P. Gs, Ts Nguyễn Bích Thu
Dường như trong thơ Nam Thanh từ Tình sen (2020) , Con đường anh hái (2021) đến Nhắm mắt vào sẽ thấy (2023) vừa có sự quen thuộc, nhất quán trong thi hứng lại có sự vượt thoát, biến ảo ở cách nhìn và cách diễn đat, nhất là trong tập thơ mới Trong thanh lặng. Bằng cách thức vừa thăng hoa vừa khơi gợi, bung nở mà tinh tế, giản dị mà khác lạ của một cái tôi tràn đầy năng lương trong cảm hứng sáng tạo. Chẳng thế mà không phải ngẫu nhiên trước đó “nhắm mắt vào” tưởng không thấy gì thì “sẽ thấy”, rồi hôm nay có tuổi hơn tưởng náu “trong thanh lặng” để an yên thì trái tim lại như muốn động cựa, tóm lại đặt tên thế mà không phải thế, chỉ còn cách đi vào thế giới thơ Nam Thanh…
Nếu như ở tập thơ Nhắm mắt vào sẽ thấy , nổi bật cái nhìn nhân sinh thế sự, mang tinh thần “phản biện” của một cái tôi đầy băn khoăn day dứt: Đôi mắt mỏi mòn cả đời đi tìm hạnh phúc/ Nhưng đôi chân luôn bước nhầm vào căn phòng bất hạnh/ Những đôi chân mang gánh nặng đời người/ Chỉ nhìn thấy căn phòng để nghỉ ngơi (Căn phòng hạnh phúc). Hay khơi gợi những suy tư bật nảy từ sự tương phản: Anh đâu biết là anh đang chết/ Qua những vui cười dễ dãi hàng ngày/ Anh đâu biết là anh sống lại / Khi nuốt được nỗi đau lặng lẽ vào người (Sống lại). Thì Trong thanh lặng cảm hứng sáng tạo của chủ thể trữ tình bao trùm tình yêu với thiên nhiên, đặt con người trong tương chiếu với thiên nhiên, thể hiện những khoảnh khắc của tâm trạng cá nhân trong sự giao hòa với thiên nhiên, quyến luyến tình hoa, tình đời phong phú đa dạng và đồng hiện như kiểu “liên văn bản” , liên không gian với cảm hứng xuyên suốt và ảo diệu. Trong thanh lặng cảm thức thiên nhiên hình thành rõ nét, được gắn kết hệ thống, cấu trúc thành các chủ đề: Âm điệu tình người; Hương sắc tình hoa; Âm vang tình đất tình đời. Và những chủ đề ấy vừa hội tụ, vừa khơi sâu như những liên khúc hòa kết tình cảm con người với vạn vật, muôn loài trong tự nhiên, không đơn thuần là thế giới con người nhìn thấy mà chính là một cái gì đó thuộc về bên trong, trưng xuất bởi những nhu cầu nội tại của người sáng tác, cho thấy thiên nhiên là nơi an trú, chứa chất những trạng thái tâm hồn của nhà thơ.
Chủ thể thơ Trong thanh lặng luôn nhắc đến chữ tình nhưng không lụy tình. Chữ tình của Nam Thanh bao chứa mọi cung bậc tình cảm con người với thiên nhiên, là những tương tác quyện hòa trong cái nhìn về sự dịch chuyển của mùa, của năm tháng đời người. Nếu như ai đó nói tới thiên nhiên - lịch bốn mùa là vòng quay của thời gian hay đơn thuần là nhịp đi của tháng ngày thì mùa Trong thanh lặng lại là tâm trạng con người song hành ký ức và hiện tại của người đàn bà: Tháng tư chuyển mùa bằng cơn mưa nổ vang sấm chớp/ Choàng vỡ giấc mộng đắm chìm của người đàn bà mất ngủ đêm đêm/ Tháng tư môi dậy đỏ sắc loa kèn/ Gió thoảng hơi đàn ông xanh cây cỏ (Tiếng sấm chuyển mùa). Nhà thơ như thấu hiểu nửa đời đã qua “bao khúc buồn vui” của người đàn bà, nhân vật trữ tình bỗng một thoáng bối rối khi “một sớm mai gặp mùa xuân trở lại”. Từ một loài hoa gợi nhớ heo may: Ánh mắt đầy vơi mùa thu về đâu/ Em mơ gì mà nở ra mùa hoa cúc / Hoa nghĩ gì mà mùi hương day dứt/ Trở trăn thơm trong hơi thở tháng ngày. Không chỉ gợi mùa, hoa cúc vàng như “nỗi nhớ dây dưa” trong thơ Tế Hanh ngày nào vượt biên độ, đa nghĩa hơn hóa thành “mùa nhớ”. Không phải ngẫu nhiên hay bắt gặp trong thơ Nam Thanh tâm trạng hoài niệm “Lòng sống dậy khoảnh khắc ngày xa cũ”; những thoáng gợi mà lay động “Nỗi nhớ ai khêu lên ngọn lửa/ cả một mùa lá đỏ/ Cháy trong anh”
Trong thơ Nam Thanh, thiên nhiên cũng là thực thể có sự sống, có linh hồn được coi như người bạn chia sẻ nỗi niềm, các trạng thái buồn vui của con người. Nhưng thiên nhiên trong cảm hứng sáng tạo của nhà thơ không chỉ là sự miêu tả, mang tính bao quát mà là sự cảm thấu, mang tính cụ thể, được kiểm chứng, chắt lọc qua những quan sát và chiêm nghiệm của một người thơ từng trải, biết nghe tiếng nói của các loài hoa và hương sắc đặc trưng của mỗi loài. Trong đó, hoa sen dường như đươc nhà thơ ưu ái hơn với chùm bài: Khúc ca hoa sen, Sen hay em đến cầm tay, Đời sen, Cõi sen và đọng lại là Tình sen, với tầng nấc tình cảm cứ dần đẩy cao lên đến lúc sen hóa vào em: Ai dâng tình sen lên đôi má/ Ai nhập hồn sen vào đôi môi/ Ai đưa buồn vui sen lên đôi mắt / Ai đem hương sen nuôi dài mái tóc / Mùa đã về tình em có như sen ? Đây là chùm sen gây ấn tượng với độc giả, bởi giọng trầm tư, triết lý, bởi hình ảnh sen mang vẻ đẹp hình thể và tâm hồn của người nữ, ở sự hóa thân “em trong anh mềm mại dáng sen”…và trong cõi sen “Những đóa sen lại nở hoa trên đá/ Lá tươi từng vân gỗ/ Nụ hồng cười trong chén uống , bát ăn/ Hương sen thơm cả ngoài cõi nhân gian”.
Không hiểu các nhà thơ nam khác có dành nhiều tình cảm cho hoa như Nam Thanh, người đọc như cùng nhà thơ bước vào khu vườn thiên nhiên với đa dạng các chủng loại hoa. Hoa ban ngày xưa độc vị ở miền núi Tây Bắc, giờ hoa đã tràn xuống miền xuôi, màu hoa ban về phố ngả sang tím hồng lan tỏa niềm vui đến với người đô thị. Rồi hoa sưa với màu trắng độc lạ riêng có. không thôi ám ảnh khiến người viết như cao hứng thăng hoa tung ra những câu thơ biến ảo: Tháng ba lấy gió làm ngòi bút/ Anh viết câu thơ gửi mây trời/ Nhớ em nhớ chất đầy năm tháng / Anh gửi vào trời đất có vơi?….Thời gian trôi : Giờ hoa sưa lại rơi trắng mái đầu/ Trắng ngọn gió, trắng tháng năm nhung nhớ / Em có bao giờ trở về chốn cũ/ Cây mấy mùa hoa vẫn đợi em… (Hoa vẫn đợi em)
Như trên đã nói, thơ Nam Thanh có sự chùng chình, nhòe mờ giữa quá khứ và hiện tai. Nhân vật trữ tình em hay anh không định vị, cũng như không soi chiếu vào chất liệu cái tôi mà nó tự thân đến và đi, vừa thực cảnh lại vừa ảo giác: Anh xa quê tóc trên đầu đã ngả; Vẫn lửa gạo chập chờn trong giấc mơ đêm: Những cây gạo vừa bay nhảy cạnh triền đê/ Đã biến thành dòng sông hoa nở/ Trôi chảy mãi một dòng đời thương nhớ (Dòng sông hoa nở). Ở phía người con gái: Trên môi em chập chờn mùa hoa phượng/ Mắt chớp dao cau không cắt được nỗi buồn thăm thẳm tự ngàn năm/ Vòm cây nào tiếng ve ngơ ngác xanh/ Bước chân ai chấp chới vào mùa thiếu nữ/ Nụ cười ra ràng bay trên lá môi bỡ ngỡ/ Bao nẻo đường giăng dưới bàn chân (Phượng hát)
Những “giấc mơ hoa”, những “chiều dã quỳ”, hay bông quỳnh buông sắc trắng trong đêm, đến hoa mơ đem mùa xuân về, rồi những hoa đỗ quyên, hoa ngâu…Hoa đẹp, hoa quyến rũ là vây, hoa là biểu tượng của thiên nhiên, của “kiếp hoa” cũng là biểu tượng của phận người, và hoa trong tư duy sáng tạo của nhà thơ đã mang ý nghĩa kép : Bao phận người đánh đổi lấy phận hoa/ Chờ cả kiếp hoa/ biết có ngày gặp mặt?/Mong manh kiếp hoa! Dâu bể phận người!/Xót xa chờ luân hồi! Trọn kiếp tình chia cách?/ Đêm đêm những bông hoa rơi nước mắt/ Thầm thương kiếp người…( Kiếp hoa) . Có thể bởi những giăng mắc ấy nên không phải bỗng dưng người làm thơ thường có những ý thơ tương phản “Chia tay là để mãi mãi còn nhau”, “Nụ cười hạnh phúc phút lìa xa”, “Cây bừng nở một mùa hoa đớn đau rực rỡ! “Em - sự cân bằng và đảo lộn trong anh”. Như vậy có thể cảm nhận cách nhìn cuộc đời của nhà thơ không đơn sắc một màu mà muôn màu, đa sắc khi đứng trước một “ siêu thị” hoa : Tôi thảng thốt trước màu vàng hoa hoàng lan, hoa cúc/ Lại sửng sốt trước chùm chùm sắc vàng hoa lá ngón đung đưa/ Những đóa hồng dịu dàng thơm bên hoa xương rồng khoe sắc/ Bông trúc đào mềm mại hồng tươi gợi nhớ môi thiếu nữ trăng tròn/ Có bông hoa mở đóng cánh ăn ong bướm côn trùng/ Hoa “ăn thịt” người như bao người thường gọi. (Tiếng đất) Trong cái nhìn của nhà thơ, thế giới con người hay thế giới thiên nhiên luôn vận động, biến đổi, vừa cân đối hài hòa, vừa đối lập, tương phản, vừa rực rỡ, vừa úa tàn, vừa tin yêu, vừa âu lo: Tôi thở giữa muôn sắc hương trời đất/ Nghe cây lá lặng yên mà đang cất nên lời. Hoa bừng thắm nhắc ai đừng quên lãng/ Bao vè đẹp hương thơm tàn độc ở trên đời.
Sau cảm hứng về hương sắc tình hoa, Trong thanh lặng lại âm vang tình đất tình đời. Ở đây người thơ đã phóng chiếu xa hơn tầm nhìn của mình về cảnh quan, đất nước. Trong sáng tác văn học, đặc biệt với thơ, dường như việc miêu tả một phong cảnh, một địa điểm, nơi chốn, vùng miền cũng thể hiện những cung bậc tình cảm để kiến tạo diện mạo tâm hồn của kẻ sáng tạo. Người đọc nhận ra những tên đất , tên làng, những địa điểm du lịch, những chứng tích lịch sử, văn hóa ít nhiều đều mang tâm thức sinh thái, in dấu ấn thiên nhiên, môi trường đồng vọng với cảm xúc, với tiếng nói bên trong của tác giả. Từ “trời biển Cà Mau”, người thơ nghe “hí hóp bùn non thở trên ngón chân người vươn ra biển mũi Cà Mau” và hòa vào cảnh quan: Những cây đước cây tràm mọc lên bao xóm thôn/ Hóa thân của bao kiếp người đi mở đất/ Những cuộc đời dạt xô trong sóng nước/ Nghe thấy trong đước tràm tiếng nói một làng quê. (Trời biển Cà Mau).
Đi về phia biển, nhà thơ gặp Côn đảo với dãy bàng trăm tuổi rễ ăn vào những mất mát buồn đau , đến sa mạc cát miền trung trải ngàn năm “cát vẫn cát mà xương rồng thành thanh long dịu mát”. Lên Tuyên Quang miền gái đẹp, tác giả bắt gặp một không gian xanh bạt ngàn “những đồi chè xòe ô trong nắng/ Hàng cọ buông những chấm xanh/ Em thả những bước chân/ Gót hồng tóc đen da trắng/ Môi cười sóng sánh say!/ Anh đi suốt một ngày không đi hết ánh mắt em! /Anh đi cả một đời không ra khỏi nụ cười em! Người đọc nhận ra trong thơ Nam Thanh, cảnh quan không đơn thuần là “thế giới chúng ta nhìn thấy mà còn là sự kiến tạo, sự cấu thành của thế giới đó” : Anh nghe khúc hát Chăm, điệu múa Chăm hiện về từ lịch sử/ Đôi tay em làm gốm và dệt vải/ Nghìn năm sống lại/ Trong sắc gốm Chăm trong thổ cẩm Chăm/ Hồn Chăm thở trong mỗi nét hoa văn…Tình đất tình em quyện hòa tình nắng gió/ Nở ra mùa cây trái sinh sôi. (Vẻ đẹp Chăm). Là “vòng xoang” nơi đại ngàn Tây Nguyên lưu giữ di sản văn hóa bản địa, được diễn tả qua những câu thơ ám thị, đầy gợi cảm: “Mắt tìm mắt, tay nối tay rộngmở vòng xoang/ Bao bầu vú tung tẩy theo nhịp chân điệu múa/ Tiếng trống gõ trong tim ngân rung từng nhịp thở /Quấn quýt tình người tình cây trái đất đai” (Vòng xoang Tây Nguyên). Là một Đà Lạt đặc trưng, thành phố ngàn hoa luôn có sức quyến rũ, mời gọi du khách: Má em thơm mùa dâu tây tươi đỏ/ Đà Lạt thở giữa đôi bàn tay nhỏ/ Quán cà phê mái lá cổ xưa/ Nhạc Trịnh ngấm vào bao giọng ca thành hơi thở làm mềm bao mái phố (Là em). Từ cao nguyên đá Hà Giang, “Anh lạc xuống nương lanh xanh ngắt một màu/ Váy thổ cẩm phơi tươi bờ rào đá/ Đâu tiếng hát em chập chờn mây gió” , người làm thơ vẫn không nguôi “nhớ Thái Nguyên”:
Lóng lánh cốc trà xanh/ Anh uống ánh mắt em thương nhớ. Và từ phương bắc nhìn về phương nam, hình ảnh người con gái Nam bộ luôn gắn với “nơi miệt vườn trĩu trịt tiếng chim/ Nơi gió sương ngậm hương trái chín/ Tình đất tình em ủ ấp bao mưa nắng/ Nở ra mùa trái ngọt bông thơm” ( Người con gái đất phương Nam)
Thời gian gần đây văn chương đã và đang đứng trước tình thế mâu thuẫn trong ứng xử của con người với môi trường, cảnh quan sinh thái, thậm chí còn nẩy sinh thái độ hoài nghi trước những mỹ từ ca ngơi thiên nhiên thì với tư duy sáng tạo của mình, nhà thơ Nam Thanh vẫn tìm thấy sự tương quan, giao hòa giữa con người với thiên nhiên, giữa tình hoa, tình đất, tình đời mang ý nghĩa nhân văn trong thơ anh. Đã từng là nhà báo, viết phóng sự, làm phim truyền hình, đi và trải nghiệm ở nhiều vùng đất trong và ngoai nước, và cứ thế những hình ảnh của thiên nhiên đất nước vào thơ một cách tự nhiên mà không dễ dãi của một người thơ đa tình, đa cảm sẵn có tay nghề và sở trường. Anh luôn có ý thức thiết tạo tứ thơ và thi ảnh từ toàn cảnh đến cận cảnh, từ ngoại cảnh đến tâm cảnh, khéo léo tạo đối sánh một cách lạ, riêng có nơi anh: Ai làm ra phép lạ/ Núi già thành núi non/ Cổ thụ bàng hoàng xanh/ Khi nhận ra vẻ đẹp của em (Vòng xoang Tây Nguyên). Và theo thói quen nghề nghiệp qua đôi mắt quan sát của Nam Thanh, thiên nhiên từ hoa lá, cỏ cây đến sông nước trời mây đều là những sinh thể sống động tồn tại ngang bằng với con người: Hoa thỏ thẻ điều gì với nắng/Nắng thầm thì gì với gió mây/ mà tiếng chim hót trắng rừng cây….Rồi em tới bất ngờ như gió tới/ lướt như bay sợ đau nhánh cỏ gầy /Ô xòe hồng , hoa váy thắt lưng xanh ( Giấc mơ hoa). Trong cách diễn đạt của Nam Thanh, anh tỏ ra đắc địa trong sử dụng các động từ với cách thức nhân hóa khiến câu thơ có hồn vía đầy sống động.
Trong các tập thơ của Nam Thanh, nhất là “Trong thanh lặng”, tôi đã đọc và cảm nhận thơ anh theo cách của người tiếp nhận, nghĩa là nhà sáng tác và người tiếp nhận có thể đối thoại với nhau. Ở ngoài đời nhà thơ là một người bình dị, chân tình và đôn hâu mà trong sáng tạo thơ tác giả lại tỏ ra kỹ lưỡng, dụng công trong chọn lời chuốt ý. Với nhan đề tập thơ, những tưởng thơ anh sẽ êm đềm “trong thanh lặng”, nhưng không, thơ anh cũng “tới bến” trong tình ý, trong cái nhìn thiên nhiên, cuộc sống và con người theo cách của mình, tĩnh mà động và điều đáng nói là “mang màu cờ sắc áo” của riêng anh, tạo được trường liên tưởng với người đọc…
N.B.T
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Sinh hoạt chuyên đề: Tính trung thực và nhân bản trong thơ Trần Thùy và Phùng Trung Tập
HỌA SĨ HỒNG HUYÊN VÀ NHỮNG MỐI TÌNH TRẮC TRỞ
ĐẠO LÀM NGƯỜI TRONG THƠ NGUYỄN TRÃI
TRẢ NHỚ CHO SÔNG - Những vần thơ trữ tình đưa con thuyền lục bát xuôi dòng sông lãng mạn
Tâp Trường ca NGÔI SAO ĐỎ TRÊN ĐỒI XANH của Phùng Trung Tập
VỀ VỚI XỨ THANH - thơ nhiều tác giả
Loài hoa thắp lửa gọi hè
Trang thơ Tháng Sáu của nhiều tác giả
ĐOÀN NHÀ VĂN HÀ NỘI ĐI THỰC TẾ SÁNG TÁC TẠI THANH HÓA
VÀI NGHĨ VỤN từ đám cưới sáng nay
BÉ CÁI NHẦM
Đọc tập thơ "Hoa cỏ lau" của Trương Vạn Thành
KẺ DỌN VƯỜN
Thơ viết cho mình - Tác phẩm và tác giả...
DẠT ‘VÒM” và CUỘC HỌP GẤP CỦA 4T