NHỮNG LUỐNG CÀY VẮNG MÙA(*)

Thứ sáu - 15/06/2018 11:03
Nguyễn Xuân Dương
images
images

Nơi đất lúa muôn đời

và con đường viền nối làng thành những miếng vá xanh thẫm
trên lưng áo bạc
làng cách nhau chừng một đỏ
đuổi xa về phía chân đê.
 
Nơi em đợi anh mỏi mòn mùa vụ
lớp lớp luống cày già nắng, chờ mưa đón nước đầu ngòi
hễ có nước là có cá
Thảy bốn miệng ăn đói, no quần tụ nếp nhà.
 
Giờ, chiến tranh đã lùi xa
không anh
chỉ công trường tràn chen đồng lúa
gốc bứa – nơi mình chia xa, đường lớn mở qua mất dấu
chân ruộng chỏng chơ, hoang hóa đã lâu.
 
Có hôm, đám cò trắng sà thấp xuống đồng
nào đâu còn tôm, cá
hay chúng quen mùi máu của cha, mồ hôi mẹ và giọt lệ nơi em ?
chúng đã nhớ tìm
sao
cứ vội bay đi !?

                                                               


Thơ Bùi Việt Mỹ (BVM) là thứ thơ kén chọn người đọc. Đọc nó không chỉ một lần mà phải đọc đi đọc lại nhiều lần, phải đọc chăm chú và cẩn trọng. Phải cảm nhận thơ BVM không chỉ bằng sự rung cảm của con tim mà phải cộng thêm vào đó sự rung cảm của trí tuệ, ta mới có thể nắm bắt được cái thần thái của thơ anh. Luôn có một điều gì đó sâu xa, kín đáo ẩn sau những câu thơ gồ ghề và thô ráp. Tất cả mọi thứ ở đây: Giá trị nghệ thuật, giá trị tư tưởng, những băn khoăn trăn trở đều nằm phía ngoài văn bản, phía sau văn bản. Văn bản ở đây chỉ mang tính chất gợi ý, hướng đạo và kích thích trí tưởng tượng, sự liên tưởng, sức suy nghĩ của người đọc.

Bài thơ được viết theo thể loại thơ không vần. Theo tôi thơ BVM đã khai thác một cách triệt để tính ưu việt của thể loại này, đó là tùy thích tìm kiếm những chữ dùng đắc địa mà không hề phải lệ thuộc vào vần điệu hay số chữ được quy định nghiêm ngặt trong câu thơ của thể loại thơ truyền thống. Ở Những luống cày vắng mùa và rất nhiều bài thơ khác của BVM sự kết dính trong thơ không được thiết lập bằng những liên từ, bằng chính văn bản. Sự kết dính ở đây được thiết lập bằng sự liên tưởng và trí tưởng tượng. Có liên tưởng và tưởng tượng ta mới thấy được cái hài hòa, sự kết dính bền vững trong thơ anh. Bài thơ được chia làm ba khổ mà hai khổ đầu đói lập với khổ thứ ba nhưng lại bổ trợ cho nhau một cách tuyệt đối. Khổ một và hai là bức tranh của vùng quê lúa. Bức tranh là sự phác thảo tổ hợp của những con đường, những bờ đê, những đồng lúa, những xóm làng mà ở đây BVM đã dùng hình tượng: Những miếng vá xanh thẫm  trên lưng áo bạc. Một sự so sánh rất cụ thể, nhưng trong cái cụ thể này lại ẩn chứa cái táo bạo. Từ áo chung chung cho ta liên tưởng là tấm áo của mẹ - Người mẹ đất nước lam lũ nhọc nhằn với tấm áo bạc có nhiều mụn vá. Nếu sa đà có thể thêm vào chữ màu sau chữ bạc, câu thơ sẽ dài ra và mềm hơn. Nhưng BVM không thế. Chữ nghĩa của BVM không chỉ chính xác đến từng mi li mét mà là từng micro mét. Thêm chữ màu vào là thừa vì chỉ có màu mới bị bạc. Chữ bạc đặt đơn lẻ cho ta thấy cái hụt hẫng của câu thơ, cái gai nhọn, tăng thêm nỗi nhọc nhằn và nghèo khổ của mẹ. “Làng cách nhau chừng một đỏ”. BVM không dùng đơn vị đo chiều dài để tính khoảng cách giữa các làng. Ngày xưa cha ông ta đâu có đo đạc các đoạn đường làm gì? Có chăng phải đo đạc diện tích ruộng đất để đóng tô, đóng thuế. Một đỏ là đơn vị ước lệ nên mỗi người có quyền dành cho mình một cách chọn lựa, một cách phân định tùy thuộc vào các làng quê của mình và còn tùy thuộc vào sức lực của mỗi con người. Một đỏ của BVM là đơn vị đo khoảng cách được tính bằng công sức đổ ra khi ta đi trên những quãng đường từ làng này đến làng khác. Ở đây còn có một gia đình: “Thảy bốn miệng ăn đói, no quần trụ nếp nhà”. Cuộc sống tuy bữa đói, bữa no, nhưng yêu thương và quần tụ. Ở đó còn có: “Nơi em đợi anh mỏi mòn mùa vụ/ lớp lớp luống cày già nắng, chờ mưa đón nước đầu ngòi”. Những cánh đồng đổ ải già nắng chỉ chờ những cơn mưa, chờ những dòng nước ắm ắp phù sa đầu ngòi đổ về là sẽ sôi lên xèo xèo rồi tan chảy. Những khoáng chất qua phản ứng phân hủy tự nhiên ấy đã được đất hấp thụ cho mùa màng sinh sôi. Câu thơ: “Hễ có nước là có cá” tưởng chừng như đó chẳng phải là một câu thơ. Nhưng đó là chân lý, có nước là có cá, co tôm, có cua, có ốc, có ếch làm thức ăn cho người, thức ăn cho cả loài cò – người bạn thân thiết của nhà nông, sự điểm tô kỳ diệu cho những cánh đồng, những lũy tre làng.

Nhưng rồi... mở đầu khổ hai là sự hụt hẫng đến bất ngờ, đến khắc nghiệt: Giờ chiến tranh đã lùi xa! Không anh. Hóa ra quá khức của một vùng quê lúa nghèo khổ nhưng bình yên và người cày có ruộng lại được hiện về trong tâm thức của người lính đã ngã xuống ở chiến trường. Hỏi có gì đau xót hơn thế? Quá khứ và hiện tại hiện lên rõ mồn một nhưng không phải trong tâm thức của những người đang sống mà là trong tâm thức của một người đã chết. BVM chỉ là người đóng vai trò một người đã nhập đồng mà thôi. Đến đây thì Những luống cày vắng mùa đã hiện rõ dần cái thần thái tài hoa của nó. Công trường tràn chen đồng lúa, cái gốc bứa nơi kỷ niệm của tình yêu lứa đôi xưa cũ vì: Đường lớn mở qua mất dấu, Chân ruộng chơ chơ hoang hóa đã lâu. Thi thoảng niềm vui chợt lé lên trong em khi em nhìn thấy: Đám cò trắng sà thấp xuống đồng. Niềm vui vừa lóe lên chưa kịp hình thành ánh sáng, một thứ ánh sáng dù nhợt nhạt mơ hồ đi chăng nữa thì đã vụt tắt vì đám cò đã Vội bay điNào đâu còn tôm, cá cho chúng đỡ đói lòng. Ở đây ta thấy thêm sự tài hoa và cẩn trọng của BVM khi anh dùng từ đám chứ không phải là từ đàn. Đàn thì đông vui và quần tụ. Đám là biểu tượng của số đông nhưng lại là số đông của sự ô hợp. Loài cò lưu lạc muôn phương ấy thỉnh thoảng vì: Quen mùi máu của cha, mồ hôi mẹ và giọt lệ nơi em ?? nên đã tụ về thành đám sà xuống những cánh đồng.

Đã biết bao nhiêu: Máu của cha, mồ hôi mẹ và giọt lệ nơi em đã đổ xuống trộn hòa trong đất, trong những con tôm, con tép, con cua, con nhái ngấm máu của cha, mồ hôi mẹ và giọt lệ nơi em để lớn lên, để sinh sôi và rồi mắc nghiện. Đám cò trắng hôm nay không phải là những đàn cò trắng ngày xưa quấn quýt bên chân trâu, chân bò, có khi cả chân người để rình bắt con tôm, con tép mà là đã là hậu duệ mấy đời của chúng. Máu của cha, mồ hôi mẹ và giọt lệ nơi em đã từ con tôm, con tép ngấm qua loài cò để trở thành một thứ gen di truyền mãnh liệt trong loài cò. Đám cò đã có hôm sà xuống cánh đồng hoang hóa và mãi mãi về sau nó vẫn sà xuống dẫu biết rằng nơi đây chẳng còn con tôm, con cá. Thế mới biết máu của cha, mồ hôi mẹ và giọt lệ nơi em đối với loài cò là vô giá.

Đó là tất cả những gì mà Những luống cày vắng mùa muốn gửi gắm vào cõi người. Nhưng thật tiếc, thật chua sót vì con số một ngàn cuốn thơ trên 85 triệu người thật nhỏ nhoi. Với cơ chế phát hành sách văn học hiện nay là con số không tròn trĩnh đó thì làm sao những cuốn sách, những tập thơ, những bài thơ hay với số lượng nhỏ nhoi và mỏng mảnh có thể thấm thấu được vào trong cõi người mênh mông để làm được cái chức năng trọng đại của văn học là hướng con người đến với chân thiện mỹ trong đời !?

 

NGUYỄN XUÂN DƯƠNG - Mùa Hè, 2018

 

 

* Rút trong tập thơ cùng tên của nhà văn Bùi Việt Mỹ - Nxb Văn học 2010.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây