
TRẦN ĐĂNG KHOA

Nhà thơ Trần Ðăng Khoa sinh năm 1958 tại thôn Ðiền Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Thanh, Hải Dương, hiện ở Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1977), Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội. Ông tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du, tốt nghiệp Học viện Văn học Thế giới mang tên M.Gorki (CHLB Nga), từng là lính Hải quân, học viên trường Sĩ quan Lục quân. Nổi tiếng là “thần đồng” thơ từ khi mới 7, 8 tuổi. Tập thơ Từ góc sân nhà em in ở NXB Kim Ðồng lúc vừa tròn 10 tuổi. Ngoài thơ ông còn viết phê bình văn học, truyện, ký.
Tác phẩm chính:
- Từ góc sân nhà em (thơ, 1968)
- Góc sân và khoảng trời (thơ, 1968, 1973, 1976... tái bản lần thứ 20 năm 1995)
- Thơ Trần Ðăng Khoa (tập 1, 1970)
- Khúc hát người anh hùng (trường ca, 1974)
- Trường ca Trừng phạt…
Nhà thơ Trần Đăng khoa đã được nhận nhiều Giải thưởng văn học trong nước và quốc tế từ khi in tập thơ đầu tiên.
Bài ca người lính thời bình
Đất nước không bóng giặc
Tưởng về gần lại xa
Vẫn gian nan làm bạn
Vẫn gió sương làm nhà
Bãi hoang thành đô thị
Ai đi áo dài bay
Còn ta thì trần trụi
Lấm lem hơn thợ cày
Trước giặc là lính cựu
Sau trâu là tân binh
Cái nghèo và cái dốt
Bày trận giữa thời bình
Em vẫn thầm lộng lẫy
Chờ ta như thuở nào
Lặn lội tìm biết có
Gặp ta trong chiêm bao
Giờ những kẻ thù xưa
Trông mặt đều quen cả
Có gì đâu máu người
Chẳng phải là nước lã
Các cậu đến làm bạn
Thôi thì xả láng chơi
Còn nếu sang làm giặc
Chúng tớ cho chầu giời!
Pháo nằm như mơ ngủ
Núi bay dải mây tình
Các cậu đừng có tưởng
Chúng tớ - lính thời bình...
Đầu xuân, uống trà cùng bạn
Nhắp chén trà thứ nhất
Da thịt bỗng toả hương
Đời thực thành cõi mộng
Trần gian hoá thiên đường
Ta nâng chén thứ hai
Cho đất trời tinh khiết
Tâm ta bừng sáng ra
Biết thêm điều chưa biết
Mai sau đời dẫu tuyệt
Chắc gì hơn lúc này
Nào nhâm nhi chén nữa
Hai đứa mình cùng… bay…
Đỉnh núi
Tặng đồng đội tôi ở Quân khu I, nhân 50 năm thành lập Quân khu
Ta ngự giữa đỉnh trời
Cạnh một vùng biên ải
Cho làn sương mong manh
Hoá trường thành vững chãi
Lán buộc vào hoàng hôn
Ráng vàng cùng đến ở
Bao nhiêu là núi non
Ríu rít ngoài cửa sổ
Những mùa đi thăm thẳm
Trong mung lung chiều tà
Biết bao chàng lính trẻ
Đã thành ông bố già
Áo lên màu mốc trắng
Tóc đầm đìa sương bay
Lời yêu không muốn ngỏ
Sợ lẫn vào gió mây
Bỗng ngời ngời chóp núi
Em xoè ô thăm ta
Bàng hoàng, xô tung cửa
Hoá ra vầng trăng xa.
Hoa bay ghềnh đá đêm ngày
Sóng xô và biển vọng đầy âm vang.
TUYẾT NGA

Nhà thơ Nguyễn Thị Tuyết Nga sinh năm 1960, quê quán: Nghệ An
Bút danh: Tuyết Nga, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội
Tác phẩm chính: Viết trước tuổi mình, Đường số phận, Ảo giác (2003), Hạt dẻ thứ tư,…
HƠI ẤM
Hơi ấm từ bóng tối
sự dịu dàng từ những cơn mưa
từng món quà chẳng thể cầm tay buông lơ lửng
ngôn từ ẩm ướt
thảo nguyên anh bên em như giấc mơ trưa chợt nhoà
chợt hiện
Anh đến từ xa thẳm
một mùa ta đã quên cúc bất tử ven đường
một vùng sóng không reo không gầm gào
biển đứng…
bỏ lang thang kí ức ngủ hiên nhà
Ấu thơ gầy guộc buồn còn nép gốc bàng kia
mắt trai trẻ đắm chìm bờ sông ấy
đêm không trăng mộng du nào rớt lại
một trái tim trên nóc phố không mùa
Giấc muộn màng trên những cánh đồng trưa.
NGUYỄN BẢO CHÂN

Nhà thơ Nguyễn Bảo Chân sinh năm1969, quê Thanh Hoá. Cha là nhà văn Nguyễn Anh Biên, mẹ là nghệ sĩ ưu tú Ngọc Hiền, diễn viên kịch nói của Đoàn kịch Hải Phòng. Chị tốt nghiệp trường ĐH Sân khấu điện ảnh, hiện là biên tập viên Đài Truyền hình Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2002.
Tác phẩm chính:
- Dòng sông cháy (thơ, NXB Hội Nhà văn, 1994)
- Chân trần qua vệt rét (thơ, NXB Thanh niên, 1999)
- Những chiếc gai trong mơ (thơ, NXB Thế giới, 2010, song ngữ Anh – Việt)
Giải thưởng:
- Giải C của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cho tập thơ Dòng sông cháy.
Tình yêu
Đã bao lần em tự nhủ sẽ không đến với anh, cũng là bấy nhiêu lần em dừng chân trước khuôn cửa ấy. Đã bao lần em tự nhủ đó chỉ là những run rẩy mơ hồ, sao má em bừng cháy, và đôi mắt không biết im lặng của em cứ gọi tên anh.
Em vỡ ra từng mảnh nhỏ để chính những mảnh vỡ đó găm vào thịt da em nhức nhối quá chừng. Em xâu năm tháng đời ta làm chuỗi vòng ốc. Anh ở đầu này. Em ở đầu kia. Chỉ cần một nút thắt là chúng ta bên nhau.
Kẻ đi trong hang tối chưa thể quen ngay với ánh mặt trời. Nhưng chính bóng tối đã đưa em đến.
Em gõ cửa. Mình buộc vào nhau những nút thắt dịu dàng.
1991
Im lặng
Có những điều không thể nói với anh
Em lặng lẽ như con tằm
rút mình làm tơ óng
Em trải tình yêu dưới mặt trời
Em dệt tình yêu thành ánh nắng
Anh là cơn mưa nôn nóng
Để ướt hết tơ vàng em hong.
5/1992
Thời gian
Xoè tay mà ngắm thời gian
Đường dọc vừa sớm lối ngang đã chiều
Đá mềm nâng mỗi gót rêu
Ngàn năm phong kín bao nhiêu nẻo về
Ai còn đắm giữa sông mê
Ai vừa rũ bụi, ai đi tìm người
Đi cho đau mỏi đất trời
Nổi chìm dâu bể ai thời biết ta
Chùa gần thỉnh tiếng chuông xa
Bồ đề lẳng lặng xanh qua tháng ngày
Nỗi niềm cổ thụ ai hay
Nắng mưa không tuổi gió đầy trĩu vai
Má đào thoắt đã đào phai
Mà xuân thoắt đã Giêng Hai rỡ ràng
Buồn vui thoắt đã cũ càng
Lòng tay sấp ngửa thời gian rối bời.
2/2005
Cô đơn
Ta lại về nơi
không ai chờ đợi
chỉ nỗi buồn
tựa cửa thờ ơ
Hoa giấy rơi
thảng thốt trước nhà
những mảnh trời vừa nguội
Chiều buông
bóng ta đổ về ta
nhức nhối
Bụi đường
Tóc rối
Lược cũng hững hờ
Ta về nhen lại những ước mơ
ngùn ngụt cùng hoa giấy nở
Giữa những cánh hoa
những tàn tro
ta nhặt nỗi cô đơn còn ấm lửa.
1997
NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ

Nhà thơ Nguyễn Thị Ngọc Hà sinh năm 1949, hiện sống tại Hà Nội; Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội. Đã in 7 tập thơ, 1 tập truyện ngắn, 1 tập tiểu thuyết; được trao giải ba cuộc thi lục bát của báo Văn nghệ năm 2003.
Nơi lũ tràn qua
Không chịu cũ
Tưởng nhớ mùa xuân năm 1979
Những trẻ trai đã hoá ngàn mây trắng
chỉ hương hồi hương quế ngát về em
mơ ánh mắt nụ cười tỏa nắng
mơ bước chân khuất dọc đường biên
Ngày luôn mới
nhớ thương không chịu cũ
giọt mắt trời còn đọng giọt giữa xuân
đại ngàn đã xanh lên từ quá khứ
mà vùng đau vẫn trỗi dậy không ngừng
Nao triền dốc
mong manh em áo gió
lên Tam Thanh chay tịnh tiếng chuông chùa
ảo ảnh bời bời khói nhang mờ tỏ
khoảng cách vô hình biết mấy trùng xa
Dưới phẳng lặng dòng sông chảy ngược
hỏi nỗi đau hóa đá có mòn.
Mẹ chồng
Con về làm dâu của mẹ
chén cơm đã mặn còn cay
nước mắt ứa ra từng giọt
thấm vào con trọn mỗi ngày
Một vùng mưa dầm nắng lửa
cháy lụi tận hạt lúa non
giong thuyền vượt trên cả lũ
ra sông mẹ vớt mất còn
Mùa khê dẻo tay sàng sẩy
thóc lép quặn bóng gieo neo
rơm gầy khó đan thành chổi
nên đâu quét nổi đói nghèo
Lớn cùng tương cà mắm nhút
bát đũa thầm lặng sắn khoai
trong đức dịu hiền của mẹ
chồng con đã trở nên người
Nay mẹ khoác phong phanh gió
bóng nước nghiêng hình ngang sông
mái chèo thời mẹ rẽ sóng
vẫn nguyên một vệt giữa dòng.
LÊ ĐÌNH CÁNH

Nhà thơ Lê Đình Cánh sinh năm1941 mất năm 2019, quê ở Thọ Xuân, Thanh Hoá. Ông tốt nghiệp Khoa Vật lý, Trường Đại học Sư phạm 1 Hà Nội, sau đó học thêm Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông từng là giáo viên dạy văn hoá của lực lượng Thanh niên xung phong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông có nhiều năm công tác ở Ban Văn nghệ Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam trước khi nghỉ hưu. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội. Gia đình ông cùng sống tại 168, đường Trường Chinh, Hà Nội.
Tác phẩm đã xuất bản:
- Đất lành (1984)
- Người đôn hậu (1990)
- Trời dịu (1996)
- Một mình anh đi (1976)
- Trên cao nguyên Tà Phình
- Mẹ ra Hà Nội
- Ai mua chổi rơm (1990)
Giải thưởng văn học:
- Giải Khuyến khích, giải Nhì và giải Ba cuộc thi thơ Tuần báo Văn nghệ năm 1972, 1976 và 1990.
Cõi xưa
Con về không kịp mẹ ơi
Cơi trầu đã khép lại lời trối trăng
Mái đầu đã lạnh sương giăng
Hàng mi chớp ánh sao băng cuối trời
Cỏ xanh đã hát thành lời
Áo nâu về với cuộc đời đất nâu
Thôi đành để lại phía sau
Câu hò sông Mã nửa đau nửa buồn
Sông Chu chớp bể mưa nguồn
Trời quê bão giật mây cuồn cuộn mây…
Trăm năm cây lúa vẫn gầy
Giếng thơi muôn thuở vẫn đầy ca dao!
Mẹ ra Hà Nội
Mẹ ra Hà Nội thăm con
Vừa trên tàu xuống chân còn run run
Áo nâu còn đẫm mưa phùn
Còn hoai vị cỏ sục bùn lúa non
Sang đường tay níu áo con
Ngã tư hối hả xe bon ngược chiều.
Khoác vai mẹ, chiếc đãy nghèo
Năm xưa thắt lại bao điều đắng cay
Đưa con trốn ngục những ngày
Vài lưng gạo hẩm thăm thầy trong lao…
Đã từng mở giữa trời sao
Nắm cơm tiếp vận tay trao giữa đèo
Củ khoai bẻ nửa nắng chiều
Bờ mương thoai thoải dài theo công trường
Đưa con đánh Mỹ lên đường
Nắm cơm mẹ gói tình thương quê nhà.
Bà ra bế cháu của bà
Những mong cùng ước lòng bà hôm mai
Lên thang chẳng dám bước dài
Vào khu tập thể gặp ai cũng chào
Lời ru bà thuộc thuở nào
Qua bom đạn vẫn ngọt ngào nắng trưa
Để hồn cháu có núi Nưa
Tiếng cồng Bà Triệu ngày xưa vọng về
Lam Sơn rừng núi ba bề
Lũng Nhai vọng mãi lời thề nước non
Trải bao sông cạn đá mòn
Còn con còn cháu nên còn cha ông
Mới xa đã nhớ ruộng đồng
Thương con mà chẳng đành lòng ở lâu
Run run mẹ bước lên tàu
Vị bùn vẫn thoảng áo nâu quê nhà.
Gió đất
Người còn tên. Người mất tên…
Giãi dầu mưa nắng nằm bên giãi dầu
Gió sương cỏ dại phai màu
Nấm mồ liệt sĩ như nhau nấm mồ…
Vợ nghèo nước mắt chưa khô
Nẻo đường rơm rạ tìm vô thăm chồng
Quê nhà mấy bận bão, giông
Vỡ đê nước ngập trắng đồng lúa xanh
Mãi lo cơm đủ áo lành
Còn đâu lúc rỗi để thành Vọng Phu.
Khói hương như thể mây mù
Trắng trời lớp lớp lau gù đội tang
Xạc xào gió lá nguỵ trang
Gió từ cõi đất gió sang cõi người!
Người đôn hậu
Không ngờ em thuộc thơ tôi
Những câu lục bát viết hồi chiến tranh
Đêm nằm mơ đã gặp anh
Võng Trường Sơn chạm trăng xanh lá rừng…
Gặp tôi em thở ngập ngừng
Như khi mặn muối cay gừng trong mơ
Người đi ra trận không ngờ
Xa xôi có một nơi chờ thành quê!
Người trong mơ giữ lời thề
Người trong thơ vẫn hiện về đêm đêm
Câu thơ như thể lạt mềm
Người đem buộc chặt tôi thêm với đời…
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
GIAO LƯU VĂN HỌC CHI HỘI
Nhà thơ NGUYỄN ĐỨC MẬU - Màu hoa đỏ đã mây bay
TRỞ THÀNH NHÀ VĂN TỪ NGHỀ LÀM BÁO
TÔI XIN THỀ LẠI LỜI KHÔNG MUỐN THỀ - Câu thần chú bỏ quên của người Kẻ Chợ trong thơ Nguyễn Thành
PHÙNG VĂN KHAI VỚI THƠ TỰ VẤN NGHIỆT NGÃ XỐI XẢ
MỘT THOÁNG VỚI NGHỆ NHÂN ƯU TÚ TRẦN THỊ LIỄU
Trang thơ Tháng Tư của nhiều tác giả
ĐIỆU TÂM HỒN
TRẠNG BÙNG PHÙNG KHẮC KHOAN - Bậc đại trí thức nho gia và mối lương duyên sâu nặng với đạo Phật
Nhân duyên’ - cõi thơ thiền của một người lính
Năm tác giả thơ (9)
CUỘC THI VIẾT về gương điển hình tiên tiến, người tốt việc tốt… trong phong trào thi đua yêu nước… năm 2026
QUÊ MẸ - Trường ca của Phùng Trung Tập
Chiến tranh và chiến tranh(*) - Tiếng kêu thương thảm khốc!- Tiểu thuyết của Krasznahorkai László - Nobel văn học - 2025.
Hoài niệm Tháng Ba - Thơ nhiều tác giả