Tản mạn nơi ngã ba sông Bạch Hạc

Thứ ba - 03/03/2026 14:19

Đào Hiền

      Ngày cuối năm, trên đường từ địa đầu cực Bắc về Hà Nội, chúng tôi đi qua miền đất Tổ và rẽ vào thành phố Việt Trì, đến ngã ba sông vãng cảnh đất thiêng Bạch Hạc. Chiều buông, đứng trên bến sông, bên đền Tam Giang, nhìn ra phía hợp lưu của các dòng sông mênh mang, mịt mờ khói sương hư ảo; thoảng nghe trong gió thanh âm của những tiếng chuông chùa đâu đó vọng lại một cách nhẹ nhõm, khoan thai với từng tiếng chậm rãi, ngân vang, kéo dài … rồi lịm dần … lịm dần … tựa như hòa tan vào chốn thinh không; khiến cho cả triền sông chiều hôm trở nên xa vắng, lặng trầm, bâng khuâng, man mác. Và, khi ấy, bất giác, tôi thấy đất trời, sông nước, bờ bãi, bến xưa nơi đây như lắng lại trong cái se lạnh của buổi chiều cuối đông và vọng về trong ký ức những huyền thoại sống động, vô cùng thú vị của vùng đất ngã ba sông mênh mang sóng nước.

Ngã ba Bạch Hạc (còn gọi là ngã ba Hạc) là nơi gặp gỡ của sông Lô (bên trái), từ biên giới Thanh Thuỷ chảy về và sông Thao (bên phải), từ Biên giới, nơi cột cờ Lũng Pô chảy xuống. Tiến lên chút nữa, khoảng chừng hơn mười cây số, trên phía cầu Trung Hà cũng là một ngã ba sông, nơi gặp gỡ của sông Thao (bên trái) và sông Đà (bên phải), từ biên giới Ka Lăng chảy đến. Nước sông Đà màu đen hoà cùng nước sông Thao màu hồng làm ngã ba Hồng Đà loang loáng hai màu; cùng nhau song hành đổ lên phía Việt Trì và nhận thêm dòng nước màu xanh của sông Lô tạo thành sông Hồng đi về phía biển ở cửa Ba Lạt. Ngã ba sông ở Việt Trì chính là ngã ba Bạch Hạc. Ngã ba sông này được coi là hợp lưu của sông Thao và sông Lô, đồng thời cũng là của sông Đà nữa. Tại ngã ba sông Bạch Hạc người ta nhìn thấy dòng sông có ba màu nước chưa được hoà tan hẳn. Sông Thao có dòng nước màu hồng, sông Lô dòng nước màu xanh, sông Đà dòng nước vẫn còn màu đen (nước sông Đà hoà vào nước sông Thao từ Trung Hà chảy xuống ngã ba Bạch Hạc nhưng vẫn chưa trộn được vào nhau hoàn toàn nên nhìn vẫn thấy hai màu khá rõ; đến ngã ba Bạch Hạc, dòng sông hai màu nước ấy lại được hoà với màu xanh biếc của dòng sông Lô khiến khúc sông nơi hợp lưu hiện nổi lên lờ nhờ với ba màu nước trên cùng một dòng chảy, có lẽ vì thế mà trong bài “Ngã ba Hạc phú”, Thượng Thư triều Lê Trung Hưng, Tiến sĩ Nguyễn Bá Lân có viết: “Vui thay! Ngã ba Hạc;/ Vui thay! Ngã ba Hạc/ Dưới họp một dòng;/ Trên chia ba ngác/ Ngóc ngách khôn đo rộng hẹp, dòng biếc lẫn dòng đào/ Lênh lang dễ biết sâu nông, nước đen pha nước bạc”. Cái ngã ba Bạch Hạc ấy xưa nay cũng từng được nhiều người biết đến là một nơi “đất lành chim đậu”. Tương truyền, thời thượng cổ, có một bầy hạc trắng từng ngao du sơn thuỷ, khi ngang qua khu vực ngã ba sông này, chim thấy sóng xô nước trào, khói mây hư ảo cùng một cây chiên đàn cao ngàn trượng, cành lá xum xuê. Vốn là loài chim linh thiêng, bầy hạc biết đây là đất lành liền hạ cánh, rồi kéo nhau về làm tổ, ở trên cây chiên đàn. Bầy hạc đậu trắng cả một vùng nên người ta gọi ngã ba sông này là Ngã ba Bạch Hạc (cũng có khi gọi gọn hơn là ngã ba Hạc). Và rồi. bằng kinh nghiệm của mình, qua dấu hiệu của bầy hạc lạc cư bên bãi sông, dường như người xưa cũng đã tìm được nơi đất tốt để dựng nghiệp. Truyện kể rằng, sau khi đi khắp các miền, vua Hùng đã chọn vùng đất Bạch Hạc là nơi dừng chân cuối cùng của mình trên hành trình đi tìm đất đóng đô. Trong “Đại Nam quốc sử diễn ca” hai tác giả Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái có viết: “Hùng Vương đô ở Châu Phong/ Ấy nơi Bạch Hạc, hợp dòng Thao Giang./ Đặt tên là nước Văn Lang,/ Chia mười lăm bộ bản chương cũng liền.”. Và, xem lại truyền thuyết Hùng Vương ta cũng sẽ thấy có đoạn ghi lại rằng: “Vua đi mãi nơi này nơi khác mà chưa chọn được nơi nào có thể định đô. Đi tới một vùng, trước mặt có ba sông hội tụ, hai bên có Tản Viên và Tam Đảo chầu về, đồi núi gần xa, khe ngòi quanh quất, thế đất bày ra như hình hổ phục rồng chầu, tướng quân bắn nỏ, ngựa chạy phượng bay. Giữa những quả đồi xanh tốt ấy có một ngọn núi đột ngột nổi lên như con voi mẹ nằm giữa đàn con. Vua lên núi nhìn ra bốn phía, thấy ba bề bồi đắp phù sa, bốn bề cây xanh, hoa tươi cỏ ngọt, vừa trùng điệp, vừa quanh co, có rộng mà phẳng, có hẹp mà sâu. Vua cả mừng khen rằng đây thực là đất hợp muôn dân, đủ hiểm để giữ, có thế để mở, thế đất vững bền, có thể dựng nước được muôn đời. Vua Hùng đặt đô ở đó gọi tên là thành Phong Châu. Thành này rộng từ ngã ba sông Bạch Hạc về tới các vùng đất quanh núi Nghĩa Lĩnh...”. Bởi vậy, vùng đất ngã ba sông Bạch Hạc này cũng được coi là nơi phát tích của triều đại Hùng Vương. Theo huyền sử, triều đại Hùng Vương tồn tại khoảng 2600 năm với 18 đời (18 chi họ Hùng truyền đời nhau).

bau vat o noi giao nhau 3 dong song 30 nam nay khong thay tam hoi 109025Đền Tam Giang Bạch Hạc gần ngã ba sông ở Phú Thọ

Sông và Đền Tam Giang Bạch Hạc gần ngã ba sông ở Phú Thọ
 

Từ trên cao nhìn xuống, người ta sẽ thấy phong thuỷ của vùng đất Bạch Hạc và dọc bên đôi bờ sông Hồng, sông Đà quả là đắc địa. Ở đó có cái thế “sơn chầu, thuỷ tụ”. Và cũng vì thế mà trong dân gian, trong tâm thức người dân bên đôi bờ sông nước còn truyền tụng biết bao huyền thoại về một thời dựng nước của dân tộc Việt Nam ở suốt thời tiền sử. Truyền thuyết kể về thời vua Hùng thứ ba có ghi lại rằng, Lạc Long Quân báo mộng cho Hùng Hải (em của Hùng Quốc Vương - thuộc chi/ dòng vua Hùng đầu tiên, nếu tính từ Kinh Dương Vương thì thuộc chi/ dòng thứ ba) sẽ cử ba rồng về trấn giữ một dải sông Thao. Sau đó Trang Hoa (vợ Hùng Hải) có mang. “Tới ngày sinh, nàng ngồi thuyền ra giữa ngã ba sông Bạch Hạc. Sóng nước nổi lên, mây đen kéo kín trời, chớp loà sấm động. Trang Hoa đau đẻ mấy ngày rồi sinh ba rồng. Hùng Hải mừng rỡ. Ba rồng vừa ra đời; trời quang, mây tạnh, sóng lặng, sấm tan. Ba rồng vươn vai vụt trở thành ba người cao lớn tuấn tú, lạy chào bố mẹ. Hùng Hải liền vỗ về ba rồng, truyền cho Rồng cả về trị nhậm ghềnh Ngọc Tháp. Rồng hai về ghềnh Ba Triệu. Rồng ba thì về đầm Đào Xá”. Sau này, đến thời vua Hùng thứ mười bảy, truyền thuyết cũng kể nhiều về nàng công chúa con gái của Hùng Nghị Vương và vùng đất bên sông, dưới chân non Tản, đối diện với ngã ba Bạch Hạc. Truyện kể, Hoàng Phủ Thiếu Hoa công chúa không thích ở vùng núi Nghĩa Lĩnh mà ưa cuộc sống nông trang nên xuôi sông Hồng về cư trú ở một làng ven sông. Khi tuổi nàng ngày một cao mà không chịu lấy chồng, chỉ một lòng với nghề canh cửi. Thấy thế, vua Hùng ép gả nàng cho một viên quan phụ đạo nhưng nàng không ưng nên đã trốn sang trang Cổ Đô. Đến đây, thấy “đất đai màu mỡ, công chúa dạy dân trồng dâu nuôi tằm và dệt lụa. Dạy hết cho dân Cổ Đô, Vân Sa rồi lại mang nghề truyền bảo cho hơn sáu mươi làng ở xung quanh”. Sau đó, nghề này còn được truyền đi rất nhiều nơi khác ở các tỉnh Hà Tây, Thái Bình, Nam Định (trước đây)... Thứ lụa mà công chúa Thiếu Hoa dạy dân làm ấy sau này nổi tiếng cả nước và được ca dao truyền tụng, khắc ghi: “Lụa này lụa thật Cổ Đô/ Chính tông lụa cống các cô ưa dùng”. Giờ đây, trên bến Bạch Hạc, ngắm nhìn đôi bờ Nhị Hà (tên gọi khác của sông Hồng) và đắm chìm trong những huyền thoại thời mở nước ta sẽ thấy quả thực núi sông đất Tổ được tô điểm và sống động hơn rất nhiều bởi những thiên huyền sử. Và, rồi từ những màn khói sóng mênh mang trên mặt nước, cảnh vật làng quê bên dòng sông hiện lên trù phú, ta càng thấy những trang huyền sử ấy rất thú vị. Hiện thực và huyền thoại cứ lung linh bên nhau. Hiện thực của đất trời, sông nước làm thành dáng núi, hình sông kỳ vĩ mà khơi gợi muôn đời sự sáng tạo trong dân gian và để lại cho hậu thế những trang sử vô cùng thơ mộng.  

Đương thời, có lần tôi từng được nghe nhà “Phú Thọ học”, cụ Nguyễn Khắc Xương nói về ngã ba sông Bạch Hạc. Cụ bảo đây là nơi: tụ thuỷ, tụ nhân, tụ khí, tụ phúc. Và nhiều người bảo rằng, Ngã ba sông Bạch Hạc là nơi hội tụ ba dòng sông lớn tạo thành sông Hồng; mở ra cả một vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ trù phú. Cho nên, điểm hội tụ này có thể ví là nơi “giang sơn quy về một mối” của vùng đất Tổ. Sông Đà, sông Thao, sông Lô vốn bắt nguồn từ Trung Quốc xa xôi, đi qua trập trùng núi rừng với những bờ cao vực thẳm nên dòng nước của nó “có đủ vị ngọt - mặn, hương rừng, kẽ đá, mạch đất từ muôn phương góp vào”. Vì vậy, nước ở ngã ba Hạc rất thiêng. Cũng chính bởi “tiếng lành đồn xa” như thế mà không biết từ bao giờ người ta có tục bơi thuyền ra giữa dòng sông xin nước để cầu may. Tục này đến nay vẫn còn lưu truyền. Theo đó, hàng năm, thường thì vào dịp gần tết Nguyên đán hay trước tết Thanh Minh (cũng có khi trước lúc làm nhà, cất mồ, xây mả …) người ta đến đền Tam Giang Bạch Hạc làm lễ xin nước, rồi sau đó đi thuyền ra giữa dòng sông, đúng chỗ hợp lưu của các dòng chảy, dâng lễ lần nữa và xin thần linh cho nước. Nước ấy mang về để thờ cúng, tắm rửa xương cốt, cất mộ, xây nhà, bồi hoàn long mạch … Nói thì đơn giản như vậy đấy nhưng lấy được nước thiêng là việc không phải ai cũng biết cách làm và làm lúc nào cũng ứng. Cùng là nước sông nhưng lấy không đúng thời điểm, không đúng cách, không đúng chỗ thì nước sẽ chẳng bao giờ linh nghiệm. Những người ở Bạch Hạc bảo rằng, muốn lấy được nước linh thiêng trên sông thì phải dậy, đi vào lúc nửa đêm, nhất là vào thời khắc chuyển giao giữa ngày cũ và ngày mới; phải đi thuyền nhỏ, nhẹ nhàng để không làm kinh động trời đất. Và muốn lấy đúng chỗ nước thiêng thì phải ra giữa sông, chỗ giao nhau của các dòng chảy. Thường thì người ta ra xin nước vào ban đêm nên việc phân biệt màu nước trên sông để lấy được nước thiêng là rất khó. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của những người sống trên sông nước ở Bạch Hạc, người ta sẽ dùng tay để cảm nhận và xác định dòng chảy của từng con sông. Nước sông Thao nhiều phù sa nên ấm, nước sông Lô và sông Đà ít phù sa hơn, đi qua nhiều khe núi nên sẽ lạnh. Điểm giao nhau của các dòng sông, nước sẽ man mát. Sự linh thiêng của ngã ba Hạc, của nước sông ở ngã ba Hạc còn được người đời truyền lại qua câu chuyện của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật. Tương truyền, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược, nhà Trần đã nhiều lần chọn khúc sông Bạch Hạc làm nơi luyện tập thuỷ binh. Và mỗi lần ra trận, trước khi xuất quân, Trần Nhật Duật đều cho tướng sĩ ra ngã ba sông lấy nước mang về lập đàn tế lễ. Rồi, sau khi thắng trận trở về, đất nước thái bình, ông cho quân làm lại đền, đúc chuông, tổ chức lễ tạ thần thánh ở đền thiêng Tam Giang. Ký ức truyền kể và đương thời thì như vậy nhưng sâu xa hơn, nguồn gốc của việc thiêng hoá nước sông cùng tập tục thờ nước ở Bạch Hạc có lẽ có từ trước đó rất nhiều. Dường như, đó là những dấu vết của tín ngưỡng thờ nước cầu mùa trong tâm thức dân gian của các cư dân nông nghiệp được lắng lại, thậm chí theo thời gian lớp văn hóa ấy còn bị các lớp văn hóa khác (sau này) che khuất. Thực tế, thời cổ xưa, trong quá trình phát triển của mình, đồng thời với quá trình chinh phục tự nhiên, người Việt cổ cũng không thoát khỏi việc sùng bái tự nhiên. Họ tin rằng, trên mặt đất này mọi vật đều có linh hồn. Tất cả các hiện tượng tự nhiên như: cây, đá, núi, sông, lửa, nước … đều có linh hồn nên rất được tôn vinh, thờ cúng như các vị thần. Bởi thế cái niềm tin vào sự linh thiêng của nước sông nơi ngã ba Bạch Hạc kia âu cũng có thể hiểu và lý giải được.

Cùng với huyền thoại đất, huyền thoại nước; ngã ba sông Bạch Hạc còn có huyền thoại khác. Đó là huyền thoại về một loài “linh vật” được dùng để tiến vua: cá anh vũ (còn gọi là giả ngư). Truyền thuyết kể rằng, cá anh vũ thuộc nhóm “ngũ quý hà thuỷ” (năm loài cá quý hiếm: cá anh vũ, cá dầm xanh, cá lăng, cá chiên, cá bống), có từ hai ngàn năm trước Công nguyên, từng được Hùng Vương phong là “Văn Lang đệ nhất ngư”. Xưa kia, kể cả bây giờ, cá anh vũ, nhất là cá ở ngã ba Hạc vẫn luôn được coi là “báu vật của sông nước”. Nó không chỉ nổi tiếng về độ ngon mà còn không tanh và cung cấp một lượng dinh dưỡng rất cao, được ví như “thuốc bổ tự nhiên”. Các ngư phủ ở Bạch Hạc kể rằng, cá anh vũ có thân dày, thuôn về phía đuôi, dài khoảng từ 30 cm đến 60 cm, không có râu. Thân có màu xám tro, bụng màu vàng nhạt, trọng lượng có thể lên đến 5 kg. Miệng giống mồm lợn, phía dưới rạch ngang, môi hình tam giác, phía trên bành ra, có nhiều gai thịt tròn, tạo thành lớp sụn. Môi cá như thế là do tập tính ăn rêu bám trên vách đá mà thành. Cá anh vũ rất khảnh ăn, không ăn tạp, chỉ ăn rêu bám trên vách đá ở dưới sông. Ngực cá có 14 tia vây, bụng có 9 tia vây, hậu môn có 5 tia vây, lưng có 8 tia vây. Vảy cá óng ánh, màu sắc sặc sỡ, nhìn rất đẹp. Cá anh vũ chủ yếu sống dưới vực sâu, nơi có dòng nước chảy xiết, dưới đáy sông, trong các hang đá. Cá thường đẻ và làm tổ ở các hang đá dưới lòng sông. Thịt cá anh vũ săn chắc, trắng như thịt gà; dai và rất thơm. Đặc sản cá anh vũ nổi tiếng nhất ở cái môi. Ngày xưa, vua chúa thường lấy phần sụn ở môi cá hầm với mật ong để ăn cho cường dương tráng khí.

Về nguồn gốc của cá anh vũ, truyền thuyết có kể lại rằng, ngày xưa ở vùng Phú Thọ có một cây ngô đồng cao ngất trời, rễ cây ăn sang tận Trung Quốc. Vua bên Trung Quốc bèn sai người sang chặt bỏ. Khi cây bật đổ, chỗ gốc cây sâu hắm thành cái hang. Hang này thông sang tận cửa sông ở Trung Quốc. Mùa đông, trời lạnh, cá anh vũ cứ theo cái hang này mà sang nước ta rồi đến mùa hạ, tiết trời nóng ấm cá lại bơi về. Có lẽ, trong sử sách thời xưa còn lưu lại người ta thấy hiếm có một loài cá nào được các sử gia ghi chép nhiều, tỉ mỉ như cá anh vũ. Trong sách “Dư Địa Chí”, Nguyễn Trãi có viết: “Cá Anh Vũ được dùng làm vật cúng tế thần linh...”. Và sách “Đại Nam Thống Nhất Chí” do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn biên soạn cũng ghi: “Cá Anh Vũ còn có tên là Giả Ngư, sinh sống ở ngã ba sông Bạch Hạc. Hàng năm, cứ đến mùa rét mới có. Vị cá rất ngon mà âm bổ. Từ sông Bạch Hạc trở xuôi thì không có nữa”… Và, những người làm nghề săn bắt cá ở Bạch Hạc còn kể rằng, cá anh vũ chỉ đánh bắt được từ tháng Chín năm trước đến tháng Hai năm sau, nhất là vào những ngày sương mù, trời lạnh. Họ bảo cá anh vũ ngon hơn tất cả các loài cá và cá ở Bạch Hạc lại ngon nhất, so với cùng loài cá này ở những khúc sông khác của Đà giang hay Lô giang. Nhớ lại, cách đây gần hai chục năm, có lần về Việt Trì, tôi cũng đã từng một lần được thưởng thức cá anh vũ. Lần thưởng thức đặc sản tiến vua của đất Tổ ấy đến giờ tôi vẫn nhớ mãi. Để ý, tôi thấy cá anh vũ được người ta mổ ra, rửa sạch, ướp gừng cùng gia vị và cho một số loại rau thơm vào trong bụng, rồi cho vào nồi hấp cách thủy. Khi cá chín, mùi thơm đưa lên ngào ngạt; thịt cá trắng tinh, thớ thịt nhìn rắn chắc; ăn vào thấy cá ngọt tự nhiên; thịt cá rai; cá không thấy có mùi tanh. Bữa ấy ngoài cá hấp cách thủy, tôi còn được thưởng thức thêm món cá anh vũ nướng chả. Món nướng này cũng rất tuyệt. Cá ngọt và cực kỳ thơm.

Trong cái bữa thưởng thức đặc sản cá anh vũ ấy, tôi đã được nghe kể nhiều chuyện về việc các ngư phủ ở Bạch Hạc hành nghề săn bắt loài cá tiến vua này. Người ta kể, săn bắt cá anh vũ là nghề cực khổ. Muốn bắt được cá anh vũ thì phải chờ những ngày thật rét mới có cơ hội săn được loài cá quý hiếm ấy. Họ bảo dưới lòng sông ở ngã ba Hạc có một hang đá ngầm. Hang này dài hơn trăm mét, có nhiều ngóc ngách và đây chính là tổ cá anh vũ. Gặp “ngày đẹp trời” (lạnh, sương mù phủ khắp mặt sông) người đi săn cá phải uống nước mắm nguyên chất, đeo kính lặn, ngậm ống ti ô, mang lưới rồi lặn sâu xuống dưới hang, quây lưới lại chờ cá ra ngoài đi kiếm ăn mắc vào là thu về. Những lần săn cá như thế đã có không ít người bị trào cả máu tai, máu mũi. Tuy cực khổ như thế nhưng không phải lần săn bắt nào người ta cũng may mắn gặp được loài giả ngư quý hiếm đặc biệt ấy. Sau này, do ô nhiễm môi trường (nguồn nước); do cá có giá trị cao mà người ta dùng nhiều cách đánh bắt hủy diệt, nhất là đánh cá bằng thuốc nổ; loài cá tiến vua ở Bạch Hạc ngày càng hiếm dần; thậm chí có nguy cơ tuyệt chủng, phải đưa vào sách đỏ để bảo vệ. Bây giờ, tìm cá anh vũ cũng không phải quá khó kiếm nữa bởi người ta đã nuôi được. Có không ít nhà hàng treo biển đặc sản tiến vua, cá anh vũ để dụ khách nhưng đó chỉ là cá nuôi. Người ta đã thành công trong việc nuôi cá anh vũ ở nhiều nơi trên đất Tuyên Quang và Phú Thọ. Việc nuôi được cá anh vũ như vậy kể cũng rất quý (bảo tồn được loài cá có nguy cơ tuyệt chủng, cung cấp loại thực phẩm có giá trị …) nhưng dẫu có quý như thế nào đi nữa thì con cá nuôi cũng chẳng bao giờ bằng được con cá ở dưới lòng sông sâu Bạc Hạc được.

Đứng trên bến xưa, ngắm nhìn sông xa, tôi thấy dòng sông con nước nơi hợp lưu của ngã ba Bạch Hạc dường như vẫn còn giữ được khá nhiều cái nét hoang sơ, tự nhiên. Trong cơn gió chiều chuẩn bị sang xuân vẫn còn se sắt, những danh lam cổ tự, đền đài rêu phong bên sông dường như cũng thả mình soi bóng xuống dòng nước; ngả nghiêng, đung đưa theo gió trên từng ngọn nước lao xao. Cứ thế, ngẩn ngơ trong buổi chiều hôm, bất chợt, tôi lại nhớ đến câu thơ nói về cái chốn thiêng ngã ba Bạch Hạc của vị Thượng thư người làng Cổ Đô (ở bờ trên kia, nơi có con sông Đà hoà vào sông Thao) khi dong thuyền ngang qua nơi này: “Ba góc bờ chia vành vạnh, huyệt kim quy hẻm đá rộng hông hênh;/ Hai bên cỏ mọc lâm dâm, hang anh vũ giữa dòng sâu huếch hoác” (Ngã ba Hạc phú). Vậy đấy, kể từ ngày “Ngã ba Hạc phú” ra đời, hai thế kỷ rưỡi đã đi qua, cảnh vật bờ bãi, dòng sông nơi đây hẳn cũng có ít nhiều đổi thay nhưng cái nét thơ mộng, huyền ảo của một bãi sông linh thiêng thì có vẻ vẫn chưa khác là bao; vẫn còn đầy mê hoặc lòng người. Và không chỉ có vậy, tĩnh tâm để ý, ta bỗng nhận ra, hình như cái cảnh vật ấy còn phảng phất phong khí của miền đất đế đô: vừa tĩnh lặng, trầm tư vừa thâm nghiêm, uy linh.

Đ.H

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây