viên thụ án cũng bị áp lực, đe dọa. Tòa đành phải để hai tên tại ngoại để quản thúc trong quá trình điều tra lại từ đầu. Nói theo cách của người Bun là “được nghỉ phép” trong thời gian ở tù.

Ngay sau khi đối mặt với pháp luật lần này, hai tên đã rời khỏi địa phương không để lại dấu vết, bặt vô âm tín từ đó. Mặc dù cảnh sát truy lùng gắt gao và thông báo cho hệ thống Interpool quốc tế giúp đỡ nhưng đều không tìm ra nơi ẩn náu của chúng. Năm 2013 có người thông tin cho giới cảnh sát là đã gặp hai tên trên đất Phần Lan; người thì nói chúng đang có mặt tại châu Phi bình an vô sự?

 

Tại cuộc bầu cử quốc hội tháng 10 – 2014 có tới mấy chục đảng phái tham gia, trong đó  8 đảng có chân trong quốc hội. Mấy ngày liền họ nêu quan điểm, tranh luận, lên án nhau quyết liệt. Trong khi trên các đường phố thủ đô Sofia diễn ra nhiều cuộc biểu tình rầm rộ ủng hộ phe này, phe kia. Đạo chỉ cho tôi đoàn đại biểu của thành phố Dupnitsa có mấy ô tô lên thủ đô phản đối một nhân vật được chỉ định là đại biểu quốc hội của thành phố có trùm mafia. Đại biểu này chỉ được 900 phiếu bầu – trong khi phải đủ 13.000 phiếu mới đạt yêu cầu. Dân Dupnitsa không thừa nhận người đó đại diện cho quyền lợi của họ nên đánh xe lên thủ đô biểu tình.

 

Như vậy, sau 4 năm hai anh em Galiev trốn khỏi đất Bun, thành phố Dupnitsa vẫn hết sức phức tạp trong việc quản lý, an dân. Điều đó báo hiệu cuộc chiến giữa các phe phái chưa thể chấm dứt. Đạo bảo : “Cứ như nước Mỹ có vài đảng ra tranh cử, chỉ có 2 đảng Cộng hòa và Dân chủ cạnh tranh, giám sát nhau ở lưỡng viện nên nền chính trị luôn ổn định. Các vấn đè dù có căng thẳng đến đâu, cuối cùng hai đảng vẫn điều chỉnh được những khác biệt – bởi cả hai đảng đều vì nhân dân và sự phát triển của đất nước và đều thượng tôn pháp luật. Nhiều đảng quá làm tình hình rối như canh hẹ, các nhóm lợi ích chỉ đấu tranh cho quyền lợi của họ chứ chẳng vì ai hết. Trong lúc tranh tối tranh sáng thực hư khó phân biệt. Có kẻ hôm trước là đại biểu quốc hội, hôm sau đã tra tay vào còng vì dối trá, tham nhũng, cấu kết với thế giới tội phạm…giải thích cách nào cũng không thể làm cho dân tin được?”

 

 

 

HOANG VẮNG TỪ NÔNG THÔN

ĐẾNTHÀNH PHỐ

 

  Những ngày trên đất Bulgaria tôi lang bang đi dọc ngang đất nước tươi đẹp đã từng là nơi có nền kinh tế phát triển, từng được ca ngợi như thiên đường của chế độ Xã hội chủ nghĩa. Nhưng sao nước Bun lại quá khác với những gì tôi nhìn thấy và cảm nhận khi so sánh với các nước châu Âu tư bản mà tôi chứng kiến trong chuyến đi lang bang gần 3 tháng vừa qua…

 

TỪ  NÔNG  THÔN…

 

  Từ thành phố Plovdiv Đạo đưa tôi đi theo con đường hướng về Đông Bắc phía có dãy Balkan hùng vĩ. Chỉ mới chạm vào vùng ngoại ô thành phố đã thấy ngay cảnh ruộng đồng hoang hóa. Hàng chục cây số là những bãi đỗ xe ô tô con cũ, cơ sở giới thiệu sản phẩm, kinh doanh, sản xuất của các hãng nước ngoài xen lẫn những thửa ruộng bỏ hoang gạch đá lởm khởm, cây cỏ um tùm.

    Đạo bảo những năm 70,80 thế kỷ trước anh học Đại học nông nghiệp ở đây vùng này bạt ngàn nho táo, bắp cải, cà rốt, củ cải đường, rau …màu xanh mênh mông tới tận những dãy núi thấp xa xa kia. Qua dãy núi thấp phía Tây nam là Thung lũng hoa hồng nổi tiếng chạy ngang miền nam đất nước. Vào những tháng nghỉ hè các trường đại học, cơ quan, xí nghiệp, nhà máy huy động nhân lực đến giúp các nông trang thu hoạch mùa vụ. Những ngày ấy thật vui, tràn đầy kỷ niệm.

    Những ngày lao động vất vả nhưng đầy cảm hứng ấy anh đã tìm được một nửa của đời mình là cô gái Bulgaria xinh đẹp Ruska. Lúc ấy anh thầm nghĩ : “Thiên đường của Chủ nghĩa xã hội là đây chứ còn tìm ở nơi nào nữa !”Vậy mà …Sau khi các nông trường, nông trang tan rã, ruộng đất được trả về cho người dân. Họ không đủ khả năng về tài chính, kỹ thuật để sản xuất ra các sản phẩm có thể cạnh tranh theo tiêu chuẩn châu Âu. Họ đành chua xót chở đất đá rải lên phần ruộng đất của mình rồi xin chính quyền chứng nhận đất không canh tác được để bán, hoặc cho tư nhân và người nước ngoài thuê. Chính sách miễn thuế cho nông dân cũng không thể kéo những người bỏ quê hương đến thành phố tìm việc trở về và người ở lại chuyên tâm đến sản xuất nông nghiệp, nên chính quyền đành phải cấp giấy cho họ. Đó là những rẻo đất ven các quốc lộ có giá. Nhìn ra xa là đồng ruộng mênh mông hoang hóa không người gieo cấy.

 

Ngày khác tôi đi về hướng Tây Bắc để đến thủ đô Sofia. Ra khỏi nội đô thành phố Plovdiv đất đai cũng tương tự như vậy. Bên trái quốc lộ là những cơ sở xí nghiệp, nhà máy khá lớn của Cộng hòa Liên bang Đức, Ba lan, Thổ nhĩ kỳ, Hy lạp…sản xuất máy nâng, dệt may, chế biến lương thực thực phẩm và các ngành công nghiệp khác. Khoảng cách giữa những cơ sở sản xuất, kinh doanh nước ngoài là những vạt ruộng dài rộng cỏ mọc um tùm. Về bên phải quốc lộ tôi hơi bị ngạc nhiên khi thấy loi thoi vài thửa ruộng lúa nước chín vàng sẫm chưa kịp gặt. Phần lớn dải ruộng lúa nước kéo dài đến non chục cây số ven đường quốc lộ đã gặt xong trơ lại những gốc rạ vàng trên mặt đất xăm sắp nước. Đạo bảo chỉ được roi đất sát quốc lộ thôi. Nếu đi sâu về phía xa kia thì cũng chỉ gặp cỏ dại mà thôi.

 

Ngày khác trên đường cắt ngang sườn nam Balkan về phía tây rồi chạy dọc xuống phía Tây Nam theo quốc lộ dẫn đến biên giới Hy Lạp, Vẫn là bài ca vùng nông thôn ảm đạm, nhà cửa cũ kỹ từ lâu không được sang sửa. Tường, mái ngói lở lói, rêu phong. Nhiều nhà ven đường bỏ hoang, vườn tược cỏ mọc đầy, những chiếc cổng im ỉm khóa đã rỉ gét, những con chuột cống to bự đuổi nhau giữa những vạt cỏ um tùm xen lẫn những thùng chậu, dụng cụ sinh hoạt đã hoen rỉ. Mấy ông bà già tụ tập trước cổng chuyện trò, khuôn mặt đăm chiêu  không được vui. Mà vui sao được khi con cháu bỏ họ lại quê hương thân thiết mà họ đã gắn bó để ra thành phố, hoặc các nước trong Liên minh châu Âu tìm kế sinh nhai?

                                              *

                                           *     *

Năm nay mùa hạ mưa nhiều nên cây cối mới lốm đốm vàng chưa ra rõ thu vàng. Hai chúng tôi vượt dãy Balkan để sang sườn bắc là vùng trung du nước Bun. Thoải dần độ cao về phia bắc là vùng bình nguyên rộng lớn, phì nhiêu dọc sông Danube - biên giới tự nhiên với Rumani. Chạy dọc những con đường theo sườn bắc Balkan miền trung du, cảnh vật còn tiêu điều hơn phía nam nhiều. Trên đường đi qua những vùng rừng xen đồi thấp là các thung lũng hẹp rất dễ gặp những xóm làng xơ xác thưa thớt dân cư, nhà, vườn tược hoang vắng. Con đường có lẽ từ lâu không được duy tu, bảo dưỡng xuống cấp trầm trọng. Nhiều đoạn trơ sỏi đá, ổ lợn ổ voi không hiếm đã đày ải chúng tôi – những kẻ ham muốn hiểu biết. Đến một thung lũng khá rộng Đạo dừng xe chỉ cho tôi về phía trái con đường có vài vạt ngô chưa thu hoạch lọt thỏm giữa bạt ngàn lau lách, cỏ dại. Đạo bảo trước kia vùng này ngút ngát lúa ngô từng là vựa lương thực nuôi sống bao con người, là trung tâm sản xuất của nông trường, nông trang tập thể. Quay sang phía phải con đường - gần giáp chân đồi là dãy nhà hành chính, kho tàng, cơ sở chế biến lương thực, xí nghiệp sửa chữa máy nông nghiệp. Giờ đây hoang tàn đến thảm hại. Dãy nhà kho mái sụp đổ trơ ra các rui mè, cột gỗ đã mục nát. Máy cày, máy kéo, máy công cụ nông nghiệp dầm dãi nắng mưa rỉ nhoét, đen sỉn. Khu văn phòng xiêu vẹo chỉ chờ ngọn gió mạnh là sụp xuống. Không bù cho trước đây mùa thu hoạch xe máy tấp nập ngày đêm, những dãy kho ăm ắp lúa ngô…

 

Đi một đoạn đường nữa tôi bất ngờ yêu cầu Đạo dừng xe. Ôi chao! Một cảnh đẹp thơ mộng bày ra trước mắt. Thung lũng hẹp, bãi cỏ xanh rì. Một đàn ngựa đua cổ cao, ngực vạm vỡ, chân thon các màu đang ung dung gặm cỏ, bờm khẽ tung trong gió. Sao ở cái chốn thâm u này lại có một trang trại nuôi ngưa đẹp đến mê hồn? Ngay gần đó là dãy nhà cấp 4 ngói đỏ tươi giữa một không gian thoáng đãng. Một bãi cỏ rộng được quây bởi những cọc gỗ thông với những thanh ngang chắc chắn. Đạo bảo thung này thấp, có độ ẩm cao quanh năm, cỏ luôn tươi tốt .Tư nhân đã mua của các hộ dân làm nơi nuôi và huấn luyện ngựa đua nòi để bán cho các câu lạc bộ, và trường đua ngựa không chỉ trong nước Bun mà nhiều nước khác trên thế giới. Rồi Đạo kết luận : “Cứ ở nơi nào có bàn tay tư nhân, tư bản nhúng vào là nơi ấy có sinh khí, có phát triển…”

 

…ĐẾN  THÀNH  PHỐ

 

Ở  Plovdiv tôi đi khắp 4 phương, 8 hướng, từ trung tâm đến các ngõ ngách trong thành phố. Gần trung tâm, tôi dừng khá lâu trước sân vận động thời Đế quốc La Mã có tuổi đời từ thiên kỷ thứ 4 trước công nguyên mà nay chỉ còn lưu lại một phần để thu hút khách du lịch. Đứng trước các nhà thờ Hồi giáo của Đế quốc Ottman ( Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) mái vòm lộng lẫy được xây trong thời kỳ 500 năm đô hộ nước Bun. Chầm chậm bước dọc con đường đi bộ dài, rộng từ giũa trung tâm thành phố tới con cầu thơ mộng bắc qua sông Maritsa tôi chú ý quan sát hai bên. Ngay giữa trung tâm mà có những ngôi nhà khá cổ kính từ tầng 2 vôi vữa lở lói, các cửa sổ bụi bám kín các ô kính. Tầng 1 tường được sửa sang quét ve, khung cửa sơn các màu là những Kiot tư nhân thuê hoặc mua lại để kinh doanh, bán đủ loại hàng xen kẽ với những tiệm cà phê, giải khát, cửa hàng ăn nhanh Madonal. Vào thứ 7, chủ nhật người đi lại tấp nập nhưng ít thấy người ghé vào các Kiot. Chiếc cầu bắc qua sông thơ mộng xưa là nơi trai gái hẹn hò ngắm hoàng hôn rực vàng thu lá đổ nay bị ngăn lại. Hai bên lan can tiến vào giữa cầu chừng hơn 1,5 mét được bịt kín bằng vật liệu nhẹ thành 2 dãy Kiot. Trùm lên là mái vòm Polime trắng để lấy ánh sáng trời. Những Kiot này cho tư nhân  thuê để bán hàng, mỗi ô rộng chừng ba bốn mét vuông. Tôi nuối tiếc dòng sông quanh co, lững lờ trôi giũa đôi bờ cỏ cây vàng rực. Đến đầu cầu phía nam tôi gắng chụp một bức ảnh hàng cây ven bờ óng ánh vàng trong chiều hoàng hôn  thành phố của 7 đồi, 5 cầu thơ mộng.

                                             

Ở trung tâm có rất nhiều  “khu đất vàng” bị bỏ hoang. Đó là những nhà máy, xí nghiệp cửa hàng bách hóa lớn nay bị xẻ ra từng mảnh thành các cửa hiệu, cơ sở sản xuất thủ công, nhà kho của tư nhân. Nhiều biệt thự tư nhân sân vườn lá vàng lớp lớp chồng lên nhau, cỏ kín lối đi từ lâu bị bỏ hoang. Tôi luyến tiếc nói với Đạo: “Nếu hốt được ngôi nhà này mang về Hà Nội anh tin rằng có trăm tỷ cũng không mua nổi”. Lùi ra rìa thành phố là những khu quân sự Hải, Lục, Không quân rộng lớn một thời là lá chắn thép của khối quân sự phe Xã hội chủ nghĩa để phòng thủ quân dịch tấn công từ phía Biển Đen, biển Trắng và Địa Trung Hải. Nhìn qua những tường rào bằng kim loại rỉ nhoét có nhiều đoạn đã rũ xuống có thể thấy xe tăng, pháo, máy bay trực thăng, các thiết bị quân sự hoen rỉ bỏ lại giữa những cây bụi và cỏ lút đầu.

 

Thành cổ Plovdiv (Old Plovdiv) có lẽ thu hút các nhà khảo cổ học hơn là với khách du lịch bình thường. Bởi lẽ ở nơi này chẳng có hướng dẫn viên du lịch, cũng chẳng có nhiều những sản phẩm du lịch đặc trưng để bán ngoài mấy cửa hàng vàng bạc và đồ thủ công thông thường. Rất nhiều nhà bỏ hoang không người ở, và cũng không ai thuê vì ít khách đến mua bán. Lớp trẻ thì bỏ đi đến những nơi trung tâm đông đúc, sôi động có nhiều thứ để chơi, để xem, để mua. Những nhà cổ theo phong cách kiến trúc La Mã có các mái vẩy từ tầng 2 vươn ra vỉa hè được chống bằng những thanh gỗ chữ V vuông góc sơn xỉn màu đỏ sẫm. Những con phố hẹp, ngắn, ngoằn ngoèo dốc lên dốc xuống được chôn (chứ không phải lát) bằng những viên đá đẽo thô sỏ có chiều cao chôn xuống đất chừng 35 cm đến 40 cm đủ mọi kích cỡ khấp khểnh đưa chân tôi leo lên điểm cao nhất. Đó là quả đồi có nhiều phiến đá tự nhiên gồ gề, nhẵn thín do phong vũ và người ngối bào mòn mấy nghìn năm. Một cây Dẻ gai đại thụ đứng riêng rẽ nơi đỉnh cao nhất sum suê cành lá đang lốm đốm vàng. Có mấy đôi trai gái đang ngồi dưới bóng cây cười đùa vui vẻ. Từ đây có thể nhìn bao quát gần 1/2 thành phố.

 

Thời thanh niên tôi có mấy người bạn học ở các trường Đại học nông nghiệp, Công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, Y học, Dầu khí nghe bạn miêu tả về nước Bun tôi như ông lão trong thơ Tố Hữu nằm mơ nước Nga. Tôi không thể tưởng tượng lại gặp một nước Bun như hôm nay?

 

 

SẼ  ĐI VỀ  ĐÂU ?

 

Sau khi thể chế Xã hội chủ nghĩa tan rã vào năm 1989, Bulgaria rơi vào khủng hoảng kinh tế xã hội. Lúc thì Đảng Cộng sản thắng thế, lúc phe Dân chủ nắm chính quyền làm xáo trộn mọi thứ. Các nhà máy, xí nghiệp đóng cửa, đồng ruộng bỏ hoang, thất nghiệp tràn lan, tệ nạn mại dâm, ma túy, tham những hoành hành. Những trí thức có trình độ cao, những công nhân có tay nghề vững lần lượt chia tay với đất nước để tìm đến chân trời hạnh phúc – nơi mà con người được tôn trọng nhân phẩm, được trả lương xứng đáng với năng lực của mình. Các cuộc thiên di từ xưa đến nay đều theo quy luật từ nơi khó khăn đến nơi dễ sống, dễ làm ăn, yên bình và hạnh phúc không thế lực nào có thể ngăn cản.

       Không đi sao được khi mà một bác sỹ giỏi chỉ được trả  1.500 Dollars, trong khi đến các nước trong Liên minh châu Âu được trả 5.000 Dolla trở lên. Không đi sao được khi thu nhập bình quân của công nhân, viên chức ở các thành phố lớn chỉ vài trăm Dollars chưa đủ để trang trải tiền điện và mua các nhu yếu phẩm thiết yếu. Đạo cho biết, ở Bun hiện nay người có thu nhập 200 Leva trở xuống (quy đổi thành 150 Dollar ) thuộc diện được nhà nước trợ cấp. Mà nào có trợ cấp được bao nhiêu đâu? Chỉ vài thứ cốt tử như bánh mì, dầu ăn, bơ  và tiền điện vào mùa đông để khỏi bị chết rét. Đồng thời chính quyền mở một số điểm cung cấp bữa ăn từ thiện cho người nghèo, người lang thang cơ nhỡ. Trong khi giá cả sinh hoạt 12 năm qua tăng  50 – 100%. Đặc biệt giá điện tăng nhanh đến chóng mặt – đến nỗi các gia đình nghèo không đủ tiền thanh toán hóa đơn điện. Vì vậy năm 2013 nhân kỷ niệm 135 năm nước Bun được Nga hoàng giải phóng khỏi ách đô hộ của Đế quốc Ottman, những cuộc biểu tinh nổ ra khắp các thành phố lớn như: Sofia, Plovdiv, Burga, Blagoevgrad, Ruse, Sliven…Đặc biệt thành phố Vange trên bờ Biển Đen có tới 50.000 người xuống đường. Làn sóng công phẫn đã buộc tổng thống phải từ chức.

 

Trao đổi về những vấn đề xã hội bức xúc, về nỗi nghèo đói và lòng dân bất yên, Đạo lại đưa ra một kết luận đanh thép: “Bất kỳ cuộc chiến tranh nào, cuộc đảo chính, cuộc tranh giành quyền lực nào của giới cầm quyền nhân dân luôn là người thua cuộc và thiệt thòi nhất!” Thời thanh niên Đạo vốn là người ít nói. Sau mấy chục năm gặp lại tôi biết anh đã qua nhiều trải nghiệm nơi xứ người, suy ngẫm về những gì xảy ra trong một thế giới đầy bất ổn nên mới có những triết lý sâu sắc như vậy.

Tôi và Đạo đã đi các siêu thị lớn ở Bun, hầu hết là những siêu thị Đức. Có 2 siêu thị Đức đối diện nhau chỉ cách nhau một sân đỗ ô tô hẹp cạnh tranh nhau, có siêu thị mấy tầng có sàn đỗ ô tô trên tầng thượng chứa được vài trăm ô tô. Cái nào cũng ăm ắp hàng hóa, nhưng nhìn vào giỏ mua hàng của người Bun tôi thấy chủ yếu là nhu yếu phẩm thiết yếu và ít khi đầy giỏ. Trong khi ở Đức và ở Pháp tôi chứng kiến giỏ xe đẩy của họ đầy ắp hàng hóa. Họ bước ra với vẻ mặt phấn chấn, phơi phới niềm vui. Siêu thị chính là chiếc Hàn thử biểu đo nền kinh tế, sức mua và mức sống của người dân.

   Lẽ ra một đất nước ít dân, đất đai rộng và phì nhiêu, con người nhân hậu chăm chỉ, có nhiều lợi thế về du lịch văn hóa lịch sử, có tiềm năng về nông nghiệp, công nghiệp phải được sống no đủ sung túc. Vì cớ gì họ phải chịu nghèo đói? Lỗi bởi đâu? Chủ quan hay khách quan? Sẽ có nhiều cách giải thich khác nhau. Nhưng điều chắc chắn là không phải lỗi của nhân dân, của những người lao động cần cù luôn yêu đất nước Tổ quốc mình…

( Còn nữa )

                                                      

                                                                                  

 

                       

 

 

 

                   

                            

                               

Nguồn tin: Bùi Việt Mỹ

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 1 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây