

"Làng Cao" bóng dáng ngôi làng xưa mảnh mai, thân thuộc phảng phất ảo ảnh như đứng trước bức tranh lụa hoài niệm về ký ức :
"Mái dạ ngàn năm mưa nắng dãi dầu
Đòn gánh tre mòn vai, uốn cong tấm lưng gầy cửa mẹ"- (Làng)
Từ góc nhìn khác cho ta thấy thế làng; Có gì đó phong trần, phương vị không hài hòa theo thuyết tam tài (Thiên- Địa-Nhân): " Dẫu có thấy bức tường xây trước mặt
Ngăn cái trong này và cái ngoài kia
Tên làng có từ xửa từ xưa
Mẹ bảo thế và tôi gọi thế" - (Làng Vách)
Làng là nơi nương náu tình người, tình đời, những cây cổ thụ lâu năm u mấu nơi cuối xóm đầu làng ngang tàng, khô khẳng, ma mị, đầy uy linh thách thức như thần cây nơi bản xứ; chứng kiến kiếp người, xâu chuỗi niềm vui, khắc chế nỗi buồn:
"Cây đa cổ thụ cuối làng
Khẳng khiu thân gầy lá úa
Cô gái khoe mình một nửa
Tiếng cười loãng cả hoàng hôn"- (Làng Cao)
Sinh ra từ làng, lớn lên trên đất làng, người thơ cũng mang trong mình khí chất hào sảng có chút năng lượng tích cực, đôi khi lại hoài ước, mơ mộng:
" Ta gọi em là xuân
Bỗng dưng lòng xao xuyến
Bởi mỗi lần xuân đến
Ta gặp tuổi xuân mình "- (Gặp lại tuổi xuân mình)
Trong âm dương ngũ hành có phần đối lập về thuộc tính; Cha thuộc tính dương (Mặt trời, trên, sáng, động, mạnh...). Mẹ thuộc tính âm (Mặt đất, dưới, tối, tĩnh, yếu...) tạo ra thế tương hỗ cân bằng cho một chủ thể hoàn chỉnh. Mẹ (đất) sinh, dưỡng vạn vật, thế mà:
" Đem chia mẹ bị mất phần
Thân già gầy guộc như cành củi khô
Mắt nhòa mất cả hướng đi "- (Điều không thể)
Bóng dáng người mẹ tảo tần nơi làng mạc, người đàn bà nhân hậu được tạo hóa ban cho quyền năng sinh nở và đức hy sinh cao cả gánh những gian truân:
" Người đàn bà gánh cuộc đời và đi
Trên đường không phẳng
Chẳng biết mây màu gì
Chỉ bóng mình đỏ sẫm" - (Người đàn bà gánh)
Cuộc sống đa sắc thái biết bao điều thuận lý, nghịch lý hiện diện giữa làng quê thân thuộc, mẹ được vẹn toàn là điều hạnh phúc cho tất thảy chúng ta:
" Đất nuôi cây ớt cay, đất nuôi cây mía ngọt "- (Khoảng cách trời và đất)
Từ ánh nhìn thấu thị tác giả cho ta thấy sự phân định về tính chất, trạng thái đều chỉ là gam màu ước đoán: " Khi đèn tắt
Mọi thứ đều giống nhau
Chẳng nhận ra
Giả -Thật " - (Khi đèn tắt)
Rồi một ngày (nếu) không gian làng bị phá cách đòi đổi mới, đòi cách tân; nhà đẹp hơn, đường phẳng hơn, rộng hơn. Gương mặt"Làng Cao" sẽ khác đi, nhà cửa thò thụt, cũ rách ọp ẹp, dần bị khuất lấp bên đô thị mới tráng lệ, san sát những tòa cao ốc. Vị thế "Làng Cao" nằm nép mình nơi đường dân sinh (cũ) và đường cao tốc (mới) giao nhau. Khóm tre bên đường, vỉa gạch chỉ nằm nghiêng biến mất như có phép ma thuật:
" Thời gian bao biến động
Quê trở thành già nua
Lùi dần vào khoảng vắng
Thương câu hát - Ngày mùa"- (Phố - Quê)
Từ bao lâu rồi, có thể chúng ta quên những đứa con của mẹ đã lớn. Chỉ giật mình, thảng thốt nhớ cảnh khi xưa ngồi quanh nồi bánh chưng đêm ba mươi ấm lửa:
" Nghe mẹ kể chuyện Lang Liêu
Làm bánh chưng, bánh dầy dâng bố"- (Đêm ba mươi nhớ điều giản dị)
Tư duy thơ Nguyễn Văn Thích đã được khai thác đa chiều, khơi dậy và cảnh tỉnh lớp người sau của làng: " Hôm nay anh chẳng muốn em làm cô Tấm
Lên cao rồi, tàn ác, nhỏ nhen
Trả thù Cám, nấu em thành mắm
Để người đời mãi mãi chẳng quên"- (Xin đừng làm cô Tấm)
Phải chăng những uẩn khúc đời thường cứ quẩn quanh, len lỏi vào cuộc sống thường nhật với người dân thấp cổ bé họng của"Làng cao" không thể nói "thẳng như ruột ngựa" hoặc mượn rượu như anh Chí của làng Vũ Đại để giải uất nỗi đời.
Bước ra cổng "Làng Cao" vẫn vẳng nghe trong hơi thở của làng những điều thủ thỉ:
"Mẹ bảo
Ngày xưa !..."- ( Ngày hội)
Tập thơ "Huyền thoại Làng" được tác giả khoác lên "Làng Cao" dung mạo xưa; Đan cài giữa hồn và xác, nhưng có vẻ vẫn đang cân nhắc. Mới thấy lời thơ của nhà thơ Nguyễn Duy tinh tế, khéo ru điều nhạy cảm:
" Mẹ ru cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn"
Hẳn người thơ Nguyễn Văn Thích cũng dẫn ta vào lối tư duy; trải và hiểu, cuộc sống mang lẽ đời hai mặt; đối lập giữa cái đẹp và xấu, giữa cao thượng và thấp kém, giữa sang trọng và đớn hèn: " Ngàn năm vuông chẳng thể tròn
Cái mất để nhớ, cái còn để quên"- (Vịn vào lời mẹ)
Điểm sáng của "Huyền thoại Làng" là những người con ưu tú "Làng cao" đã hóa thân vào hồn Đất, chung xây hồn Nước, bởi có chung dòng máu Lạc Hồng từ bọc trứng Âu Cơ: " Dòng sông chảy phía sau
Quê hương dài phía trước
Bao công sức máu xương
Mới xây thành tổ quốc" - (Ngồi bên cột mốc)
Đã bao lần, khi đất nước gặp buổi gian lao; trai làng đi giữ đất, gái quê ở lại giữ nhà đợi chờ thương nhớ lắm người ơi:
"Chiếc áo nàng Bân mấy tháng đan còn dở
Lại bồn chồn, phấp phỏng, lo âu" - (Tháng hai)
Đáp lại nghĩa tình ấp áp với người quê, không khỏi chút xao lòng, tác giả đã tự ru mình từ cổ tích bước ra đời thực, soi chiếu qua ánh mắt bồ câu đưa thư:
" Hướng về nam
Hướng về bắc
Anh thấy mình...
Hướng về em
Anh thấy tất cả " - (Hướng về)
Làng là nơi chôn nhau, cắt rốn, lớn lên bằng khoai rau, lúa gạo mẹ trồng, bằng lời ru, giọng kể của mẹ bên khóm tre giữa trưa hè oi nóng, trên cánh võng đay khi gió mát trăng trong: " Ổ rơm ấm chỗ mẹ nằm
Gió chiều thổi dọc tháng năm điệu hò
Trăng vàng vỡ nhịp chèo khua
Hoàng hôn đủng đỉnh chuông chùa vang vang
Khói lam vờ vật giăng màn
Đồng xanh sóng lượn khẽ khàng lời ru
Mẹ ngồi thăm thẳm mùa thu" - (Tương tư làng)
Mỗi thực thể trong cái hàm chứa riêng chung nơi làng xã, chung vui nào cũng có chút suy tư riêng: " Phía trước đường đi khấp khổm
Em khước từ tất cả sự bình yên
Để nghe sóng sông Hồng rũ cát
Lật tung trang huyền thoại
Tìm một mầm chiều đỏ quạch hoàng hôn" - (Chiều riêng)
Đằm sâu nhất về vai trò sinh tồn và lưu giữ hồn làng trường tồn theo năm tháng,
ta không thể ngộ nhận rồi ngơ đi, lãng quên đi những hiển nhiên có thật trong "Huyền thoại Làng": " Thuở lập làng
Tổ tiên tìm thế đất
Đặt làng trên lưng con rồng
Một phía có con đường, một phía có dòng sông
Làng như đứa trẻ thơ giữa vòng tay mẹ...
...Mẹ dạy tôi biết thương
Cha dậy tôi biết hận
Thầy dậy tôi biết hát
Làng dậy tôi biết nhiều...
...Sự tích làng ghi thành huyền thoại
Người đi mãi mãi không về
Ngày cha đi lấy làm ngày giỗ
Mẹ ngồi...mòn lũy quê " - (Huyền thoại làng)
"Làng Cao" là thế, có giống như bao làng khác? Bao lứa trai tráng nhổ tre cất bước theo vó ngựa Thánh Gióng gửi xương khắp miền biên viễn. Bao nhiêu người trẻ gồng sức Sơn Tinh rời non cưỡi sóng. Bao nhiêu người mẹ, người vợ hóa vọng phu giữa đời thật... viết lên những trang "Huyền thoại làng"
Đọc và ngẫm "Huyền thoại làng"mới thấy ý thơ Nguyễn Văn Thích trăn trở nhắc đi, nhắc lại hàm ý ẩn sâu trong các lớp nang trầm tích ngôi làng cổ xưa.
Những năm gần đây mọi thứ thay đổi nhanh đến mức chóng mặt; "Làng Cao" hình mẫu cũ dù ở thế "Quần ngư tranh thực" hay thế "đắc địa" đều đã thay da đổi thịt, tên gọi làng mới là những đô thị hóa (Vinhome, Royal City, The Grand...) đọc xong chả nhớ, nhẩm mãi không thuộc. Vậy mà các tập đoàn xây dựng Grup...vì lợi nhuận câu khách lên tận mấy chục tầng mây, hứa hẹn tiện nghi, tiện ích sao chép được của các nước Âu, Mỹ...cho oách. Nếu đến ở thật thì giỗ chạp, tết truyền thống có khấn mời các cụ cố tổ về phù hộ độ tiền, độ sức khỏe cho con cháu chí tôn, chắc phải nhờ vả đến sự trợ giúp chỉ đường bay của "Chị Goog Map"...
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Chùm thơ của Bùi Văn Kha
Người thương binh đánh Giày
Viết nhân ngày Thương binh - liệt sĩ của các nhà thơ nữ Hà Nội
BÁC HỒ VỚI CÔNG TÁC CHÍNH SÁCH TRONG QUÂN ĐỘI
CHI HỘI 1 - HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI TỔ CHỨC GIAO LƯU TẠI CÔNG VIÊN ƯỚC
CỎ HÁT - thơ Phạm Thị Hồng Thu và lời bình
Con bò đi chiều thuận
NGƯỜI Ủ TRẤU THẮP "HUYỀN THOẠI LÀNG" trong thơ Nguyễn Văn Thích
A PA CHẢI, MỘT LẦN ĐẾN CẢ ĐỜI THƯƠNG NHỚ
Trang thơ Tháng Bảy của nhiều tác giả
Năm tác giả Thơ (10 )
Dưới bóng cây ô liu
Hương cốm - hồn của làng trong phố mãi nguyên tươi qua thơ Lê Minh Tý
Tầm cao mới của Nhà văn Nguyễn Mạnh Thắng QUA TIỂU THUYẾT “ĐƯỜNG ĐỜI VÀ SỐ PHẬN”
XU HƯỚNG ĐỊNH HÌNH THƠ HIỆN ĐẠI