Những cuốn sách phi hư cấu

Thứ năm - 21/05/2020 16:37
Trịnh Thu Tuyết : Cảm giác đang chạm vào từng mảng sự thật, hoàn toàn phi hư cấu, không dụng công văn chương đã nhân lên gấp bội những nỗi đau đớn, người đọc như đang nhìn, đang nghe, đang trò chuyện trực tiếp với nhân chứng, nhờ sự kết nối của nhà văn, không photoshop, không chỉnh sửa, cắt dán, thanh lọc… Sự thật tự cất lên tiếng nói, khi miễn cưỡng, e ngại, khi bình thản, thờ ơ, khi chán chường, tức tưởi…
Những cuốn sách phi hư cấu

 

 

Khi quan sát cuộc sống theo phân kì các giai đoạn, thể chế, ta thấy đặc điểm của lịch sử. Ví như khi tới với những cuốn sách sử…

Khi quan sát cuộc sống từ các sự kiện, biến cố…, ta thấy tầm vóc, tính chất của lịch sử. Ví như khi tìm hiểu về một cuộc chiến tranh, một cuộc khởi nghĩa…trong sách sử.

Khi quan sát cuộc sống từ cảm xúc, suy ngẫm, ta thấy chiều sâu của lịch sử. Ví như khi đọc “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, “Phiên chợ Giát” của Nguyễn Minh Châu…

Khi quan sát cuộc sống từ những thân phận con người, ta thấy mặt sau của mỗi tượng đài, thấy bề sâu khuất lấp của lịch sử, thấy cái giá của từng sự kiện, biến cố - thấy CON NGƯỜI! Ví như khi ta đọc những cuốn sách phi hư cấu của Svetlana Alexievich, của Phan Thúy Hà…

Cũng như cuốn “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ” của Svetlana Alexievich, ba cuốn sách: “Đừng kể tên tôi”, “Tôi là con gái của cha tôi”, “Gia đình” của Phan Thúy Hà đều là những mảnh vụn, những lát cắt, những phiến ghép… nối tiếp nhau của thân phận con người trong những cơn giông bão khủng khiếp nhất của lịch sử. Cảm giác đang chạm vào từng mảng sự thật, hoàn toàn phi hư cấu, không dụng công văn chương đã nhân lên gấp bội những nỗi đau đớn, người đọc như đang nhìn, đang nghe, đang trò chuyện trực tiếp với nhân chứng, nhờ sự kết nối của nhà văn, không photoshop, không chỉnh sửa, cắt dán, thanh lọc… Sự thật tự cất lên tiếng nói, khi miễn cưỡng, e ngại, khi bình thản, thờ ơ, khi chán chường, tức tưởi…

Đề tài về thân phận con người, cụ thể là thân phận những người lính trong và sau chiến tranh không hề xa lạ với văn chương, từ “Người sót lại của rừng cười”, “Ngàn năm mây trắng”, “Bốn chín cây cơm nguội”, “Khắc dấu mạn thuyền”, “Không phải trò đùa”, “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”… tới kiệt tác “Nỗi buồn chiến tranh”…, nhưng đọc tới “Đừng kể tên tôi” của Phan Thúy Hà, tôi vẫn thấy khoảng cách rất rõ giữa văn và đời – sự thật, chỉ trần trụi sự thật, tựa muối hạt, không pha nước, chạm hạt nào, rát buốt, đắng chát hạt đó. Cuốn sách gồm 25 câu chuyện của 25 người lính bước ra từ chiến tranh, họ tự kể về cuộc đời họ, có khi dài như phác thảo cho một tiểu thuyết - bởi nếu kể hết chắc phải sống lại bằng ấy thời gian của đời, nhưng có khi ngắn ngủn, hụt hẫng – bởi tự nhân chứng thấy cuộc đời họ cũng chỉ loanh quanh nhạt nhẽo vài chuyện thế thôi, có gì khác đâu, nhập ngũ, chiến tranh, thương tật, rồi về, lại kiếm sống lần hồi… Và nói chung họ không muốn kể lại, nhắc lại, không muốn nói ra, vì “Nói làm gì. Nói cho ai nghe. Nói cho ai tin. Sự việc qua lâu rồi. Sự việc xa rồi. Mà tôi cũng sắp gần đất xa trời rồi.” (194). Từng câu nhát gừng, chán chường, buông xuôi khi con người đã lụi tàn mọi khát khao, đã mất hết niềm tin vào sự thay đổi, đã sống như chỉ để chờ cái chết sắp tới, rất gần…, sự thờ ơ, chán nản này còn đáng sợ hơn cả tiếng khóc!
Câu chuyện của họ có vẻ đẹp ngậm ngùi của lí tưởng khi những chàng trai viết đơn bằng máu tình nguyện đi bộ đội, những cậu học trò cấp 2, khai tăng tuổi vẫn phải xin y tá cân cả dép cho gần đủ cân để ra chiến trường, những cô gái xin với mẹ đi TNXP vì “con là đoàn viên cộng sản, con phải gương mẫu”… Cảm động nhất là vẻ đẹp của tình con người, từ câu chuyện những anh bộ đội tiêm thuốc cầm máu, cứu vợ một người lính VNCH khi chị bị vỡ ối, băng huyết; chuyện một nữ bác sĩ truyền máu để cứu sống một anh bộ đội, khi anh trở lại cám ơn, anh đã ngạc nhiên thấy thái độ chị thờ ơ, xa cách, sau được biết chồng chị là đại úy VNCH bị giết năm 1968… tới chuyện những người đồng đội không chỉ thương nhau khi còn sống, thậm chí khi bạn hi sinh, trong khi chờ xe trung đoàn tới tiếp nhận, suốt mấy ngày đêm họ sống trong hang cùng những chiếc hòm đạn đặt xác bạn bè bên trong, vừa khóc nức nở, vừa chiến đấu với đàn chó hoang để bảo vệ bạn: “Tao không thể nào bảo vệ được bạn khi còn sống. Nhưng lúc này đây, lũ chó hoang kia đừng hòng vào được nơi các bạn tao đang chờ về quê hương?” (223)
Tác động mạnh nhất tới người đọc chính là những nỗi đau của người lính. Trước hết là nỗi đau ngay trong cuộc chiến tranh – gian truân, vất vả, đói khát… và đáng sợ nhất đương nhiên là cái chết – cái chết đến, không chuẩn bị, không báo trước, không lí lẽ, cái chết không có logic hay đạo lí, không cần đôi hồi rành mạch – đang nằm bên nhau, bom rơi cửa hầm, bạn nằm ngoài trúng bom, chết; đang cõng bạn trên lưng, chết; đơn vị đưa danh sách 58 người chết, thu gom rồi phân chia, “58 phần xương thịt chia ra tương đối đồng đều. Không cần khớp. Không cần đầy đủ. Không cần. Không thể. Trải tăng. Trải nilon. Bốc thịt bốc xương vào. 58 ngôi mộ.” (44). Qua câu chuyện của những người lính, có thể nhận ra nỗi đau của họ trong các trải nghiệm – ví như, không cần sự cao siêu của triết học, chiến tranh vẫn giúp họ nhận ra sự mỏng manh, nhỏ bé của sinh mạng con người; hoặc nữa, chiến tranh giúp họ hiểu bom đạn, bắn giết đã mài mòn bản năng sợ hãi rất nhân tính trước cái chết của đồng loại, người lính hầu như đã hòa với khẩu súng thành một sinh thể thống nhất, chỉ còn chức năng bóp cò, “Có lúc bóp cò chỉ thấy nòng súng rung rung mà tôi tưởng súng mình bị lỗi kĩ thuật. Nhìn thấy xác địch ngã xuống biết ngón tay bóp cò làm việc. Không biết bao nhiêu tên địch chết trong loạt đạn đó…Sau mỗi trận đánh thắng lợi, tôi lại được thêm một giấy khen, nhận thêm một bằng khen. Hôm nay kể lại chuyện này có thể cháu thấy ghê tởm. Nhìn nhận thế nào là quyền của các cháu”; trải nghiệm không làm người ta “người” hơn khi mặc nhiên thay đổi nội hàm các khái niệm:“Trận này quân ta đã tiêu diệt được bao nhiêu tên địch?... Không ai hỏi trận này ta giết được bao nhiêu người. Ở đây chỉ có số quân. Ở đây chỉ có ta và địch” (321). Bất chợt lại nhớ câu thơ Lưu Quang Vũ: “Ngơ ngác nhìn lại tay mình/ Anh không giết kẻ thù, nó sẽ giết anh /Nhưng máu đổ ra vẫn máu người đặc quánh” – khi không còn thấy là “máu người” nữa nghĩa là trải nghiệm chiến trường đã đi xong một hành trình mang mùi thuốc súng! Và bài học này nữa có thể coi là kết quả của trải nghiệm hay không, khi người lính vào sinh ra tử, người lính phong trần hào hoa, hào hùng như thơ ca vẫn viết, như các thầy cô vẫn dạy cho học trò, ra khỏi chiến tranh, họ tự nhủ: “Tôi học được gì trong chiến tranh? Tôi học được sự cam chịu. Tôi học được cách nhìn, chuyện gì rồi cũng qua. Và mọi chuyện cũng qua”. ( 327) – câu chuyện về chiếc vòng của vua Salomong cùng dòng chữ thông thái: “Điều đó rồi sẽ qua” đã tới với họ theo một con đường khác, đem đến một bài học khác: Rồi cũng sẽ qua thôi! Bài học này không bao hàm ý nghĩa về sự mạnh mẽ, kiên cường như trong tiểu thuyết: "Sau tất cả, ngày mai là một ngày mới” – bài học này chỉ đơn giản là sự chấp nhận, buông xuôi!
Bên cạnh những vẻ đẹp cảm động của tình người, “Đừng kể tên tôi” vẫn day dứt những nỗi đau vì con người trong chiến tranh, khi là người đồng đội hèn nhát và độc ác muốn trốn chạy khỏi cuộc chiến bằng cách nhịn ăn tới kiệt sức, để bạn bè phải cõng anh ta hai ngày đêm, vượt qua những lèn đá Trường Sơn (158); khi là câu chuyện về người lính ở chiến trường lặng lẽ nhận được tin vợ ở quê nhà đã có con với người khác, hai năm sau, anh hi sinh trong trận Xuân Lộc, đồng đội thêm một lần khóc khi thay anh nhận thông báo của Tòa án gọi anh về giải quyết việc vợ xin ly hôn – sự yếu lòng của chinh phụ có thể thấu hiểu, nhưng lá đơn ly hôn đuổi theo chân người lính tới tận nấm mồ của anh là điều rất ít lương tri nào có thể cảm thông…
Trong tiểu thuyết “Con đường đau khổ” của A. Tostoy, sau chiến tranh, người đàn ông trở về, nói với người đàn bà của mình lời ngậm ngùi tha thiết:“Năm tháng sẽ trôi qua, những cuộc chiến tranh sẽ im ắng dần, những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét và sẽ còn lại không phôi pha tấm lòng em nhẫn nại dịu dàng và chan chứa tình yêu thương…”; nhưng trong “Đừng kể tên tôi”, những người lính trở về không có được dẫu chỉ là niềm an ủi ngậm ngùi ấy, họ đối mặt với trùng điệp những trớ trêu, chua xót, đau khổ của đời thường – ra khỏi chiến tranh, họ nhận ra sự đời thật éo le, và tình đời thật nhạt: chuyện làm thủ tục giấy tờ cho người trở về khi ngoài tấm thân tiều tụy, họ chẳng còn gì trong tay, mà “thủ tục làm người còn sống” thì lại không thể chỉ căn cứ vào “người còn sống”; chuyện đồng đội xưa, nay đã là sếp lớn, tránh mặt, người cựu chiến binh nghèo chợt hiểu: “Chuyện chín đứa hút chung điếu thuốc rê, chia nhau mẩu lương khô đã gác lại ven rừng” (299); chuyện người con gái thủy chung chờ đợi người yêu mười hai năm trời, rồi ai cũng nói anh đã hi sinh, trước sức ép của gia đình, cô gái nuốt nước mắt đi lấy chồng, một tháng sau, anh trở về; hoặc chuyện người em khi nhập ngũ, gửi hết sáu đồng vừa được cấp phát để anh chị mua gạo cho cháu, được cấp giày, cởi dép lốp gửi cho anh, được cấp áo bông quân đội, chỉ mang đi vỏ áo, ruột áo dành cho anh chống rét, mười hai năm em đi, mỗi tháng anh đều đặn nhận tiền trợ cấp em đi B… Tới khi em trở về, cưới vợ, anh trai ở nhà lim, mái ngói khang trang, cho em làm túp lều vừa đặt đủ cái giường, cái bếp, gia tài có cái niêu đất và mấy chiếc bát ăn sứt mẻ…, thương vợ con đói khát, nửa đêm người em trùm khăn ra đồng nhặt bốn củ khoai do lợn lòi đào lên, bị bảo vệ đánh, làng xóm bêu tên, treo trước ngõ một đoạn dây khoai…(206) – câu chuyện Cây khế trong cổ tích còn kết thúc có hậu, những cây khế đời thực chỉ có chát đắng nhục nhã; chuyện người lính trở về với viên đạn còn găm thái dương, mỗi khi lên cơn co giật, hoang tưởng lại đuổi đánh vợ con, khiến chếc hầm tránh bom trước đây trở thành hầm vợ anh ôm con trốn chạy những cơn điên dại của chồng… - đó là muôn hình vạn trạng của nước mắt đời thường, khi chiến tranh kết thúc trong chính sử, nhưng vẫn đeo bám tới hết đời những người cựu chiến binh và gia đình của họ.
Tôi cứ nghĩ mãi về nhan đề cuốn sách “Đừng kể tên tôi”, tác giả cũng day dứt và thấu hiểu sự thật chua chát: “bất hạnh của các chú các bác không vì tôi viết ra mà khác đi. Chẳng có gì khác được nữa khi các chú các bác đi gần hết cuộc đời” ( 329). Nếu đọc nhan đề này cách đây vài chục năm, có thể chúng ta sẽ đoán đây là cuốn sách tôn vinh một trong những phẩm chất của những người anh hùng – đức khiêm tốn! Nhưng với cuốn sách này thì không. Chỉ đơn giản: kể ra ích gì, mà, cũng sắp hết cuộc đời rồi, bỏ đi!
Cuốn sách “Tôi là con gái của cha tôi” lại đưa chúng ta tới cùng những nhân chứng đối lập với “Đừng kể tên tôi”, đó là thân phận những người lính VNCH trong và sau cuộc chiến – mảng hiện thực ít nhiều còn khuất lấp với nhiều người đọc Việt. Mỗi người mỗi vẻ, mỗi cảnh đời, nhưng họ có nhiều điểm chung khiến chúng ta suy nghĩ.
Điểm chung thứ nhất, hầu hết họ bước vào con đường binh nghiệp sau trầy trật trốn chui lủi, lên bờ xuống ruộng… Nguyên nhân trốn lính của họ thuần túy vì sau lưng họ là gia đình, là người thân, là học hành, sự nghiệp, là sự sống…, còn trước mặt, chỉ có cái chết – nguyên nhân trần trụi, không được mạ lại theo cách lí giải của lí trí, của nhận thức chính trị khả dĩ bớt tội! Trốn được lần này, không thoát được lần khác, và họ bất đắc dĩ thành người lính với định danh “lính ngụy” – không chỉ họ hiểu với nhau, những người từng là kẻ thù của họ cũng hiểu, anh cán bộ quản giáo nói với họ: “Chúng ta vì chiến tranh mà gặp nhau ở đây. Cha mẹ tôi hồi đó mà lanh chân cũng đã kịp ẵm tôi xuống tàu Hải Phòng và giờ tôi cũng giống như các anh đây thôi”. (164); còn tác giả, sau mọi chuyện, cô gái sinh sau ngày kết thúc chiến tranh tới 4 năm đã hiểu: “Chúng tôi là những người con của lính. Đó không phải là một sự sắp xếp. Ở một đất nước chiến tranh kéo dài hơn nửa thế kỉ, có đứa con nào không phải con của lính. Cả đất nước là một chiến trường. Cả đất nước là một trại gia binh”. ( 204) – nhận thức ấy của cô đã được chứng thực ngay trong những bức ảnh thờ của nhiều gia đình khi sắc quân phục khác nhau, còn mùi trầm thắp chung trên ban thờ là một! Không biết sao tôi cứ hay nghĩ tới chi tiết anh Lực trong truyện ngắn “Cỏ lau” của Nguyễn Minh Châu, anh cầm đũa gẩy, gắp, lựa tìm bức ảnh của mình trong chậu nước thuốc rửa ảnh, những gương mặt người trồi trụt, thoắt ẩn hiện trong hỗn độn đũa gắp – hình như số phận mỗi con người cũng bé nhỏ, thụ động như vậy trong cái vần xoay ngẫu nhiên khắc nghiệt của cuộc đời, không thể đoán định, không thể thay đổi với những lập trình tự đâu đó... Một vài dòng của người lính khiến ta tỉnh thức: “Người lính không gây ra chiến tranh. Sao họ bị trừng phạt?” (110) – vâng, người lính như quân cờ, đâu phải người chơi? người lính như khẩu súng, đâu phải người sử dụng?
Điểm chung thứ hai, đó là những nỗi đau họ phải trải qua, trong chiến tranh, và nhất là sau chiến tranh. Đói khát, gian khổ, chết chóc, thương tật…là những nỗi đau không thể tránh khỏi của mọi người lính trong chiến tranh. Và những người lính VNCH cũng không ngoại lệ - “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ”, nhưng thậm chí, chiến tranh cũng không có khuôn mặt con người, bởi bản chất của chiến tranh là phi lí, phi nhân tính khi mang cái chết trái tự nhiên tới thế giới an lành, bình dị, tự nhiên của sự sống! Chiến tranh khắc nghiệt, tàn nhẫn tới mức xóa nhòa ranh giới giữa sống và chết, giữa may mắn và bất hạnh…, bởi người bỏ xác ngoài trận mạc với người trở về què chân, cụt tay, hỏng mắt, mảnh bom ghim trong đầu…, không rõ ai may mắn, ai bất hạnh, không rõ cái chết kia đau đớn hơn khi con người tan vào cát bụi, vĩnh viễn không được tham dự vào bất kì vui buồn nào của cuộc sống hay người trở về tàn phế đau đớn hơn, khi họ phải sống hết đời với những dằn vặt đau khổ sợ hãi đắng cay sau chiến tranh? Hình như với họ, cái chết mới là sự sống vĩnh hằng ở cõi giải thoát, không còn đau khổ, và hình như sự sống lại là cái chết dần, là sự đày ải chung thân với những đau đớn tới tận cùng cả linh hồn và thể xác! Nếu thấu hiểu nỗi đau đớn của họ, chúng ta dễ dàng chia sẻ cảm xúc của tác giả Phan Thúy Hà khi cô nghe tin một trong số nhân chứng của cô đã được giải thoát: “Chú Châm đã chết. Tôi thương chú hơn hay cảm thấy nhẹ lòng?” (300); và lần khác: “Tôi biết đến họ khi họ đã mất. Niềm vui của họ là gì?...Nỗi buồn của họ là gì. Nỗi buồn của họ là chính cuộc đời họ. Vậy niềm vui của họ là khi họ không còn sống cuộc đời mình nữa. Vậy tôi phải mừng khi nghe tin họ đã chết sao?” (37) – tôi cứ nghĩ không biết tác giả, người phụ nữ còn quá trẻ mới 40 tuổi, chị đã sống bằng bao nhiêu cuộc đời đau khổ để có được những suy luận logic đau đớn đến thế, để hiểu rằng nhiều khi con người chỉ còn bản thân cuộc đời mình thế chấp cho niềm vui giải thoát!
Chúng ta hãy thử chia sẻ cảm giác của những người phế binh và gia đình, người thân của họ để so sánh nỗi đau giữa sự sống và cái chết. Đây là hình hài người phế binh bị thương tại Thượng Đức – Quảng Nam năm 1970, bác “mù hai mắt… một tay cụt tới vai. Hai chân cụt tới háng. Một manh quần đùi phủ lên cho có. Chiếc áo sờn, đứt cúc, cúc nọ chắp vào khuy kia.” (35) … “Bác nằm như thế, qua những sáng, những chiều, qua những tháng, những năm. Bác nằm như thế hai phần ba cuộc đời mình…Bốn mươi tám năm một người không thể tự đi vệ sinh”. Tác giả tự hình dung:“Nếu ở hoàn cảnh bác…”, nhưng rồi ngay lập tức, chị lại sợ hãi gạt đi giả định khủng khiếp hơn cả cái chết ấy, bởi:“Không ai tàn nhẫn với bản thân mình để đặt một giả sử như vậy.” (37). Đó là một người mà bản thân việc duy trì sự sống đã là điều khó hiểu, chỉ có thể giải thích như một sự trả ơn đau đớn: “Vì sao bác phải sống. Vì bác sĩ nỗ lực cứu bác đến cùng. Vì suốt bốn mươi tám năm người vợ hiền không bỏ bác một ngày nào”(37) – có sự trả ơn nào đáng thương, đáng sợ, đáng kinh ngạc hơn khi con người phải tự đày ải mình độc ác tới vậy?
Hoặc một phế binh khác, bị thương thật oái oăm với “một viên đạn trổ từ phía sau lưng ra trước bụng. Chú bị thủng bọng đái và đường tiểu” (151). Chú có vợ, nhưng bản thân việc lấy vợ cũng là một sự tàn nhẫn tới không hiểu nổi khi người phụ nữ tận tụy khổ đau của chú chưa một ngày được làm đàn bà. Họ sống trong một “gian nhà” được dựng lên từ cái chòi vịt cũ, ngăn đôi, gian ngoài là giường cô, gian trong là chuồng bò và giường chú, khi tác giả đau đớn “muốn thét lên” vì nhìn cảnh sống của họ: “Trong một cái lán có hai còn người sống với bốn con bò. Hoặc là, nói khác đi – trong chuồng bò đó có hai con người cùng chung sống.” (154), thì họ bình thản nói “quen rồi” - “Sống quá lâu trong nỗi bất hạnh, cô chú đã mất đi cảm nhận bình thường. Không nghĩ đến một sự cải thiện. Tình trạng bệnh tật. Hoàn cảnh sống.” (155). Nỗi đau của người vợ bất hạnh được giấu kín bao năm cho khỏi đau lòng chồng, có khoảnh khắc đã ứa tràn, rớm xót:“Cô tiễn tôi ra về một quãng xa. Tôi đau đớn nhìn cô. Vậy là cô chú chưa khi nào làm việc đó? Cô lắc đầu. Lúc này tôi mới nhìn thấy giọt nước mắt của cô. Giọt nước mắt vừa lăn trào cô đã quệt đi rất nhanh. Cô quay xe đạp. Ngôi nhà cô chú giữa cánh đồng nhìn từ xa thanh bình yên ả” ( 155)! Trong giây lát, đột nhiên tôi sợ hãi – tôi rất thích chụp lại những bức ảnh làng quê thanh bình, yên ả, liệu trong những bức ảnh của tôi, có bức nào từng chạm vào một nỗi đau như vậy?
Điểm chung thứ ba của những người lính VNCH chính là điều đã chạm sớt phía trên, nhưng vẫn cần tách ra thành một trạng thái tâm lí riêng biệt trong phần này – đó là sự sợ hãi và an phận.
Hình như sợ hãi là nét chung trong tâm lí của họ: “Cả đời tôi chỉ biết sợ...” ( 133). Một người lính VNCH vì cố giữ tay phải để sau về làm lụng kiếm sống, khi còn trong quân ngũ đã tự bắn vào tay trái hi vọng được giải ngũ, nhưng khi lành thương, ông vẫn phải đi tiếp, đi tới khi “cụt một giò, hư một mắt” mới được về, sống bằng nghề bán vé số, nói chuyện với tác giả, ông gói nỗi sợ hãi trong sự bằng lòng, an phận: “Chú làm được ngày nào thì làm, tới khi không làm nổi nữa thì thôi. Cuộc sống thế này là tốt lắm rồi con ơi. Từng câu bật ra run rẩy. Nỗi sợ hãi vẫn còn đó…Tôi chỉ đến thăm chú. Hình hài chú đây. Cảnh sống hiện tại này. Tôi còn muốn biết gì thêm. Tôi không muốn biết gì thêm.” ( 209). Trong một bài kệ thời Lý, Diệu Nhân ni sư có viết: “Thiền Phật bất cầu/ Đỗ khẩu vô ngôn” – ( Không cầu Thiền, Phật, mím miệng không nói)! Có những lúc, im lặng, chấp nhận sự thật không chỉ là khôn ngoan, “hiểu chuyện” mà còn là nhân đạo nhất với chính trái tim mình.
Nhưng họ an phận không chỉ vì sợ hãi, họ an phận còn vì tâm lí buông xuôi của người đã gắng đi gần hết con đường trầm luân khổ ải, còn chặng ngắn nữa, gắng nốt cho xong. Nghe lời động viên chữa bệnh, thay đổi hoàn cảnh sống, họ thở dài: “Chú già rồi, chờ mấy năm nữa chết luôn.” (152); trước một tấm lòng thương cảm, họ an ủi mình và người: “ Nghĩ nhiều làm gì thêm buồn…Buồn thì đến tuổi này mọi thứ cũng xong rồi” (288)… Họ an phận cũng vì nhu cầu sống của họ phù hợp với sự biết thân biết phận, tự bằng lòng với thực tại: “Vài chục nghìn đồng cho một ngày phơi nắng. Vài chục nghìn đồng cho một chiếc xe lăn đi lăn về quãng đường chục cây số. Rứa là đủ bỏ vô lỗ mồm rồi” (273). Thậm chí, họ biết tiết chế không chỉ cho nhu cầu tồn tại tối thiểu mà còn dư cho lòng tự trọng của người đàn ông, ngồi uống nước với cô nhà văn xong, nhân chứng quày quả đi tiếp chặng đường lầm lụi mưu sinh với nắm vé số, vậy mà trước khi đi, ông vẫn kịp đưa cho cô tờ 200 ngàn trả tiền nước vì: “Con là khách nơi xa đến, ai lại thế, để bác trả” ( 293).
Tất cả họ đều muốn khép lại quá khứ buồn, với họ, “kí ức không phải chốn đi về náo nhiệt” ( 283); tác giả kể về những điều họ nói:“Chú pháo binh: Có gì đâu. Tất cả đã qua…Chú cảnh sát nói: Các chú không còn muốn nói gì và cũng không muốn nghe gì hết” (255); họ tìm sự bình yên trong những tiếng hát khiến người nghe không bình yên: “Xuân đang về trên khắp đất trời nhưng tất cả xuân là ở đây” – ( Cám ơn –Trịnh Lâm Ngân) - “nhưng tất cả xuân là ở đây”, chú hát bình thản mà sao lòng tôi nghẹn” (316); thậm chí họ còn an ủi người nghe: “Chú hát, chú được sống trong kỉ niệm. Không có khổ gì đâu con.” (302),“Chú pháo binh: Mọi cái cũng qua đi. Mỗi ngày bình thản như những ngày bình thản khác”(256). Sự an phận mong tìm kiếm cảm giác yên bình của họ khiến người phụ nữ sinh sau chiến tranh rất lâu, chợt hiểu: “Bình yên là bức tranh không nhìn thấy con người. Bình yên là nơi xa xa ta nhìn thấy mà không có mặt ở đó.” (299) – có triết học nào sâu xa, thấm thía hơn thứ triết học được chiết ra từ máu, nước mắt của cuộc đời – quả thật, khi con người vẫn nhắc tới bình yên, nghĩa là khi ấy, bình yên còn ở một nơi xa lắm!
Trong bài viết này, tôi muốn dừng ở hai cuốn sách Phan Thúy Hà viết về hai đối tượng đã từng là đối thủ. Dù chiến tranh đã lùi xa tới mấy thập kỉ, dù việc ra đời của hai cuốn sách trong một Nhà xuất bản tầm cỡ, chính thống đã cho thấy những bước đi tích cực của hòa giải và hòa hợp, vẫn không khỏi thấy ngưỡng mộ tấm lòng, tâm huyết, bản lĩnh của cả nhà văn và Nhà xuất bản. Nếu có điều kiện, nên có một bài viết riêng cho một nhân vật chung xuất hiện trong cả ba cuốn sách, đó là tác giả, là người chép sử, là người nghe những câu chuyện, người đọc những trang viết, người không dám khóc cùng với những nhân chứng của mình, người chỉ dám dành nước mắt âm thầm thấm vào từng chữ, từng dòng, từng chuyện, rồi lại lặng lẽ hong khô nó, lặng lẽ chia sẻ với đời những mảnh khô cứng, thô nhám, cháy rát... Nhân vật chung ấy từng khóc khi bị nhân chứng xua đuổi, khi bày tỏ mong muốn được nhìn thấy bề sâu của lịch sử, vì: “Bác ơi, bác có biết không, bác là tên giặc đầu tiên cháu được nhìn thấy ngoài đời.” (77); nhân vật ấy cũng tự bạch về lí do viết cuốn Tôi là con gái của cha tôi sau khi hoàn thành cuốn thứ nhất “Đừng kể tên tôi”: “Mục đích em viết cuốn thứ hai này để làm gì?…Vì em cảm thấy cuốn trước mình chưa viết xong, phải viết tiếp cho xong.”(80) – mục đích ấy vừa nhân văn vì cái nhìn đa chiều, vừa khoa học vì không phiến diện, “chưa viết xong” là chính xác, vì một bàn cờ phải nhìn hai bên, một cuộc chiến phải nhìn hai phía, để thẩm âm một tiếng vỗ tay phải quan sát cả hai bàn tay…- cho nên sau cuốn “Đừng kể tên tôi” tất phải viết tiếp “Tôi là con gái của cha tôi”! Một day dứt suốt bao năm trong lòng người lính VNCH chính là:“ba cháu nghĩ thế nào về các chú?” (256), đó chính là nỗi day dứt mong được thấu hiểu. Tôi thoáng nghĩ tới ý nghĩa nhan đề cuốn sách thứ hai – tại sao cuốn sách với nhân chứng là những người lính VNCH lại mang tên “Tôi là con gái của cha tôi”, ngoài sự liên quan trực tiếp tới một người cha của chị Quỳnh Anh trong đoạn ghi chép cuối tập sách (342), có phải tác giả Phan Thuý Hà còn muốn mình xuất hiện trong vị trí là con gái một người chiến sĩ quân giải phóng để có thể hiểu nhiều hơn về người cha thân yêu của mình qua chính những người từng là đối thủ của cha? Điều này phần nào cũng được chính tác giả bộc bạch ở đầu sách: “Tôi là con gái của cha tôi. Con gái một người từng là lính. Con gái của cha đã đi gặp các chú, các bác, con thấy được hình bóng cha, còn như đang trò chuyện với linh hồn cha.” (6)
Cả Quỳnh Anh và Thuý Hà đều trân trọng, yêu thương khi nhắc tới cha mình - hai người lính trong một cuộc chiến không phải do họ tạo nên! Có một chuyện giúp chúng ta hiểu thêm: một người lính VNCH đạp phải mìn, đứt lìa hai chân, máy bay tới đón nhưng không hạ cánh được vì đạn ở dưới bắn lên, người lính chờ cái chết khi bị treo tòn teng giữa trời, sau này, người hàng xóm nghe chuyện nói “chính đơn vị anh lúc đó nằm dưới bắn lên. Hai người nghe chuyện của nhau chỉ biết cười” ( 288) - đúng là họ còn biết nói gì thêm, ngoài cười, họ hiểu họ ở bên này hay bên kia cuộc chiến cũng chỉ do sự sắp xếp ngẫu nhiên của số phận, trước và sau cuộc chiến, những thân phận nhỏ bé ấy là những người dân lầm lụi mưu sinh, đâu có hằn thù gì nhau!
Và điều may mắn là trong cuộc hành hương về quá khứ, những cuộc gặp gỡ, trò chuyện đã giúp nhà văn thấu hiểu, hiểu để xót thương, tuyệt đối không hằn học – hai cuốn sách một mặt góp thêm một tiếng nói lên án chiến tranh, cùng mạch với “Nỗi buồn chiến tranh”, “Không phải trò đùa”…, mặt khác, tính chất phi hư cấu khiến tác phẩm không nâng lên, đặt xuống, vo tròn hay bóp méo sự thật, chỉ để sự thật tự lên tiếng, hướng gọi sự thấu hiểu và yêu thương, kêu gọi sự mở lòng cần thiết vô cùng trong một đất nước mà: “chiến tranh kéo dài hơn nửa thế kỉ, có đứa con nào không phải con của lính. Cả đất nước là một chiến trường. Cả đất nước là một trại gia binh”. ( 204). Trong cuộc hành hương ấy, tác giả nhận ra: “Ở đâu cũng khuôn mặt vò võ khổ đau. Ở đâu cũng ám trên mặt người nỗi sợ. Ở đâu cũng nhiều người tốt phải sống trong bất hạnh. Ở đâu cũng ân tình” (156); và chị đã bắt tay vào thực hiện mong ước của một người lính: “Dù phía nào thì mỗi tấc đất của Tổ quốc đều thấm máu của những anh em cùng chung dòng giống ngã xuống… chú ước có người Việt Nam nào đó viết lên được thân phận con người Việt Nam trước những sự chết chóc tàn bạo đó”( 256).

Hà Nội, 5/2020

 

Tác giả bài viết: Facebook Tuyet Trinh Thu.

Nguồn tin: BVM

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây