TS. Đỗ Anh Vũ
Nam Thanh là một người thủy chung, bền bỉ, sâu nặng với thơ. Trong thanh lặng là tập thơ thứ tư với những bài tâm đắc của anh.
Trong thanh lặng gồm 47 bài thơ được chia làm ba phần khá cân bằng: Âm điệu tình người. Hương sắc tình hoa. Âm vang tình đất tình đời. Như chính nhan đề tập thơ đã phần nào hé lộ cho người đọc, Nam Thanh không thích những gì ồn ào, đại ngôn. Anh lặng lẽ, khiêm nhường trong hành trình cầm bút. tự chọn một con đường riêng, xác lập lối đi riêng, đi vào sự lặng thầm sâu thẳm để tìm ra những hạt ngọc chữ, những hình tượng độc đáo, những kết tinh giá trị.
Phần Âm điệu tình người lấy thơ tình yêu đôi lứa làm âm hưởng chủ đạo. Người phụ nữ trong thơ Nam Thanh nhẹ nhàng, thanh thoát, song hành cả những hạnh phúc và khổ đau:
Em bước từ hoa ra hay hoa nở thành người
Anh chỉ thấy dáng em ngồi hoa nở
Tay em cởi mọi buồn đau dang dở
Của kiếp hoa hay của cõi người?
(Dáng cúc)
Tình yêu trong thơ Nam Thanh đa phần là những câu chuyện đã qua, thuộc về một vùng ký ức lung linh, thế nên trong thơ anh, ta bắt gặp rất nhiều nỗi nhớ:
Nụ cười khêu lên mùi nhớ
(Mùa nhớ)
Hoa thương nhớ ai để nỗi đau hóa gió…
(Vò võ nước trời)
Chiều vơi dần trong mắt
Nỗi nhớ dâng ngập cây
Cây thương ai mà đỏ lá chiều nay
Trong im lặng nghe đầy lời em nói!
Em ở đâu giữa mùa thu sương khói
Lá đỏ bay!Phận lá lênh đênh
(Lá đỏ)
Nam Thanh còn lắng nghe được bao tiếng lòng thầm lặng của những người phụ nữ chất chứa đầy đa đoan trong những câu chuyện của riêng mình. Những câu thơ của anh có lẽ đã góp phần an ủi, sưởi ấm những nỗi niềm buồn vui ấy:
Người đàn bà không biết ngày đêm
Chìm trong mối tình câm với người xa khuất!
Người đàn bà không nghe được hơi thở mùa hè phảng phất
Không nghi được mùa xuân đang rời chân mình ra đi
…
Người góa phụ ôm vai mình
Nghe trong lòng hơi ấm một vòng tay
(Tiếng sấm chuyển mùa)
Với một tình cảm chân thành “đem hồn ta để hiểu hồn người”, Nam Thanh đã chớp được tứ thơ hay qua một bài thơ ngắn gọn, cô đọng mà giàu sức gợi:
Anh không sợ ngày mai biển cạn
Khi suối sông nước ngại xa nguồn
Anh không sợ con đường dừng lại
Khi mắt ai nhìn mỏi mệt với bàn chân
Anh không sợ ngày xanh rời xa anh
Khi em quay đi không ngoái đầu nhìn lại
Anh chỉ sợ giọt nước mắt em rơi
Anh không nhìn thấy…
(Anh chỉ sợ)
Đem đối lập tất cả những điều không sợ bên cạnh một điều sợ, chỉ để làm nổi bật một thông điệp: Tình yêu của anh dành cho em lớn biết chừng nào. Bất cứ lúc nào anh cũng dõi theo em, cũng lắng nghe từng nhịp đập của em…
Nam Thanh còn khiến tôi xúc động với những câu thơ viết về tình cảm gia đình, để khi khép lại bài thơ, còn khắc sâu mãi trong ta hình ảnh mẹ:
Mẹ nằm đó!
Ngày về xanh trên mộ!
Nấm cỏ thành quê sương khói bốn mùa
Con đường dài rợp bóng mẹ một đời qua!
Dòng sông chảy về trời trong hình dáng mẹ!
Mẹ nằm đó!Hương lúa về xây mộ
Tháng ngày mòn theo bước mẹ mỏi ngày
Trăng bên trời cúi ru một dòng sông
Nước vẫn nước mà con mất mẹ! ( Mẹ )
Ở phần thứ hai - Hương sắc tình hoa, người đọc thấy hiện lên chân dung một nhà thơ yêu hoa sen say đắm. Anh có một chùm tới 5 bài về sen gồm: Khúc ca hoa sen, Tình sen, Sen hay em đến cầm tay, Đời sen, Cõi sen. Sen trong thơ Nam Thanh đồng nhất, hòa quyện với vẻ đẹp của của phẩm giá con người nói chung, của người phụ nữ nói riêng trong một tình yêu thanh sạch:
Đôi môi em nuôi những giấc mơ sen
(Khúc ca hoa sen)
Anh yêu em và anh yêu sen
Yêu nụ cười sen trên môi em nắng lửa
Yêu hương em! Sen thơm từng hơi thở
Yêu dáng em mềm trong dáng sen
(Tình sen)
Kìa em sen thắm má đào
Bước chân hoa nở, váy ngào ngạt hương
(Sen hay em đến cầm tay)
Trong một bài thơ khác, Nam Thanh đã nâng tình yêu hoa lên một tầm khái quát triết học, nhìn thấu cả số phận linh hồn trong mỗi kiếp hoa. Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước từ trước 1945 đã từng có ca khúc Kiếp hoa nổi tiếng:
Ai có ngờ đâu
Khi ánh tà dương
Lắng sau màn sương
Hoa lìa cành biếc
Hồn theo gió vương
Thì đến bây giờ, ta bắt gặp trong thơ Nam Thanh một niềm đồng cảm tha thiết, mãnh liệt của một tâm hồn nhạy cảm, biết nâng niu thương tiếc những gì sớm tàn phai:
Mong manh kiếp hoa! Dâu bể phận người!
Xót xa chờ luân hồi! Trọn kiếp tình chia cách?
Đêm đêm những bông hoa rơi nước mắt
Thầm thương kiếp người…
Ôm nỗi buồn thiên thu không thốt được thành lời
Cây nở bừng một mùa hoa
đớn đau rực rỡ!
Trong phần thứ ba của tập thơ - Âm vang tình đất tình người, nhà thơ ghi lại những rung cảm, chiêm nghiệm, suy tư của mình khi đi qua nhiều vùng đất khác nhau. Bàn chân của anh từng đi đến những chân trời xa xôi ngoài lãnh thổ Việt Nam như (Đứng trước ngôi đền Bayon ở Campuchia anh chiêm nghiệm
Kìa ai múa Áp Sa Ra
Em từ cõi đá bước ra cõi người
Thiên thu soi giữa đất trời
Nỗi đau đá nở nụ cười Bay On
(Nụ cười BayOn)
Những câu lục bát cuối cùng khép lại bài thơ này, cũng đồng thời khiến chúng ta suy nghĩ không nguôi về thông điệp người xưa gửi gắm lại qua mỗi tác phẩm nghệ thuật, là kết tinh tâm huyết, là số phận của dân tộc, của mỗi con người trong một thời đại vàng son.
Dường như đi xa để về gần, viết về những địa danh, vùng miền, những không gian văn hóa Việt Nam mới là dấu ấn đậm nét trong thơ Nam Thanh. Bàn chân nhà thơ đi từ Bắc chí Nam, mỗi vùng miền đi vào thơ anh mang một vẻ đẹp đặc trưng riêng có. Anh viết về Hà Nội với giọng thơ hào hùng âm vang khỏe khoắn:
Tiếng đàn bay! Tiếng đàn bay!
Treo tiếng khóc cười vào nước mây
Nốt cao vút ánh gươm
Nốt trầm mờ hơi lụa
Âm thanh cuộn trào thác đổ
Bốn dây phần phật bão dông
Thăng Long Đông Đô thở trong hồn anh
Khi tiếng đàn em bay lên ngàn năm dâu bể
(Tiếng đàn Thăng Long)
Bắc Ninh hiện ra với nét đẹp đằm thắm cổ truyền của người con gái quan họ:
Áo tứ thân khăn mỏ quạ
Dải yếm thắm nón ba tầm
Trải bao buồn vui tháng năm
Mà nên duyên người quan họ
(Em bước ra từ quan họ)
Ngược lên vùng Tây Bắc, Nam Thanh có thơ về Tuyên Quang, về Mường Lò với những nét đẹp đặc trưng của người con gái dân tộc miền núi:
Em là con của cánh rừng ban
Em bước ra từ cánh ban trong trắng
Dịu dàng khăn piêu áo cóm
Duyên dáng hàng cúc bướm dải lưng xanh
Ánh trăng thấy em nhấp nhỏm không yên
Bay xuống hòa vào điệu xòe em
(Anh say điệu xòe)
Với nơi địa đầu tổ quốc, Nam Thanh có được những câu thơ mãnh liệt và dữ dội:
Mã Pí Lèng! Mã Pí Lèng
Ngựa thở ra mây
Móng mòn đá núi
Đường tình yêu không tới
Nước mắt sông Nho Quế dâng đầy
…Đá! Đá tua tủa! Đá nát trời! Đá bầm dập theo chân anh đi tìm em chẳng
gặp
Chỉ gặp tiếng khèn gọi bạn tình chênh vênh cao nguyên
(Tiếng hát cao nguyên đá Hà Giang)
Vào với Tây Nguyên, thi sĩ mang đến cho chúng ta những câu thơ mang âm hưởng hùng vĩ hoang sơ, phóng khoáng bay bổng của núi rừng:
Mái nhà rông lợp bằng lớp lớp tiếng cồng chiêng
…Tiếng cồng tiếng chiêng treo đầy ánh mắt con trai con gái
…Tiếng chiêng tiếng cồng quấn phập phồng hơi thở con gái con trai
…Hồn anh phấp phỏng bay trong tiếng cồng tiếng chiêng dài như nỗi nhớ
(Vòng xoang Tây Nguyên)
Còn với vùng đất của người Chăm, vẻ đẹp người con gái hiện lên mộc mạc, quyến rũ và đấy bí ẩn:
Bước ra từ tháp đôi ngàn năm
Em mang hương trời hương đất
Ủ trong tháp cổ bao đời
làm anh say như mật
(Vẻ đẹp Chăm)
Và dù có viết về bất cứ vùng miền nào trên lãnh thổ Việt Nam thì sâu xa trong mỗi dòng thơ vẫn là tình yêu tổ quốc tha thiết, là niềm tự hào sâu sắc bởi mỗi vẻ đẹp như thế được đánh đổi bằng bao máu xương, bằng bao hy sinh của lớp lớp tiền nhân, đúng như những câu thơ anh đã viết trong bài Có nơi nào:
Có nơi nào phượng đỏ như nơi đây
Khi đất đai được tưới bằng máu thắm
Có ở đâu trăng sáng như ở đây
Khi trăng mọc trong mỗi trái tim người
Trước khi tốt nghiệp khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, Nam Thanh từng là một người lính giai đoạn trước 1975. Thơ Nam Thanh được hun đúc cả bằng cảm hứng lịch sử bi tráng và chất trữ tình đắm say của một hồn thơ sâu lắng. Trong thanh lặng là tập thơ đánh dấu độ chín của phong cách và giọng điệu thơ Nam Thanh.
Đ.A.V