Bùi Văn Kha
Nguyễn Thành Phong làm thơ từ sớm lắm. Sớm ngay khi vừa bước vào nghiệp thơ, ông đã tự tin và tài hoa như nhóm văn thơ Bách Khoa những năm 1980 có tiếng. Tôi nhớ năm 1985 có buổi giao lưu đêm thơ các trường Đại học ở Hà Nội tại Hội trường C2 Bách Khoa, phần giới thiệu đã có tên Nguyễn Thành Phong cùng thày giáo, nhà thơ Đinh Phạm Thái. Sau này, trong một chương trình văn nghệ trên VTV3, ông ngồi trong thành phần tổ chức cùng nhà thơ Vũ Quần Phương, thấy càng chững chạc hơn.
Tôi được ông tặng tập Nghi Lễ Ngày Ngày từ năm 1998, có bài sáng tác từ năm 1981, thời của những bài thơ nổi tiếng như Hai Nửa Vầng Trăng của Hoàng Hữu, Những phút Xao Lòng của Thuận Hữu, Ngựa Gióng Lại Về của Từ Ngàn Phố,…ngay lúc đó, tôi thấy Nguyễn Thành Phong trữ tình tài hoa lắm. Tôi định viết về ông từ ngày ấy, nhưng vẫn thấy thiêu thiếu một cái gì. Lúc Nguyễn Thành Phong làm ở báo Văn Nghệ, tôi chưa thấy sự khẳng định đột phá nơi thơ ông.
Kịp đến 20 năm sau, cầm trên tay và đọc tập thơ Đêm Ngồi Ngã Ba Sông, Tôi mới thấy hết một chân dung 40 năm thơ của ông, như nhan đề bài viết này. Tôi trình bày theo ba đề tài lớn: 1. Nội hàm tự sự luận cảm; 2. Thơ viết ở Trường Sa; và 3. Trữ tình quan chiêm ngoại vi. Thơ ông còn một phần không thể thiếu là đề tài thế sự công dân, tôi dành cho dịp khác.
Tôi xin bắt đầu bằng bài Đêm Ngồi Ngã Ba Sông. Khoảng 3 thế kỷ trước, thời Lê Trung hung, Nguyễn Bá Lân (1700 - 1785) có bài Ngã Ba Hạc phú, vừa nói về vẻ đẹp hung vĩ của cảnh quan, vừa nhắc đến những tích ghi lại chiến công của quân dân ta, cuối là cái đạo Nhàn của nhà Nho. Đây là bài thơ tả thực, lấy thực để dựng ý tứ, hình ảnh, nhân thực để tỏ lòng. (Theo cách sắp xếp trung cận đại thì phú không nằm trong thơ thuần nhất vốn lấy vần điệu và niêm luật làm chủ đạo. Năm 1948 có cuộc tranh luận đối chọi, giữa một bên do Xuân Diệu cầm đầu chủ trương thơ phải trọng vần, trọng tứ, với một bên là thơ không vần, có thể có ý nhưng không nhất định tứ, mà chủ tướng là Nguyễn Đình Thi, nếu xếp thế thì sau này thơ chống Mỹ mà hơn 70% là thơ tự do, có cả thơ văn xuôi nữa, bị loại ngay vòng thi thơ sơ khảo).
Tất nhiên là Nguyễn Thành Phong phải thuộc làm lòng bài phú này khi xây dựng cấu trúc tác phẩm của mình. (Nhân đây cũng xin nêu thơ có ý thức chuyên nghiệp thường theo phương pháp cấu trúc. Bài thơ vì vậy chặt chẽ cả về ý tứ, hình ảnh và ngôn từ).
Ngay tên của bài thơ đã chỉ cái vị thế của nó. Thời gian về đêm thường dành cho suy tưởng. Ngồi thường là vị trí tư thế của triết nhân. Ngã ba sông, thời điểm này, có gay gắt biển Đông (có cả biểu tình một nhóm người) - thoát Tàu, có Văn đoàn Độc lập ly khai, , có diễn đàn Shangri la,…Đây là lúc đặt vấn đề của thái độ. (Ngã ba là một phiếm chỉ). Gần một thế kỷ trước, Trong Lời Tổ Quốc, Tố Hữu viết: “Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước/ Chọn một dòng hay để nước trôi”. Cùng thời điểm ấy, trong Tràng Giang, Huy Cận viết: “Thuyền về, nước lại, sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Nhưng đấy là nói về cách sống, về lý tưởng. Bây giờ là hiện thực hiện sinh phi lý và tồn tại, kiểu như Ham let. Mỗi thời điểm, thời đại có nhu cầu và yêu cầu của nó. Anti độc lập ly khai là có, nhưng chỉ ở một bộ phận nhỏ, chưa thành phong trào, chưa thành lực lượng, chưa thành quy luật. Chỉ có thể là ngã ba sông, mênh mang nước quẩn, nước chảy, hoặc thành mưa trong luật sinh tồn. Không có bão dông, cũng không thể bão dông.
Nếu nói theo Kinh Thi, bài thơ này theo thể phú mà hứng mà tỷ, tức là lấy cái thực để khai đề làm cảm hứng cho câu chữ rồi nhân đó mà nêu ra, mà so sánh. Nhưng nếu chỉ như vậy thì hơn hai ngàn năm nước sông chỉ “quẩn” à? Nguyễn Thành Phong đã thêm cái tự ý thức, cái bất khả tri – hành – thức để mà phú mà hứng mà tỷ, đó là một đóng góp thi pháp.
Cái tư thế của Nguyễn Thành Phong có cái ổn định của một bản lĩnh thông suốt thiên địạ nhân theo thuyết Tam Tài của triết học phương Đông. Trong ông có tâm sự, cảm với “chảy đi sông ơi” của Nguyễn Huy Thiệp mà ra với sông. Nhưng bài thơ này không nói về cái sự việc cảnh tình to lớn tích cũ, không nói về tranh giành Lã Vọng đi câu. Bài thơ nói về cái kiếp tầm thường lóp ngóp trong bùn, gần bùn, trên bùn của “con dân lầm bụi tài hoa”, kiếp thi sĩ bất lực “nhất sinh từ phú tri vô ích/ mãn giá thư cầm đồ tự ngu” (Nguyễn Du – Một đời theo văn chương từ phú thấy cũng vô ích/ Trên giá đầy sách đàn chỉ càng ngu thôi), cái kiếp con vờ ngắn ngủi tử sinh rồi trắng xoá, nhưng dù ngắn vẫn hạnh phúc đực cái bản thể. Ngã ba sông thượng nguồn một phương nhưng đầy trách nhiệm đổ xuống vai mình: “ Đêm ta ngồi giữa ba dòng sông sâu/ Nghe nước thở mấy ngàn năm vẫn thở / Nghe nước kể chuyện những đời người/ Cay đắng và vinh quang/ Kiếp sống nhọc nhằn lòng cứ thắm tươi”.
Nói thêm về địa danh Mỏm Soi, Đôi Cô, đều ở làng Bắc Cầu, Ngọc Thuỵ, Long Biên. Tôi chắc lúc ấy, Nguyễn Thành Phong ngồi ở đền Đôi Cô ba mặt sông nước, đáng lẽ ta hề! nâng chén hề! lại khởi câu thơ!
Tôi thấy có nhiều cái hào sảng, cái buồn, cái ngẫm của bài thơ này. Những năm 20 của thế kỷ 21, bài thơ này là một trong những đỉnh cao biểu tượng! Hãy ngồi xuống, hãy ngồi lại, thế thôi!
ĐÊM NGỒI NGÃ BA SÔNG
Tư duy của thơ trong Chuyển Mùa là cách trình những mạch ngầm nổi, chính phản, của bất lực và ẩn tàng. Khinh trọng trong Chuyển Mùa cũng chỉ nôn nao tâm trạng thôi! Cũng được. Thơ tư duy vậy thì thơ đóng góp tích cực. Quan trọng là không nhạt. Và không thường.
CHUYỂN MÙA...
Ôi cái mùa sao làm ta trĩu nặngTam đoạn luận của tụng ca, của bài học lịch sử, của khát vọng hoà bình, được ý tứ tài hoa kết lại trong Đất Nước Không Bình Yên. Từ 40 năm trước, mấy anh em nghệ sĩ hay nói với nhau, nếu cứ cách biệt giàu nghèo, cứ để nông thôn nghèo túng, thì hãy coi chừng cho sự an ninh và môi sinh. Ngẫm câu thơ Tố Hữu năm 1961 “Đời trẻ lại tất cả đều cách mạng/ Rũ sạch cô đơn, riêng lẻ, bần cùng” được hồi ức phóng sự: “ Khi chính quyền lần đầu ra mắt/ Giữa Ba Đình mây dừng lại che cho /Nghe rõ không? Đồng bào ơi, Bác hỏi /Nắng bỗng hiền, dịu mát đầu thu./ Người giàu có dựng kỳ đài độc lập /Kẻ đói nghèo đứng bảo vệ xung quanh /Quần soóc xám, mũ ca lô, xe đạp /Đủ uy nghi, tin cậy, vững bền.” 4 câu trên chỉ cái đinh lịch sử để treo chiếc áo choàng tư duy cho bình đẳng xã hội. Ý ngầm chỉ tiện tay phết phảy.
ĐẤT NƯỚC KHÔNG BÌNH YÊN
(bài này tôi xin phép nhà thơ tách khổ cho dễ đọc, chứ trong tác phẩm thì liền mạch).
Nhưng cũng có những luận cảm đáng yêu làm mát rượi hồn ta. Đấy là Những Hàng Dừa Nước của em gái, chị gái, bà má miền Nam.
Năm 1990. Từ Sài Gòn xuống biên giới Mộc Hoá, tôi đi trên con đường 49 cây số Tân An – Tân Thạnh hai bên ngợp rừng tràm và lò nấu dầu tràm. Hai bờ sông Vàm Cỏ là san sát những hàng dừa nước. Không biết có trùng với hàng dừa nước của Nguyễn Thành Phong không, nhưng bài thơ là cả một sự khẳng định của biểu tượng Mẫu Thuỷ nhân dân của dân tộc ta.
NHỮNG HÀNG DỪA NƯỚC
Như đội quân kỳ
Những lá cờ biểu trưng cho sức sống
Xanh ngút ngàn dọc các triền kênh rạch
Châu thổ Cửu Long giang tràn tầm mắt...
Người đã sống với những hàng dừa nước
Học được nhiều những phóng khoáng xanh tươi
Học được những nhẫn nại và bền bỉ
Để làm nên Nam Bộ chẳng nhiều lời...
Em đã sống với những hàng dừa nước
Mơn mởn giữa đời bên sóng gió thiên nhiên
Chị đã sống với những hàng dừa nước
Khuôn mặt luôn ngẩng cao kiêu hãnh dịu dàng
Má đã sống với những hàng dừa nước
Là bóng mát chan hoà da diết ấp iu con!
Xin phép được chuyển sang những bài thơ về Trường Sa của Nguyễn Thành Phong.
Bắt đầu là bài Những Tấm Ảnh Trường Sa.
Không thể bắt chước câu thơ chép trong trí nhớ “Đã yêu nhau đâu cần chi tặng ảnh/ Cái quý nhất không thể nào có được/ Là bức hình chụp được ở trong tim”. Hoa ngôn vậy thôi, chứ nếu mà có một kỷ niệm về khoảng khắc của cái thực, và đẹp nữa, thì quý giá biết bao.
Ở Trường Sa thật không đơn giản. Trường sa đẹp về hình tượng, trở thành biểu tượng, còn thực tế thì khắc nghiệt lắm. Nếu tính về diện tích thì đảo ở đây chỉ xấp xỉ đảo theo luật về đảo của thế giới. Chưa có đảo nào vượt qua năm cây số vuông, nên cũng cưỡng cầu xếp vào loại đảo nhỏ. Nhưng đó là thực thể của Tổ quốc. Nhưng đó là quyền và chủ quyền của Tổ quốc. Biết bao mồ hôi, xương máu, tuổi trẻ đổ xuống mới làm cho Trường Sa có diện mạo hôm nay.
NHỮNG TẤM ẢNH TRƯỜNG SA
Những năm qua, nhắc đến liệt sỹ biển Đông, trong văn thơ hay dùng biểu tượng mộ gió. Đây là một hình ảnh đậm chất bi thương. Thời xưa là da ngựa bọc thây. Thời những năm 1980 là mộ gió. Nhưng vẫn có nghĩa trang liệt sỹ trên đảo của đất nước ta. Đó là sự khẳng định chủ quyền. Đó còn là sự khẳng định về chủ tài nguyên. (theo luật tài nguyên môi trường thì nghĩa trang là phần đất tài nguyên thuộc về tài sản đất công). (Tôi bám theo mạch tư tưởng, nên không dừng ở từng câu thơ. Cả bài thơ đọc đã thấy nhân vật trữ tình, cảnh, tình, ảnh, nhạc, và cảm xúc).
TRƯỚC MỘ LIỆT SĨ TRÊN ĐẢO NAM YẾT
Các em nằm lại đây trước mênh mông biển sóng
Những chân hương bạc trắng vì muối mặn
Trên mộ chí nghẹn ngào ngày sinh tháng mất
Có em nằm xuống mới tròn năm...
Các em chết khi còn quá trẻ
Mười tám, mười chín, hai mươi...
Các em chết không phải vì súng bắn
Mà chết vì sóng đánh
Vì gió quật, mưa tuôn
Vì xây nhà giữ biển...
Ở xa kia dưới đáy đại dương
Có hài cốt của bao người lớp trước
Thành những mỏ neo thiêng
Ghì đảo vào Tổ Quốc...
Và ngay dưới thềm san hô dập dềnh mép nước
Những Gạc Ma, Cô Lin
Còn bao thân xác cha anh
Họ tôn lên quần đảo hiện hình
Trên Biển Đông sừng sững...
Đảo đá giờ đây đã bao nhiêu người đến
Đã xanh xanh màu xanh cây lá
Các em nằm lại đây
Để thôi thúc cát bỏng hoá phù sa
Dáng vóc các em đã tan vào trong gió
Hát yên lành trên những tầng cây.
Một mai
Rạng rỡ dưới trời
Trường Sa nhộn nhịp chân người dựng xây
Lặng yên nghiêng mình phút giây
Tuổi tên mãi nhắc nơi này linh thiêng...
Đảo Nam Yết, Trường Sa, tháng 4/2013
Giải phóng đảo từ năm 1975, đến lúc này, Nguyễn Thành Phong đã có một đại ý sáng tạo: Làng mình!
Đã đến mức làng, đối với người Việt mình là thân thuộc, chôn nhau cắt rốn lắm rồi. Theo sự phân tích của các nhà nghiên cứu, hơn một nghìn năm Bắc thuộc mà người Tàu không đồng hoá được nước ta như họ đã đồng hoá các tộc Man Di Nhung Địch chính là do tiếng Việt và làng Việt. Tô nhớ khi học về kinh tế chính trị năm 1980 ở khoa Triết học – Đại học Tổng hợp Hà Nội, Giảng viên có nói, hàng triệu tấn bom do Mỹ thả xuống miền Bắc Việt Nam, chẳng đánh tan được kinh tế làng xã nước ta, lại làm cái ao chuôm cho bà con ta nuôi bèo thả cá. Tôi miên man vậy, vì tứ thơ nó vậy, đến chịu Nguyễn Thành Phong.
TRƯỜNG SA LÀNG MÌNH
Trưa ngồi quanh gốc phong ba
Ríu ran bàn chuyện cửa nhà nông tang:
- Lợn nái vừa đẻ bầy con
Lứa gà đang ấp, vịt đàn sinh sôi
Ngửa mặt ngóng gió trông trời
Mong cho mưa xuống để tôi thả bò
Rồi đi giồng đậu giồng cà
Hoa gạo không xuống vẫn tra hạt vừng...
Câu ca vun xới gieo trồng
Xôn xao đảo đá sóng lừng nghe không
Nước, phân, cần, giống… đã tường
Trường Sa ấm chuyện mùa màng quê ta.
Buổi trưa ngồi gốc phong ba
Rưng rưng tôi gọi: Trường Sa làng mình...
Quần đảo Trường Sa, tháng 4/2013
Nhưng còn ghê gớm hơn khi Nguyễn Thành Phong dựng nên cả một tương đài ngang ngửa với các cuộc thi sắc đẹp ở đất liền. Đó là Gót Chân Hồng Trên Biển Cả. Ở đâu mà có phụ nữ thì ở đó có tình yêu và sự sống. Quan yếu hơn, ở đó có phấn đấu và bảo vệ. Và, tất nhiên rồi, ở đó có văn minh!
GÓT CHÂN HỒNG TRÊN BIỂN CẢ
Những hải trình dằng dặc
Xuyên qua nhiều trăm năm
Những hải đội ra khơi bóng người hoà sóng bể
Biển rập rờn những vỉa san hô
Đảo tượng hình những mỏm đá mồ côi...
Giữa đại dương vươn dậy những dáng người
Vượt qua cái chết không thành mồi cá dữ
Bỏ lại sau lưng bạn chài thân chìm sâu đáy biển
Những chàng trai đất Việt
Níu thuyền xuống san hô
Đá mồ côi trở thành neo buộc
Ngày mở mang bờ cõi...
Rồi tiếp nối bao đời
Sắt thép xuyên vào lòng biển
Rùa bê tông bám vào lòng biển
Mọc những nhà chân cao, nhà giàn
Mọc nơi ở bền gan nhô lên trên sóng gió
Giữa mênh mông thăm thẳm biển trời xa...
Sáng nay những gót chân hồng đã đi ra nơi biển cả
Các em vượt qua những cơn say sóng
Bước thênh thang mát lành trên đảo đá
Bữa cơm trưa có hương vị quê nhà
Khi các em sà xuống dịu dàng bên bếp lính.
Các em vượt qua nỗi sợ hãi thường tình
Treo mình trên dây lên với nhà giàn
Các em ôm vào lòng những chàng trai biển
Nước mắt oà trên áo lính
Nỗi thiết tha nhung nhớ của đất liền.
Biển động quá ngăn không cho em đến
Xuồng thả xuống mấy lần rồi xuồng lại câu lên
Tàu phải chạy vòng quanh để em vang tiếng hát
Vượt qua đầu sóng cả
Tiếng hát dệt yêu thương
Thành ngọn gió bắc cầu...
Mỗi các em một nét mẹ Âu Cơ
Ngày mang nửa đàn con đi ra nơi biển cả
Các em đến nhà giàn và đảo đá
Mang theo nhớ thương, tươi mát, ngọt lành
Các em thoả nỗi khát khao đất liền
Đảo đá mềm dưới bước chân con gái
Dải san hô muốn hoá bờ đất bãi
Vạt cát mặn muốn mọc lên cây trái
Đảo đá sẽ xanh tươi, đảo đá mãi vững bền!
Trường Sa, nhà giàn ĐK1, tháng 4/2013
Tôi xin sang phần thứ 3 của tiểu luận này: Trữ tình quan chiêm ngoại vi. (nhân đây cũng nhắc lại, tôi dùng ngoại vi để chỉ những sự, những việc, những vật khách quan tạo thành cảm hứng cho thơ, còn nội hàm là nội dung hàm chứa những tư duy cấu trúc suy tưởng để cảm xúc theo đó mà tổ chức ngôn từ. Thực ra đó là đại thể. Làm thơ mà như vậy khác chi làm lúa, cứ gieo mùa thì phần lớn có thu hoạch – Làm thơ thuộc về tài hoa của nhà thơ).
Bài thơ Em Vô Tư tả cái tình của các thanh niên đôi tám.Đây thuộc dạng tả tâm lý sinh học. Anh khôn hơn, còn em vờ như không biết, kiểu như con dế vô tư mà ca sĩ Hồng Nhung hát rất hay từ 30 năm trước. Nguyễn Thành Phong làm bài này từ năm 1981. (Con người tài hoa mà). Thôi thì cứ giả lộng thành chân, mà say, mà ước, nghe thơ!
EM VÔ TƯ...
Trữ tình còn bắt đầu từ trạng ngữ thời gian trong Tháng Tư Gõ Cửa. Biến thời tiết – thời gian thành chủ ngữ để nói một chuyện tình. Biến một chuyện tình sang biểu tượng lá đỏ của Trường Sơn “vai áo bạc quàng súng trường”. Rồi liên hệ với tri ân, trước là người lính, sau là em đã nhắc nhở, về lòng biết ơn, về sự trân trọng. Từ một chuyện tình biến thành quan chiêm về vật thể và phi vật thể.
THÁNG TƯ GÕ CỬA
4-1982
Nguyễn Thành Phong, trong đời và văn nghiệp của mình, gắn bó rất nhiều với Tây Bắc. Tây Bắc là của Thái Mèo. Bài thơ Gặp Em Gái Thái Ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng là tri ân sâu lắng. Trong đời có những khoảng trong veo và mênh mang cảm động. Đâu chỉ là chuyện nam nữ bắt tình. Có những chuyện ngoài lứa đôi, còn là đồng hiện hồi ức đẹp đẽ.
GẶP EM GÁI THÁI
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Anh đã từng lội suối trèo nương
Nguyễn Thành Phong ít làm thơ lục bát. Cái làm báo phóng sự nó cứ hay khuôn khổ. Nhưng Nỗi Nhớ Từ Rừng bắt buộc phải thơ vần điệu. Vần điệu mới tải được nỗi tình. (Nguyễn Thành Phong cũng hay dung từ “nỗi”. Cũng là một nhãn tự, ông hay lựa chọn dấu ngã nếu có thể phân tâm ba dấu huyền, ngã, nặng). Và ông khéo dùng điển. “Cái lá rừng chạm vai tôi rất mềm!”. Chuyện rằng con hổ không thoát ly rừng, vì đang đi, chạm vào lá rừng, là quên mất mình định đi đâu. Nguyễn Thành Phong không quên. Nỗi nhớ ấy, như chiếc lá mềm chạm vai. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo rất thân với Nguyễn Thành Phong, trong bài Uống Rượu Với Nguyễn Du, đảo câu thơ Kiều “Mai sau còn có bao giờ” thành câu kết, đổi chữ còn thành chữ dù, từ nghi vấn, thành nghi vấn mặc định:
Bao giờ
NỖI NHỚ TỪ RỪNG
Cảm ơn bạn đọc đã cùng tôi theo thơ Nguyễn Thành Phong đến giờ. Thơ, đôi khi đi cùng cái ngoài thơ. Đời có thể đôi lúc vắng thơ, nhưng thơ không thể vắng đời. Tôi nghĩ, đời sống tinh thần và non nước cảnh tình là những bức ảnh đẹp nhất mà thơ Nguyễn Thành Phong dâng tặng!
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
BA BÀ CỤ Ở CUỐI XÓM
ĐỨA BÉ
ĐỌC THƠ CÙNG NHAU
Khi cái đẹp còn đang ngủ yên
GIỮA NHỮNG ĐƯỜNG BIÊN
THƯƠNG NHAU NGÀY TẾT
CHI HỘI 3 - HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI TỔNG KẾT CT NĂM 2025
CHÂN MÂY (1)
NHẠC SĨ ĐOÀN BỔNG ĐÃ ĐI VỀ DÒNG SÔNG ẤY…
CUỘC THI tìm hiểu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVIII,
Đông vui như chợ quê ngày Tết
Mẹ tôi và những vật dụng nhà nông xưa cũ
Chờ đợi
Mùa này cải đã ra hoa
Phố mùa đông thơm lừng hương ngô nếp nướng