TA NGỒI VIẾT DƯỚI TRỜI XANH

Thứ ba - 17/03/2026 15:39
(Đôi lời cảm nhận về thơ “Lục bát Việt Nam”, tập 10, NXB Hội Nhà văn, quý I năm 2026).
TA NGỒI VIẾT DƯỚI TRỜI XANH


 

       Nhà phê bình văn học Đinh Thiên Hương

                 Trong hơn 20 năm qua, “Thơ lục bát Việt Nam” được tổ chức biên soạn, phát hành đều đặn và ấn hành bởi NXB Hội Nhà văn. Đến nay đã là tập thơ thứ 10. Tinh thần nỗ lực không mệt mỏi, rất vô tư và khách quan; thái độ trân quý những mảy vàng lục bát và lòng kiên trì “đãi cát chân quê” của những người làm sách, của cơ quan chỉ đạo: Trung tâm văn hóa TP Hà Nội trước đây và Liên hiệp các CLB thơ Lục bát Việt Nam ngày nay, là rất đáng trân trọng và biểu dương, khích lệ.

    Vì là tập thơ lục bát của nhiều tác giả, nên trước hết có thể thấy, người làm thơ quan niệm thế nào về thể thơ họ đang sử dụng- một thể thơ thuần Việt, rất truyền thống, nhưng dễ làm, khó hay. Tôi bị thuyết phục và nhận ngay ra rằng, tình yêu đất nước quê hương của người làm thơ, chọn thơ, thể hiện ngay trong tình yêu ngôn ngữ tiếng Việt, yêu một thể loại thi ca là thơ lục bát, đã trải qua bao đời nay gói ghém và chất chứa tư tưởng cùng tâm hồn dân tộc, góp phần làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Họ thoải mái trong tự do sáng tạo“ngồi viết dưới trời xanh” như ý thơ của thi bá Thanh Nhã. Họ là những cây bút chuyên và không chuyên, nhưng rất có ý thức góp gom, nhặt nhạnh, giữ gìn “Về làng nhặt được câu thơ/ Lấm lem bùn đất ai vừa đánh rơi/ Vuốt nhàu, gột sạch, hong phơi/ Mới hay lục bát từ hồi xa xưa”(Ngô Đình Ngọ). Với họ, lục bát làm nên điệu hát ru ngàn đời “sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn”, để “Nghiêng chao cánh võng, nghiêng lời mẹ ru”, để táo bạo mà duyên dáng: “Xin đừng ngại khúc sông sâu/ Tôi đem lục bát bắc cầu người qua”(Nguyễn Thiết Kế). Thơ lục bát là cái cớ gặp gỡ, trao duyên trong đêm “Vầng trăng cắt mảnh câu thề/ Yêu câu lục bát tìm về bên nhau”(Nguyễn Công Sừ). Cánh thư chín nhớ mười thương một thời bom đạn và nghiệt ngã chiến tranh từng làm cho bao cặp đôi phải chia lìa, xa cách biệt ly; để đến “Bây giờ tóc đã hoa râm/ Nhớ người tựa cửa thơ ngâm đôi vần”(Trương Đình Tưởng). Vậy là với một dân tộc yêu thơ, có truyền thống thơ ca, thì không khó hiểu, khi thơ lục bát hứng lấy mọi nỗi  buồn vui, thắm nhạt, chia xa hay gần gụi, sướng vui hay đau khổ…của đời người“Nửa câu lục bát xa vời/ Nói ra sợ nhạt mất thời tóc xanh”(Phạm Xuân Dung); “Đẩy câu lục bát qua sông/ Em đi theo chồng từ bấy đến nay/ Nhớ thương câu hát hao gầy/ Vầng trăng sẻ nửa bến này chia hai”(Vũ Thị Minh Thu). Câu thơ“À ơi, câu hát thuở nào”của Khúc Hồng Thiện, chắc cũng là từ điệu lục bát sinh sôi ấy mà ra. Cho nên, Nguyễn Minh Thuận trong bài “Lục bát đi đâu” rất có lý và có duyên khi luận bàn một cách khá “chiết tự” về cặp lục bát: “Lục là đòn, Bát là quang/ Gánh gồng bán cái lang thang cho đời/ Lục ngồi câu lấy chơi vơi/ Bát ngồi bát xé mặt trời làm hai/ Nửa quên thì để ban mai/ Nửa còn thành tiếng thở dài hồng nhan/ Lục tìm trong cõi nhân gian/ Bát chia tám hướng cho ngàn nỗi đau…”Thú vị là, chỉ 8 dòng lục bát ấy thôi, mà chạm tới cả vần nhịp, ngôi thứ và giá trị nội tại mỗi vế của câu thơ lục bát tự ngàn đời và cho tới mãi muôn mai…

   Đọc “Thơ lục bát Việt Nam” tập 10, chúng ta bắt gặp nhiều bài thơ về đất nước và người lính. Đây là cảm hứng lớn, được khơi dậy trong những ngày lễ kỉ niệm trọng đại của đất nước và dân tộc; có những sự kiện lịch sử khởi đầu của kỉ nguyên vươn mình, mà chỉ cần nhắc tới thôi, người có tâm hồn đều không khỏi có những xao xuyến, bồi hồi và khơi dậy những vần thơ.

   Vân Nga nhắc tới “Lá thư chiến trường” một thời đánh giặc. Người không về, sống mãi tuổi đôi mươi, nhưng“Phong thư nét mực còn đây/ Anh xa còn lá thư này bên em”. Nguyễn Thị Ngân nhắc tới chiếc cầu Tây Nguyên được dựng xây hôm nay“treo giữa đất trời mênh mông” là để ghi lòng tạc dạ duyên nợ, nghĩa tình với vùng đất ba-dan xưa. Có bao thế hệ đồng bào đã hết lòng cho kháng chiến cứu nước: “Qua cầu ta lại nhắc nhau/ Xin đừng để mẹ nặng đau kiếp người/ Phù sa theo nước về xuôi/ Là dòng sữa mẹ nên người hôm nay/ Tròng trành như ngả nghiêng say/ Khơ Bang nối một cầu Dây lòng người”. Phan Nghi từ Quảng Ninh thì bộc bạch lòng “nhớ ơn” rất trực khởi: “Các anh nằm xuống đất này/ Để cho Tổ quốc hôm nay đẹp giầu”. Nói như Đàm Thị Thúy Thu khi nhớ về đất trời Vị Xuyên là nhớ tới“Đồng đội còn đó hay không/ Đứa còn đứa mất sao không thấy về/ Bao mùa xuân đã xa quê/ Nằm trong lòng đất lời thề Vị Xuyên”. Niềm vui non nước huy hoàng trong lễ kỉ niệm đại thắng 30 tháng 4 của cả dân tộc, nhưng vẫn khôn nguôi nỗi đau của bao lòng người mẹ:“Mẹ mừng con trọn lời thề/ Dù cho lòng mẹ tái tê tháng ngày”. Có những người lính như Phan Xuân Sơn vào trận mang theo cả tình yêu đầu đời, tình yêu quê hương thấm đượm:“Ngày đi ánh mắt em cười/ Tôi mang theo cả ráng trời thanh xuân”. Cho nên thắng giặc trở về, mỗi lần “Họp mặt sư đoàn”là mỗi lần Nguyễn Hữu Quách cùng đông đội lại nhắc mhau: “Mưu sinh muôn nẻo xa gần/ Quê hương đất nước chung phần dựng xây”. Vẫn là ý thức trách nhiệm và lời thề danh dự cao cả vì nước vì dân ấy của anh bộ đội Cụ Hồ!

   Trong các bài thơ về những người lính cách mạng hy sinh, “Ngóng chồng” của Ngô Nguyên Ngần thật xúc động, hay cả về ý tình và ngôn từ, thi ảnh. Bài thơ viết về chị Phan Thị Nhanh, vợ liệt sỹ Ngô Văn Bội: “Ngóng anh mấy chục năm dài/ Chị tôi hóa dại những ngày đang xuân (…) Hương thầm nghi ngút tỏa lan/ Đôi tay ngơ ngác vớt làn khói sa/ Nhẩm thầm đếm bước chân qua/ Chị tôi nào nhớ đường ra lối về”. Thực ra nỗi đau đến điên dại này chẳng phải của riêng ai một thời trận mạc. Nhưng đúng là “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”. Vợ người liệt sĩ trên đây cứ sống chập chờn mộng mị như thế cả một chặng đường đời rất dài, rồi mới tỉnh cơn mê, nguôi ngoai lòng buồn…Bài thơ thật thương. Nhưng đúng như người ta vẫn nói: người mất sẽ không hoàn toàn mất đi, nếu như trong ý niệm và tâm tưởng của người sống còn luôn có hình bóng của họ. Tưởng niệm những anh hùng liệt sỹ là làm cho hồn thiêng ấy bất tử với thời gian…

   Trong “Thơ Lục bát Việt Nam” tập 10, cuối cùng còn bắt gặp đủ mọi chuyện đời-nghĩa là đủ các đề tài khác nhau trong cõi nhân sinh này. Trong mối quan hệ gia đình, có tình nghĩa: anh em, vợ chồng, họ hàng và nhiều nhất là tình mẫu tử - phụ tử, với muôn vàn trạng huống khác nhau. Trong mối quan hệ xã hội có tình với quê hương, xóm làng; tình đồng chí, đồng bào, đồng nghiệp…Nhiều hơn cả là tình yêu lứa đôi (có không hiếm những mối“Tình chiều”). Nhưng giờ đây dường như, những mối quan hệ thiêng liêng ấy bị lọt thỏm trong cái quy luật nghiệt ngã của kinh tế thị trường. Nó làm cho người thơ đau đáu nỗi trăn trở, ưu tư.

   Lê Thanh Bình buồn nỗi “Mưa rơi phố lạ”. Nguyễn Đức Bình xa xót, ngỡ ngàng: “Ngày về về lại cố hương/ Nửa con mắt trái dò đường đổi thay”. Quý Dương thì vừa tiếc nuối “Nhà cao đã khuất tre làng” vừa cười ra nước mắt trước những nghịch cảnh trơ trẽn, éo le “Việc ban đêm đã làm ngày/ Tối xưa chèo, hát, giờ bày Ôkê/ Ngược xuôi ngang ngửa muôn nghề/ Đâu cây đa cũ nguyện thề tơ vương”. Nhà thơ nữ Nguyễn Thị Điệp sau khi nhấp “chén rượu đời/ Sặc mùi nồng nặc, bời bời dối gian”, nhưng may thay, nhà thơ vẫn “nuôi niềm hy vọng giấc mơ an lành”.

   Nếu Nguyễn Xuân Hồng không giấu giếm nỗi niềm tha thẩn đi tìm cái không gian văn hóa chợ quê thuở nào“Hàng tre cong ngọn lặng im/ Chúng mình giờ lại đi tìm ngày xưa”, thì Nguyễn Khoái cũng thẳng thắn trách cứ cái sự vơi hao dần lòng yêu bản sắc một thời của người vọng ngoại“Mai em về, giã hội rồi/ Trầu têm cánh phượng, nhạt vôi cuối chiều”.

   Trong cái mạch cảm xúc hụt hẫng, nao buồn khi cái mới và cũ còn giao tranh, những giá trị văn hóa xưa chưa vững chân trên đồng đất mới và cái mới chưa định hình, tương thích…, chúng ta bỗng quý và thầm biết ơn những nỗ lực giữ gìn và đánh thức, trong thơ của nhiều tác giả. Nguyễn Mạnh Khởi cuốn hút bởi hình cái cổng làng “Quê giờ ngõ rộng đường quang/ Còn nguyên kí ức cổng làng thuở xưa”. Nguyễn Thị Lai như dồn hết cả tâm lực để“Đi tìm” những hào quang xưa. Bài thơ của chị như một khúc hoan ca đầy chất nhạc lòng, vừa sốt sắng nhiệt tình, vừa đầy tràn hy vọng, mong văn hóa dẫn đường cho chúng ta đi “Đi tìm một khúc sông quê/ Để mong tìm lại câu thề đánh rơi/ Đi tìm vạt nắng cuối trời/ Để mong sưởi ấm cuộc đời sang Đông”. Nhà thơ Đỗ Trung Minh vừa từ Khau Vai “Mua cái đợi, bán cái mong”, đã “Gửi sang quê lúa láng giềng” lời mời gọi đến với vùng quê giầu bản sắc văn hóa và giá trị lịch sử “Em về Vĩnh bảo quê tôi/ Nhớ Diêm Điền, nhớ Quỳnh Côi, những chiều”. Khúc Hồng Thiện càng“ngất ngư say” với cơn mưa trên cao nguyên đá Đồng Văn, gặp lại giấc mơ “Hạnh phúc một con đường”, lại càng khắc khoải âu lo, một ngày nào đó, tìm đâu được trong câu hát xưa những sắc mầu văn hóa của khoảng trời ấu thơ, dù “Biết rằng mất những túp lều/ Ấm no khấm khá là điều ước mong/ Chỉ e, con hỏi…cánh đồng/ Trả lời có, trả lời không…thế nào!”.

   Như trên đã nói, không thể nói gọn về nhiểu thành tựu trong một tập thơ công phu và chất lượng. Chỉ xin nhắc lại và khẳng định ở đây một điều là cơ quan chủ biên và những người làm sách có công đầu trong việc bồi dưỡng cảm xúc thi ca và quảng bá giá trị của một thể loại văn chương thuần Việt. Người đọc thật sự trân trọng biết ơn.    

Tháng 3/2026
Đ.T.H
          

Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 2 đánh giá

Xếp hạng: 4.5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây