THÁNG BA TÂY NGUYÊN, THEO CÁNH HOA PƠ-LANG

Thứ năm - 08/08/2019 23:04
Tản văn của LÃ VINH
Tây nguyên. Ảnh minh họa.
Tây nguyên. Ảnh minh họa.

       Chiếc xe 16 chỗ ngồi chạy êm ru lượn vòng lên đèo Lo xo nằm giữa ranh giới 2 tỉnh Quảng Nam và Kon Tum đường quốc lộ 14 nâng dần độ cao đưa chúng tôi lên vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ trên dãy Trường Sơn ; các cựu chiến binh râm ran kể chuyện về thời kháng chiến : Nơi đây từng là địa bàn chiến lược tập kết hành quân, vận chuyển luơng thực vũ khí đạn dược cho chiến trưòng B3 nổi tiếng khốc liệt.

     Đất nưóc hòa bình quốc lộ 14 được cải tạo nâng cấp mở rộng, nhưng đèo Lò Xo vẫn mệnh danh là “ Cung đèo tử thần” bởi những đoạn cua gấp khúc, thường xuyên xảy ra các vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng. Đau lòng nhất là vụ tai nạn ngày 21/4/2015 làm 31 cựu chiến binh Hà Nội trên đường về thăm lại chiến trường xưa đã bị tử vong ;tổn thất ngang ngửa như một trận đánh thời chiến tranh. Tấm bia tưởng niệm còn đó như một chứng tích nhắc nhở những ai qua đây. Nên đầu năm nay chuẩn bị kỷ niệm 44 năm ngày giải phóng Tây Nguyên, Bộ giao thông vận tải và tỉnh Kon Tum đã đầu tư 15 tỷ đồng kẻ lại vạch sơn lằn ranh hạn chế tốc độ, lắp đặt lốp cao su và gia cố thêm các hàng rào lan can để tăng cường an toàn giao thông… Nhưng cũng phải vượt qua khỏi quãng đường đèo dài hơn 20 km, chúng tôi mới thở phào nhẹ nhõm phóng xa tầm mắt nhìn vùng đất Cao nguyên mở ra mênh mang tràn đầy nắng gió Kon Tum- Gia Lai- Đắk Lắk… Đường phố rợp cờ hoa, những dòng người và xe cộ nối đuôi nhau hối hả hướng về thành phố Buôn Mê Thuột nơi khởi đầu chiến dịch Tây Nguyên - Đại thắng mùa xuân 1975

   Chúng tôi có mặt tại ngã 6 vào buổi chiều ngày 10/3/2019 đúng dịp kỷ niệm 44 năm ngày giải phóng Buôn Mê Thuột. Ngã 6 là nơi giao nhau giữa Quốc lộ 14 - quốc lộ 26 và các đại lộ Phan Chu Trinh, Nơ Trang Lơng, Lê Duẩn.Chiếc xe tăng T54 kiêu dũng nằm trên bệ bê tông vững trãi vươn nòng súng chếch lên nền trời xanh rực rỡ nắng vàng. Tượng đài chiến thắng Buôn Mê Thuột thật đôc đáo, ai đi qua cũng dừng chân ngưõng mộ. Cả thành phố đang từng bừng lễ hội Cà Phê Tây Nguyên với nhiều hoat động phong phú, các chàng trai cô gái Tây Nguyên khỏe khoắn vô tư trong những bộ trang phục dân tộc E đê, Mơ nông Ba na, Cà tu … Rộn ràng tiếng trống cồng chiêng, tiếng đàn Tơ rưng, đàn Kroong púc kéo dài theo các tuyến phố, tạo nên nét bản sắc độc đáo vừa hiện đại vừa dân dã âm vang trong ca khúc : Tháng 3 mùa con ong đi lấy mật / Mùa con voi xuống sông hút nước /, mùa em đi phát rẫy làm nương

   Trong hương Cà phê thơm lừng đầu đường Lê Thái Tổ anh Quốc Thái nguyên là biên tập viên Đài Phát thanh truyền hình Đắc Lắc say sưa giới thiệu: Lễ hội Cà phê năm nay mang chủ đề là : “Tinh hoa đại ngàn ’’ với nhiều hoạt động phong phú nhằm quảng bá và kêu gọi đầu tư, có cả hội nghị Xuc tiên đầu tư riêng về tăng cường phát triển thương hiệu Cà Phê Tây Nguyên thế mạnh hàng đầu của Đắc Lắc. Cả tỉnh hiện có hơn 200.000 ha cà phê, sản lượng trên 400.000 tấn, chiếm 40 % sản lượng của cả nước và đứng hàng đầu về kim ngạch xuất khẩu, giúp cho nhiều Doanh nhân, doanh nghiệp trở thành tỷ phú và Đại gia danh tiếng cả nước. Hàng chục vạn hộ gia đình sống nhờ vào Cà phê. Ngõ nào cũng có quán cà phê, cả nhà cùng đi uống cà phê ; cà phê đóng góp 60% số thu ngân sách. Cà phê Buôn Mê nổi tiếng thơm ngon, nên phải gọi là “Tinh hoa đại ngàn mới xứng tầm thương hiệu”. Vùng đất Tây Nguyên đã làm cho Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu Cả phê đứng thứ hai trên thế giới. Trong chiến tranh Tây Nguyên Buôn Mê Thuột đã nổi tiềng với trận mở màn lịch sử đại thắng mùa xuân 1975. Trong phát triển kinh tế Buôn Mê Thuột cũng phải tạo ra cú hích mang tính đột phá để xứng danh với thủ phủ của Cao Nguyên v.v…

    Rời quán cà phê ông Bế văn Du mời chúng tôi về thăm nhà anh ỏ cuối phố Mai Hắc Đế. ông nguyên là chiến sỹ trung đòan đặc công 198. Tháng 3 năm ấy đơn vị ông phải ém quân trong những cánh rừng già âm u đầy muỗi sốt rét, bí mật bao vây chia cắt kìm chân tiêu hao sinh lực địch. Ngày mở màn chiến dịch, đơn vị ông được giao nhiêm vụ đột kích đánh chiếm sân bay Hòa Bìnhvà khu kho Mai Hắc Đế. 2 giờ sáng ngày 10/3/1975 đại đội chủ công đã vượt qua của mở khai thông hành lang Tây Bắc, tiến đánh căn cứ sư đoàn 23 ngụy. Địch dùng máy bay, xe tăng pháo binh chặn đánh quyết liệt, đại đội của ông bị hy sinh và thương vong quá nửa. Nhưng nhờ sự phối của lực lượng binh chủng hợp thành của trung đòan 174 sư 316 và đại đội 9 xe tăng trung đòan 273, đến chiều tối ngày 10/3/1975 quân ta đã chiếm được hầu hết các mục tiêu trong thị xã và đến trưa hôm sau (ngày 11/3) thì làm chủ hoàn tòan sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy, bắt sống đại tá Vũ Thế Quang sư đoàn phó sư 23 và đại tá Nguyễn Trọng Luật tỉnh trưởng Đắk Lắk.

   Chiến thắng Buôn Mê Thuột thực sự là trận đánh điểm đúng huyệt làm cho địch bất ngờ đến hoảng loạt, đảo lộn toàn bộ hệ thống phòng thủ Tây Nguyên. Ngày 14/3/1975 Ngụy quyền Sài Gòn quyết định bỏ Tây Nguyên ; một cuộc tháo chạy thảm bại chưa từng có, cả quân đoàn 2 quân khu 2 Ngụy bị tan rã hoàn toàn. Ngày 25/3 toàn bộ Tây Nguyên sạch bóng quân thù. Vị thế mái nhà Đông Dương đã mở ra cục diện mới cho cả chiến trường Miền nam. Sau này các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự gọi “cuộc đấu trí tháng 3 “ ở Tây Nguyên là thắng lợi của nghệ thuật quân sự nghi binh bao vây chia cắt, tạo thế bí mật bất ngờ đánh hiểm đánh trúng … Nghe các anh kể tôi cứ hình dung như đang có từng đoàn quân đi rẩm rập, cảnh quân địch tháo chạy tan tác qua Cheo Reo Phú Bổn Củng Sơn năm nào.

   Câu chuyện chưa dứt thì xe chúng tôi đã dừng lại gần cuối đường Mai Hắc Đế. Phía trước có tấm biển báo “ Khu vực cấm đi lại và quay phim chụp ảnh” Phía sau hàng rào kẽm gai là cả khu đất rộng hoang vu, phất phơ lau sậy, lúp xúp những lùm câydại úa vàng hiu quạnh. Người ta bảo đấy là dãy hầm ngầm bí mật chứa vũ khí đạn dược của khu kho Mai Hắc Đế, các cửa ra vào đều được thiết kế chìm, bên trong có khóa mã hóa. Cuộc tiến công vào khu kho Mai Hắc Đế diễn ra quyết liệt nhưng khá nhanh gọn, những người lính bên kia bị tiêu diệt hoàn toàn, vô tình đem theo cả những bí mật ẩn sâu trong lòng đất, mà hơn 40 năm qua vẫn chưa được giải mã.

   Ngôi nhà ông Du ỏ cách đấy 30 mét cũng chưa được phép xây dựng kiên cố…Con trai cả của ông đã theo nghiệp cha, đang trong quân ngũ đóng quân ở Gia Lai gia đình vợ con cũng ở luôn bên đấy. Chỉ còn hai vợ chồng già và đứa con gái thứ hai không may bị khuyết tật do lây nhiễm chất độc Da cam Đi ô xin.Trong ngôi nhà gỗ 3 gian cuộc sống khá thông thoáng đủ đầy, nhưng vẫn gợn lên nỗi đau thương mất mát, mỗi khi nhìn đứa con ngồi trên chiếc xe lăn vô tư chào khách. Ông bà lại chạnh lòng nghĩ đến : Mai ngày vợ chồng già ra đi về cõi vĩnh hằng ! Con gái mình sẽ về đâu ?

   Hôm sau chúng tôi đi Buôn Đôn nơi khởi nguồn Lễ hội đua voi truyền thống. Từ Nam Dong Cư Dút qua Ea Bô cắt ngang triền sông Sê rê Pốc, dòng sông mùa này cạn nước trơ lên những gềnh đá khô khốc. Những vạt đồi Cà phê, Hạt Điều cụp lá phơi mình trong hầm hập nắng gió khao khát chờ mưa …Hơn 11 giờ trưa vợ chồng chú Dâng em của bạn tôi mới trên nương trở về mồ hôi nhễ nhại phàn nàn : Hạt Điều năm nay rớt giá, bọn em chẳng buồn nhặt, nhưng đang phải lo chống hạn cho Cà phê may ra vớt vát lại vốn liếng. Nhưng cây nào cũng thế thôi cứ được mùa thì mất giá, hơn 20 năm vào đây vật lộn với từng vạt đất đỏ ; những năm đầu còn mang tiếng “ Dân di cư tự do’’ lúng túng trong cảnh o ép, đến khi quen dần mới mạnh dạn gieo trồng đủ các loại cây Khoai, Sắn, Đỗ xanh, Cà phê, Tiêu, Điều …tính ra thì hàng héc ta, nhưng cũng chỉ đủ ăn và nuôi các con học hành, hai năm nay mới làm được ngôi nhà xây, muốn về thăm quê còn phải tính toán cân nhắc tàu xe đi lại sao cho hợp với túi tiền, đúng là 1 năm di cư 10 năm khổ ( nguyên văn tiếng Tày “Pi ni sip pi khỏ”… Không biết bao giờ mới khá lên được. Nói thì nghèo khổ vậy, nhưng bữa cơm trưa hôm đó vẫn rất tinh tươm có đủ gà luộc, vịt om, lợn quay, nem chả, cá nướng, canh chua … và cả két bia xanh Sài gòn nhậu lai rai …

   Kết thúc hội Voi Buôn Đôn chúng tôi qua đường 27 sang Đà Lạt, không khí ở đây có vẻ trầm măc lăng lẽ hơn, có lẽ do chưa đến ngày kỷ niệm chiến thắng, ngày giải phóng Lâm Đồng phải sang đầu tháng 4 (3-4-1975). Nhiều người nói Đà Lạt là Thành phố mộng mơ, Thành phố ngàn hoa, Thành phố trong sương …Vâng đều đúng đều đẹp cả.Nhưng tôi thấy trước hết Đà Lạt là thành phố trên đồi, nhà cửa đường phố đều men theo các sườn đồi nhấp nhô lượn sóng ẩn khuất sau những rừng Thông xanh. Chắc hẳn người Đà Lạt rất nhớ và rất trân trọng ngài Yesin ngừoi khám phá và đề ra ý tưởng thiết kế xây dựng thành phố phải giữ gìn nguyên trạng địa hình và cảnh quan thiên nhiên. Thật tuyệt là vời.

   Đà Lạt chiều ấy mưa, cơn mưa sớm đầu mùa cuối tháng 3 làm cho không khi thêm trong lành. Tôi sực nhớ và gọi điện ngay cho chú Dâng ở Buôn Đôn. Anh đã đến Đà Lạt, Đà Lạt đang mưa. Đầu bên kia tiêng Dâng có vẻ hơi sững sờ: Thế à ở đây( Buôn đôn) vẫn nắng chang chang ! Ồ nhỉ ngay cả trời mưa cũng không thể mưa cho khắp, câu hát “ Bên nắng đổ bên mưa quây “ thuở nào vẫn đúng … 

   Ôi Tháng 3 Tây Nguyên bao la bạt ngàn nắng gió, đầy ắp bao chuyện vui buồn đan xen giữa ký ức lịch sử hào hùng với thực tại xô bồ của muôn mặt cuộc sống hàng ngày và cả những dự định vươn tới tuơng lai. Câu chuyện bên quán Cà phê của ông Thái nhà báo như chắp thêm ước mơ. Nỗi khắc khoải của ông Du cựu chiến binh nhắc ta đừng quên quá khứ. Điều trăn trở của vợ chồng chú Dâng làm vườn, cảnh tỉnh một thực tế của quy luật sinh tồn; giữa đấu tranh và tồn tại không chỉ khắc nghiệt trong chiến tranh mà trong cả cuộc sống đời thường: Trong hào quang chiến thắng luôn có sự gian khổ, mất mát hy sinh … Nhưng tôi tin những ngừòi tôi gặp dù có phải vướng bận điều gì thì họ vẫn đã và đang gắn bó với Tây Nguyên. Dù ỏ cương vị nào thì mọi suy nghĩ và việc làm của họ cũng đều mang lòng mong muốn góp phần làm cho Tây Nguyên thêm xanh. Cho tháng 3 Tây Nguyên mãi mãi tràn đầy cảm xúc và sức sống trường tồn; cho con Ong đi lấy mật, cho con Voi xuống sông hút nước và Em đi phát rẫy làm nương… sinh động tự nhiên bền vững và gần gũi với thiên nhiên.


                                                         
ĐIỂM SÁNG VÙNG BIÊN 

            Chiếc xe khách Thị xã- Phục Hòa đã xếp đủ ghế ngồi, vậy mà đến trước cửa Công ty vật tư  xăng dầu  đã có hơn chục người đứng đợi , tiếng họ nhao nhao : Đi Phục Hòa cho chúng tôi đi mới ! Chiếc xe vừa dừng , tốp người đã ùa lên, đồ đạc của họ khá lỉnh kỉnh, túm buộc trong mấy cái bao tải  cũ mèm,  lấp láp bụi  đường, mùi mồ hôi và những hơi thở gấp gáp phả ra , làm cho  nhiều ngừời cảm thấy khó chịu.  Một hành khách cằn nhằn  : Người ở đâu mà đông thế! Tiếng một phụ nữ lảnh lót nhanh nhảu  đáp lại : Chúng em ở mãi Thái Nguyên lên Phục Hòa trồng mía ; nghe nói ở đây họ cần trồng hàng ngàn ha mía mà chưa có người làm. Thấy  kiểu  cách ăn nói khéo léo, nhưng lại  bỗ bã  dễ gần .Tôi  nhẹ nhàng bắt chuyện  : Sao các chị  lại biết   trên này  cần trồng mía ?

Không  giấu gì  các anh , 4 nhà  chúng em đây  đều  ở Thái Nguyên , Vĩnh Phú , thời  năm 79  đi bộ đội  đóng quân ở Phục Hòa,trồng mía làm đường , vừa rồi có mấy đưá đã lấy chồng ở trên này viết thư : Nhà nước làm nhà máy đường  Tà Lùng to  lắm ,dân trồng mía chặt mỏi tay,  lên  đây nhanh đi rồi  hẵng tính, dồn cả ở quê  anh em tranh nhau mấy sào đất  làm gì ?

Vậy mà  nãy trông các chị  hăng hái như dân chợ , hóa ra  là nhà nông  đánh liều . Anh nói thế cũng phải , túng bấn  quá thì phải liều , mà  ông xã em đã chịu đi  đâu , 3 mẹ con em lên trước mang theo cả  cuốc xẻng nồi niêu  tính  ở lại luôn . Đất  Tà lùng  em biết, chỉ  cần  mua được  2-3 ngàn mét là gia đình em bảo đảm xoay xở đủ sống mấy đời .      

Câu  chuyện  của người phụ nữ  cứ  thế theo  tôi trên suốt đường  vào nhà máy. Tôi bất giấc mỉm cuời  với suy nghĩ : Hưũ xạ tự nhiên hương , nhà máy mới khánh thành có mấy năm, làm ăn còn chưa có lãi ;  mía nguyên liệu chưa bao giờ đáp ứng  đủ công xuất ép. Cả nhà máy và  lãnh đạo  huyện Phục Hòa đang  lo phấn đấu làm thế nào đẩy nhanh tiến độ trồng 2000- 3000 ha mía ...Thế mà những người nông dân ở tận Thái Nguyên,Vĩnh Phú đã biết tìm đường về. Họ lên đây bởi sự thôi thúc của lao động và việc làm, một vấn đề mà không phải ở đâu cũng có thể mở ra để đáp ứng với nhu cầu .  Họ lên đây bằng cả tình yêu và  niềm tin về cuộc sống mới mở ra  nơi vùng đất biên cương 

Còn nhớ  năm chưa có nhà máy, trong chuyến  vòng quanh biên giới đến  cửa khẩu Trà Lĩnh  thấy  Mía ăn  cứ tuồn vào ta ùn ùn hàng xe… Cán bộ, nhân dân mua  cả vác  về   ăn,  nhá mỏi cả răng …  Nhớ  câu   ăn mía  là   ăn  nước dãi ( nguyên văn : Kin ỏi lẻ kin Kin nài cáu )  Tôi  chạnh lòng  xót xa, khi hàng xuất của ta là quặng sắt, thảo quả, sa nhân …để rồi nhận về những cây mía ăn rẻ tiền, mà chính dân ta vẫn trồng được ở khắp nơi.

Nhưng còn nghịch cảnh hơn  khi  đến cửa khẩu Tà Lùng, thấy mía nguyên liệu của người dân  Pác Tò ,Bó Tờ  ùn tắc, chất đống  chỏng chơ  2  bên đường  chờ xuất ; còn phía bên kia, họ bảo  sẵn sàng nhập ( giá  160 – 180 đồng/1 kg) nhưng với điều kiện là mía đổi đường. ( không trả bằng tiền mặt,  thật là oái ăm )Một chính sách bảo hộ  mậu dịch quá rõ  là bất bình đẳng  . Còn bên ta, dân đổi được đường nhưng không được phép nhập.  Mấy chị chủ hàng đến van  xin , Ông  Mã Đình Tường  trạm trưởng Hải quan Tà Lùng  lắc đầu: Thương dân  lắm ! Nhưng đành chịu chứ không biết làm gì hơn  ước  gì  bên mình cũng có một nhà máy đường, thì cả vùng Phục Hòa này sẽ sống  nhờ cây mía.  Điêu  ước  của ông  có lẽ cũng là nỗi mong mỏi  nằm lòng của biết bao  người

Phục Hòa  từ bao đời nay đã gắn với nghề trồng mía làm mật.  Các  vị kỹ sư  trồng trọt  đều  nói : Đất ở đây như thể tạo ra cho  cây  mía; Mía  trồng được  ở khắp nơi từ  Khau Chỉa, Đại Sơn  Cách Linh  Hồng Đại  sang  bên kia sông Mỹ Hưng ,Tiên Thành…Mía trồng được từ nơi ruộng bằng,đến sườn đất dốc…Trồng lúa thì không bao giở đủ nưóc tưới; trồng cây khác  có thể  rơi vào tình trạng của một đồng , công một nén; nhưng trồng mía thì cứ như là làm chơi ăn thật.

 Những năm thời  bao cấp , cả  cơ quan doanh nghịêp ,hợp tác xã ,đơn vị quân đội   ai chả  tranh  thủ  trồng mía, ép mật . Cũng  nhờ  có  thế mà  đủ cung cấp đường phên , đường hoa mai cho cả vạn cán bộ, viên chức và lực lượng vũ trang .

Thương hiệu  Mía  đường Phục Hòa  được xác nhận và công bố , khi  luận chứng  Kinh tế  kỹ thuật xây dựng  nhà máy đường  được Liên hiệp mía đường Việt Nam kiểm nghiệm  đánh giá  :Hàm lượng của các chỉ số  Mía đường Phục Hòa  đểu đạt mức cao nhất  . Đó là cơ sở  khoa học  và tiềm năng lợi thế  để tạo ra  năng suất  chất lượng sản phẩm ,

 Nhưng quyết định xây dựng một nhà máy đường công suất 700 tấn mía cây/ngày, cũng không phải đơn giản với một tỉnh nghèo ,thu ngân sách địa phương eo hẹp  . Thời điểm đó  “Thời báo kinh tế”  đang  có những bài viết nói về: Chiến lược mía đường của Trung Quốc, mà hướng phát triển của họ là nhằm về các tỉnh giáp biên giới phía bắc  ; dự báo  giá đường thế giới có xu hướng giảm; Mía đường vừa thiếu vừa thừa… Dư luận cũng làm chùn bước các nhà  đầu tư.

Nhưng cuối cùng  thì  quyết tâm của Đảng bộ , chính quyền và  niềm mong ước của nhân dân Cao Bằng   đã được  Bộ Công nghiệp  và Liên hiệp mía đường Việt Nam  ủng hộ  mà cơ sở là: Chiến lược phát triển mía đường Việt Nam đến năm 2000 ; cùng với  những tính toán có căn cứ khoa học và kinh nghiệm thực tiễn : Cứ trồng 1 ha mía với năng suất  60 tấn /1 ha  và bán với giá 200.000/tấn, thì  người trồng mía đã có 12 triệu đồng , lãi  5 triệu đồng/1 ha ,tương đương với 5 tấn thóc.  Đó là cơ sở  để bảo đảm cho nhà máy sản xuất ổn định , người dân có việc làm và tăng thu nhập , tạo nền tảng  để   Phục Hòa   trở thành  một trung tâm kinh tế ,công nghiệp ,thương mại phát triển  của vùng biên giới. Có lẽ những người mà tôi gặp trên xe khách đã sớm nhận ra điều đó. Tôi hy vọng họ sẽ gặp may  và sớm có cuộc sống ổn định  trên vùng quê mới 

 Năm ngoái đi  vào vùng nguyên liệu, tôi  đã  gặp một cô gái vốn là chủ một sạp hàng vải ở Thị xã vào đây thuê đất trồng mía, cô cho biết vụ mía đầu tiên đã cho  thu nhập 60 triệu đồng, năm nay cô sẽ tăng diện tích lên gấp đôi. Để chứng minh cho quyết tâm của mình, sau vụ mía, cô đã mua một mảnh đất làm nhà ngay xóm Tân Lập.  Đang là dân chợ búa mà lại quay sang đầu tư  trồng trọt  xem ra  cô ta phải là người thức thời và  có chí làm ăn

Tôi  cùng đã có dịp tiếp xúc với các hộ gia đình có truyền thống trồng mía lâu đời  ông Sòi, ông Liên, Chị Pầng …Những người có thu nhập từ 50-100 triệu đồng nhờ  trồng  mía,  ai cũng một lời khẳng định:  Mấy đời trồng mía  ,làm mật   chưa  bao giờ có khoản tiền  lớn thế. Ngừòi dân vùng mía rủng rỉnh bàn tính làm ăn  quy mô lớn ,  gắn bó bền chặt với nhà máy,  sằn sàng  trở thành nhũng vệ tinh giúp nhà máy phát triển ổn định vùng nguyên liệu  . 

Thế nhưng ở  đời chưa có thì ước ao,  có rồi  lại muốn lựa chọn . Vụ ép đầu tiên không ít người dân  phân vân, bán hết nguyên liệu cho nhà máy, hay để một phần ép thủ cônglàm đường phên bán trong dịp tết.

Lối tư duy theo phương thức làm ăn nhỏ lẻ   đã  tiếp  tay cho hàng trăm  máy ép thủ công  lét lút  hoạt động .Trong khi nhà máy  thiếu  mía ép , cả cỗ máy khổng lồ  chỉ chạy hết 1/3 công xuất  . Như thế  thì  lỗ to  …Có ý kiến đề nghị  ra quyết  định tịch thu   máy ép thủ công  . Báo chí ,Truyền hình  rầm rập theo  Bí thư , Chủ tịch   vào   tận nơi  thăm  hỏi động viên  .Người dân chẳng phải không có lý khi  tham   lợi ích trước mắt . Nhưng khi trả lời câu hỏi. Nếu không có nhà máy  bà con dám trồng nhiều mía thế không ?  Tất cả đều im lặng .  Bao đời nay chúng ta làm ăn nhỏ, có giàu được không ? Không , không, rất nhiều tiếng nói và cánh tay giờ lên  !… Mọi ngừời ngỡ ngàng   tỉnh ngộ ,chuyện  “xôn xao đường mía”  có trứóc ,có sau  lắng dần

 Năm  sau  bà con nông dân lại  phàn nàn ,mía chặt xuống 5-7 ngày mà chưa có xe đến vận chuyển, thật là sốt ruột .  Đi vào Cách Linh  Đại Sơn  sang cả  Mỹ Hưng Tiên Thành  thấy mía nằm chất đống  ngổn ngang vết chặt thâm dần  … Giám đốc nhà máy nói : Xót lắm anh ạ ,vừa thiệt dân  (do bị hao cân) vừa thiệt nhà máy (vì bị hụt tỷ lệ đường). Kéo theo bao cái thua thiệt  . Cái khó  một lần nữa cũng lại tại cái con đưòng . Dự án  làm đường nội vùng  được phê  duyệt  cả  chục tỷ; nhưng đến nay  mới làm được trên 10km. Hãy thử hình dung  riêng mạng lứói đường giao  thông vùng nguyên liệu cũng đã  đủ  tạo nên sức   sống  mới cho  huyện Phục Hòa .

Muốn gì thì muốn, trước hết cứ phải xác định  có đường  có mía, có mía là có đường, mà điều đó phụ thuộc vào sự  liên kết của  hai đối tượng lao động công nhân và nông dân   đang cùng chung sức trên mảnh đất này . Năm 1997.năm đầu tiên sản xuất Nhà máy đã đạt sản lượng 1.650 tấn, năm  thứ 2 : 4.230 tấn và dự kiến năm thứ 3 này  sẽ đạt gấp đôi. Đó thực sự là tin vui  với  một mô hình liên kết công nông  vừa mới chập chững những bước đầu tiên ,đã đóng góp cho xã hội một khối lượng giá trị sản phẩm lên đến 50 tỷ đồng (Bằng 2/3 sô thu ngân sách của cả tỉnh)  , tạo công ăn việc làm cho 400 công nhân và hàng vạn nông dân ,lao động dịch vụ góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế xã hội của cả một vùng. Hiệu quả và lợi ích từ sản xuất đã quá rõ ràng  hiêu quả xã hôi cang không thể tinh đếm

Nhưng  một cơn sóng gió lại  ập đến  mà xem ra  còn khốc liệt  và  dai dẳng  hơn :Giá đường tiếp tục giảm,do  bối cảnh chung của toàn cầu .Có thể nói đó là điều không may cho ngành  công nghiệp Mía đường non trẻ  của  địa phương .Mặc dù chất lượng đường Phục Hòa  vẫn  sánh ngang với những loại đường tốt nhất Việt Nam . Lại phảỉ bắt đầu từ khâu tiếp thị , tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm đường kinh trắng Cao Bằng  Nhiều cuộc tiếp xúc trong Nam ngoài Bắc , chào hàng giới thiệu sản phẩm ,mở rộng đại lý  được các đồng chí lãnh đạo  tiến hành …  Thôi thì  chấp nhận cơ chế thị truờng  bán giá  cạnh tranh , giữ nguồn giữ  mối  và cả tiếng tăm, chữ tín  , rồi sẽ ngồi lại với nhau  tính toán cẩn thận  , giảm chi phí sản xuất ,hạ giá thành v.v.. .

Những ngày cuối năm những tấn đường cuối cùng cũng đã được bán hết . Nhà máy  thở phào  yên tâm,  phấn khởi   búớc vào vụ ép mới  . Nhưng   giám đốc nhà máy   vẫn băn khoăn : Vì  chưa thể  có lãi ,vì nợ phải trả ngân hàng gia  tăng . Vì quyền tự chủ của nhà máy có hạn  … Đó là bài toán nan giải cho bất cứ một doanh nghiệp nào  muốn tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường 

Sẽ không có nhà máy đường, nếu không có một vùng đất giàu truyển thống lao động cần cù của những người dân. Nhưng  nếu  không có Nhà máy sẽ không có một nền sản xuất hàng hóa để mở ra cho người dân một hướng làm ăn mới. Đó lời  của đồng chí Lê Khả Phiều  Tổng Bí thư Ban chấp hành TW Đảng, trong chuyến thăm và nói chuyện với công nhân và nông dân vùng mía  (Tháng 12/1998)  đã nhắc đi nhắc lại về một mối quan hệ khăng khít: giữa  Mía và  đường, giữa nhà máy và ngừòi nông dân , làm sao phải  giũ vững  hài hòa  lợi ích 

Vụ ép đang  thời kỳ rộ, nhà máy làm việc 3 ca .Trên  vòm cổng hai chiếc  máy cẩu  chéo cánh  nhau kêu ro ro , thi nhau ngoạm  từng  mảng mía đưa lên cầu trượt ,từng đống mía lù lù cao lên, lại vợi xuống…

 Đêm nghe tiếng máy reo,  hắt lên ánh điện  sáng rực, soi rõ lò cao ngùn ngụt nhả khói.  Tôi lặng lẽ xuống sân đi bộ ra đường vươn vai, hít thở  không khí trong lành,  rảo bước  về  phía Đồn biên phòng Cửa Khẩu  …Từ xa nhìn lại  nhà máy  hồng lên  một  Vầng sáng  giữa khoảng trời vùng biên mêng mông ,đem  lại cho tôi cảm giác  ấm  áp lạ thường  . Đã 10 giờ đêm, chốc chốc  lại có  chiếc xe chở mía về muộn , ngoài  kia  còn biết bao  đám  mía đang chờ . Thương mía lắm mía ơi! Trải qua bao  lần  dãi dầu  mưa  nắng,  bao phen phong ba mới có được những  hạt đường trắng trong tinh khiết, mang thương hiệu Cao Bằng  đem vị ngọt ngào  của  quê mình đi xa .



                                                           
  THEO CÁNH HOA PƠ-LANG

          Biết tôi có chuyến công tác vào Tây Nguyên dài ngày, bà chị dâu ở trên quê vội đi xuống nhà nói xa xả như giao nhiệm vụ: Chú đi chuyến này phải cố tìm bằng được anh Phình cho chị,người đâu mà cứ đi biệt tăm biệt tích, bỏ mặc nhà cửa mười mấy năm nay, có còn coi vợ con là gì nữa không biết?

         Anh Phình là con ông bác của tôi đi bộ đội từ năm 1968 khi tôi mới 10 tuổi, lại ở khác làng khác xã, tôi lớn lên đi học rồi ra công tác xa nhà. Anh em tôi chỉ mới được gặp và nói chuyện với nhau một đôi lần vào năm 1980 khi anh về chịu tang mẹ, mà tôi gọi bằng bà bá. Nghe nói lần ấy anh chị cãi nhau về chuyện con cái bà chị thì bảo thằng Phán chính là con của anh Phình; nhưng bà con hàng xóm lại nói là không phải, anh Phình buồn bã bỏ nhà đi vào Tây Nguyên nơi chiến trường xưa anh từng chiến đấu.

  Vào đến Buôn Mê Thuột tôi tìm ngay đến Hơ Blem người con gái Ê đê đang công tác ở Đài phát thanh truyền hình tỉnh. Tôi với Hơ Blem từng có những kỷ niệm đẹp suốt 5 năm học ở trường cấp 2-3 Nà Giàng. Những năm sơ tán, Trường dân tộc Miền Nam chuyển từ Chi Nê - Lạc Thủy - Hòa Bình lên đóng ngay cạnh làng tôi. Tôi hơn Blem một tuổi cùng vào học lớp 5, cô Khương chủ nhiệm phân công tôi ngồi cạnh Blem, cô bảo để giúp Blem học thêm tiếng Tày Nùng.

   Người con gái Tây nguyên có nước da rám nắng, đôi mắt sáng long lanh, cặp chân thon dài, luôn đạt giải nhất truờng, nhất lớp trong các cuộc thi nhảy cao, nhảy xa, chạy cự ly ngắn, cự ly dài… Lên rừng lấy củi, hái măng nhanh như con Sóc. Lần đầu tiên đi rừng tôi với Blem cứ cãi nhau về tên gọi Con Dao - Cái Rựa. Chúng đều giống nhau có cái mũi cong cong, đỡ cho lưỡi dao khỏi chạm vào đá mỗi khi phát nương làm rẫy. Con dao Quắm quê tôi to bản thân ngắn mà dày; còn Cái rựa của Blem thân mảnh cán dài. Nói cho cùng thì nó cũng là con Dao. Nhưng Blem khăng khăng cho rằng Dao là dao Rựa là rựa không thể lẫn lộn. Có lúc chúng tôi đổi cho nhau dùng thử,nhưng cảm thấy lóng ngóng,không dễ gì thuần thục.

   Tôi thông thuộc thổ địa, nên thường dẫn Blem đi vào những cánh rừng có nhiều cây mạy Tải sán, mạy Byoóc khao thứ cây mọc ở khe đá thành từng khóm, thân cây trắng đục, thớ mịn, mềm dễ chẻ, vác nhẹ, lại mau khô làm củi đun rất cháy; nhà tôi vần thường chẻ nhỏ làm mồi nhóm bếp. Nó còn là loại cây có khả năng sinh trưởng đến kỳ lạ;năm nay vừa chặt, sang năm đã lại chồi lên những mầm mới to cỡ ngón chân cái, cao hơn đầu người chỉ cần hai ba khóm là lượm đủ gánh củi; thời gian còn lại tha hồ hái Ổi, hái Sung, Bồ quân, Mác Kham… Thứ quả xanh to bằng đầu ngón tay út có vị hơi chua chua chát chát, tóp tép nhai xong uống ngụm nước mát lại thấy vị ngọt ngọt lâng lâng.

    Năm học cuối cấp 3 cũng như mọi lần trên đường từ rừng về hai đứa tôi lại ngồi nghỉ bên gốc Cây Gạo nơi đầu nguồn con suối. Dòng nước trong vắt mát rượi từ trong chân núi tuôn ra rì rầm, len lỏi qua những chỏm đá xanh rỳ. Người làng tôi đi đâu cũng mang theo nỗi nhớ và niềm tự hào về suối nước Nà Giàng quanh năm nước chảy tưới tắm cho cánh đồng quê xanh thắm bốn mùa. Cho cây Gạo cổ thụ cành lá xum xuê vươn cao lừng lững; gốc cây choãi ra 5 cạnh vững chãi, 4-5 người ôm không xuể, bộ rễ to cuồn cuộn trồi trên mặt đất tạo nên những gờ, những mô tự nhiên thành chỗ ngồi cho biết bao chàng trai cô gái, lớp già lớp trẻ nghỉ chân hóng mát tâm tình…

   Đang tiết tháng 3 Hoa Gạo đỏ rực cả một góc trời, gặp cơn gió nhẹ, những chùm hoa rơi xuống vi vu nhuộm đỏ cả lòng suối. Nhìn suối hoa bồng bềnh trôi theo dòng nước, tự nhiên Blem buột miệng nói: Sau này anh sẽ đi đâu ? Câu hỏi làm tôi bất ngờ, bởi lần đầu tiên BLem thay đổi cách xưng hô gọi tôi bằng anh, tôi quay sang nhìn Lem rất nhanh, nhưng cũng kịp nhận ra đôi má của người con gái ửng lên sắc hồng bẽn lẽn;một cử chỉ mà cũng là lần đầu tiên tôi thấy ở Lem. Tôi vội vàng trả lời theo lối sáo mòn pha chút bốc đồng thời ấy : Mình sẽ đi bộ đội chiến đấu giải phóng Miền Nam ! Có thật không ? Lúc ấy em cũng sẽ về và đưa anh đi thăm buôn làng Ê đê, xem những cánh rừng đầy Hoa Pơ lang.Anh có biết không đó chính là Hoa Gạo đang nở đỏ ngay trưóc mặt ta đấy… Rất nhanh và cũng rất tự nhiên Blem cúi xuống nhặt một bông Hoa Gạo xòe ra trước mặt tôi và khe khẽ hát Lòng nhớ anh em chờ như đã bên bờ suối/ Đừng như cánh lá rừng theo dòng nước trôi xuôi. Giọng hát của Lem trong trẻo hồn nhiên… Một thoáng bối rối, nhưng bản ngã của chàng trai tuổi 18 giúp tôi hiểu rằng tình cảm của hai chúng tôi đã nảy nở những điều mới lạ.

   Blem đang tuổi dậy thì những đường cong mềm mại đã nổi lằn trên cơ thể săn chắc; thời gian gần đây ngày nào không gặp nhau chúng tôi cảm thấy bồn chồn thiếu vắng. Còn mấy bạn cùng lớp thì gán ghép : Hai chúng mày thật là đẹp đôi. Ôi ! Trên đời này từ tình bạn thiếu niên, đến tình yêu đôi lứa liệu có ranh giới nào ngăn cách ? Trái tim tôi đập mạnh, bàn tay hơi run run vụng về kéo tay Lem đứng dậy, bốn mắt nhìn nhau sâu thẳm đắm đuối … Nhưng bỗng có tiếng mõ trâu lốc cốc về làng, tiếng trẻ gọi nhau í ới ùa ra quanh gốc Cây Gạo nhặt hoa xâu thành từng chùm, xúng xính khoác lên cổ lên vai tạo thành những vòng tua rua rực rỡ.

   Mùa xuân năm ấy thời gian trôi nhanh,nhiều sự kiện diễn ra dồn dập Tháng 3 Tây Nguyên rồi Huế,Đà Nẵng, Nha Trang… tháng 5 Sài gòn Thành phố Hồ chi Minh hòan toàn giải phóng; bố mẹ BLem được lệnh trở về Miền Nam. Blem ở lại vì đang giang dở kỳ thi tốt nghiệp lớp 10 chúng tôi càng có dịp gần gũi nhau hơn. Sau đó tôi vào Đại học tổng hợp Hà Nội, Blem đi Sư phạm Thái Nguyên.Tốt nghiệp ra trường khi cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phiá Bắc vừa mới kết thúc, nhà cửa tan hoang,mẹ tôi thân già một mình dựng tạm túp lều ở ngay chân núi, ngày đêm khắc khoải mong chờ… Tôi phải về quê, mấy năm trời đằng đắng vật lộn với bao công việc bộn bề hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định cuộc sống, gian khổ hy sinh có lúc quên đi cả chính mình.

  Blem học ở Thái Nguyên một năm sau thì chuyển vào Tây Nguyên, ra trường về dạy học ở buôn làng nơi vùng quê xa lắc cuối huyện Krông A na; gần 10 năm sau người ta mới phát hiện : BLem biết hai thứ tiếng dân tộc Ê Đê và tiếng Tày,lại có ngọai hình sắc nét và chất giọng truyền cảm nên mời về Thành phố làm biên tập,kiêm Phát thanh viên Đài phát thanh truyền hình. Đến 35 tuổi mới lấy chồng là thương binh bộ đội chuyển ngành, hơn Blem gần chục tuổi; dẫu có một chút muộn mằn nhưng vợ chồng cũng đã kịp sinh đưọc một đứa con trai khỏe mạnh.Mái ấm gia đình đưọc vun đắp dựng xây trong con hẻm nhỏ, bên phố Cù Chính Lan.

   Gặp nhau sau nhiều năm dài xa cách, câu chuyện của chứng tôi tưởng chừng như không muốn dứt. Nhưng lại một lần nữa cũng rất tự nhiên và chủ động Blem uớc mắt nhìn tôi trìu mến,vẫn đôi mắt sáng long lánh thân thiện ngày nào: Anh nhớ không,ngưòi ta vẫn nói: Đời người có ai tắm được hai lần trên một dòng sông ? Con nguời ta có long đong lận đận âu cũng là do duyên số. Thôi tạm gác chuyện mình đi, bây giờ ta bàn về chuyện của anh chị. Em thấy khó đấy. Trước hết em sẽ giúp anh đăng tải thông tin trên Đài Phát thanh truyền hình. Nhưng nếu anh đã có ý trốn tránh thì cũng không hy vọng lắm đâu. Tôi hiểu câu nói lấp lửng của Lem có ý trách tôi một cách tế nhị nhẹ nhàng. Nhưng Lem nói tiếp : Còn một cách nữa là có thể lần theo các mối quan hệ thân quen.Anh còn nhớ chị Hơ Bơ Lang không ? Chị cùng với anh Su Ra đóng phim Rừng Xà Nu dựng cảnh ở ngay làng anh đấy.

   Ờ nhớ chứ ! Hồi ấy bọn mình còn đi xem dựng nhà Rông trên đồi Pò Lót và đốt đuốc cho cảnh quay ban đêm từ đèo Phya Đeng xuống, chị Blang đánh đàn Tơ rưng.

   Vâng chị Bơ Lang hồi đấy là hoa khôi; chi lấy chồng ngoài Bắc, hiện đang sống ỏ Krông A na ta thử đến đấy hỏi thăm xem sao.

…  Hết con đừơng trải nhựa lại đến đường đất đỏ,vượt qua nhũng đồi Cà phê lúp xúp chạy dài bên chân dãy núi Chư Yang Sinh hùng vĩ, chúng tôi đến buôn Đur Kmau cái tên nghe lạ lẫm khó đọc … Tôi choáng ngợp khi đứng trước ngôi làng có 5,6 ngôi nhà sàn Ê Đê sâu thăm thẳm8 - 9 gian dài phải đến hơn hai chục mét, xung quanh có gần chục cây Gạo cao vút xum xuê, làm cho không gian thêm vẻ trầm mặc huyền bí. Blem bảo cây Pơ Lang đấy, người Tây Nguyên thường lấy cây Pơ Lang làm cọc cắm Cây Nêu ngày tết, sau tết cây mọc mầm chồi lên nên buôn làng nào cũng có vài cây Pơ Lang.

   Theo sử thi Pơ Lang là loài hoa tượng trưng cho tỉnh yêu. Chuyện kể rằng ngày xưa có đôi trai gái yêu nhau tha thiểt, gần đến ngày cưới trời bỗng đổ mưa to cuốn trôi cả nhà cửa, lễ cưới xuống dòng sông Sê rê pốc. Chàng trai khóc ròng rã, dân làng thương tình dựng cho Cây nêu cao vút để chảng leo lên hỏi ông trời. Trước khi đi chàng trai buộc vào cổ tay cô gái dải vải đỏ 5 tua thay cho lời thề hẹn ước...Lên trời chàng trai hỏi Ngọc Hoàng sao gây mưa nắng thất thường làm khổ hạ giới. Ngọc Hoàng hỏi Thần Sấm,Thần Sấm tâu: Trần gian rộng mênh mông thần coi không xuể,xin giữ chàng trai này ở lại để trông chừng mưa nắng. Ý trời đã định chàng không thể đổi thay. Ngọc Hoàng còn cho nâng trời lên cao hơn nữa, để người hạ giới không thể lên làm phiền.

   Không thấy chàng về, cô gái ngày nào cũng trèo lên Cây nêu than khóc … Ngọc Hoàng nghe chuyện thương tình bèn ban cho cô gái một điều ước. Nàng thưa xin biến Cây nêu thành loài hoa đỏ có rễ sâu,thân thẳng, cành cao. Nói xong cô gái gieo mình từ trên cao xuống đất; Cây nêu bỗng hóa thành cây Pơ lang. Hoa Pơ lang chính là biểu tượng của cô gái Tây Nguyên yêu kiều thủy chung …Theo dòng cảm xúc tôi bỗng buột miệng hát : Như cánh hoa Pơ Lang đẹp nhất rừng Tây Nguyên / Tây Nguyên ơi cây rừng bao nhiêu thứ

  Đến dưới sân một ngôi nhà sàn nằm bên một gốc cây gạo cao to Blem cất tiếng gọi: Ơ chị Blang có khách nè. Một lúc sau cánh cửa chính phía đầu hồi mở ra;người phụ nữ có thân hình thon lẳn thanh thoát với chiếc váy lửng chớm đến đầu gối bước ra ngoài hiên. Ui cha Blem ! Sao mấy năm rồi mới về, chị nhớ nhiều lắm đó lên nhà đi

   Tôi theo Blem nhẹ nhàng bước lên bậc cầu thang. sàn gỗ rộng thêng thang bốn vách bưng bằng gỗ kín mít,xung quanh trổ những ô của sổ hình hoa năm cánh.

   Nghe có khách đến người đàn ông ngồi trên chiếc xe lăn tự mình gẩy bánh đi ra, hai chân buông thõng mềm oặt, khuôn mặt khắc khổ suy tư; Nhưng vầng trán dô và cặp lông mày rậm xếch thì vẫn y nguyên ngày nào. Tôi sững sờ và thảng thốt kêu lên Anh Phình em là Trang đây. Người đàn ông giơ ngón tay trỏ lên trán như để lục tìm ký ức : Trang à … Trang ở Nà Giàng à. Vâng Trang Nà Giàng con chú Thời Thiết đây. Ôi ngọn gió nào đưa chú đến đây !... Tôi lao vào ôm chầm lấy anh, hai người đàn ông vỗ vai vỗ lưng nhau bồm bộp,tôi muốn òa lên khóc. Hai người phụ nữ hết nhìn nhau lại nhìn chúng tôi ngơ ngác … Phảỉ chăng hơi ấm của dòng máu mủ ruột rà đã cho tôi được gặp anh suôn sẻ đến thế.

   Qua giây phút bất ngờ Blem mới có dịp lên tiếng : Anh Trang cùng học với em từ hồi ở Nà Giàng, mấy hôm vào đây công tác nhân tiện ghé thăm anh chị luôn. Chị Blang nhìn tôi thân thiện : Từ lâu chị đã nghe anh nhắc đến tên em, bây giờ mới được gặp, bao lần anh chị muốn ra Bắc thăm anh em họ hàng, nhưng lần nào cũng bị bỏ dở, bởi sức khỏe của anh thất thường, trí nhớ lúc tỉnh lúc không, mấy năm nay thì đôi chân liệt hẳn...

   Anh chị cuới nhau qua 20 mùa rẫy; con trai lớn đã đi bộ đội đóng quân bên Lâm Đồng. Đứa thứ 2 là con gái không may bị thiểu năng trí tuệ do ảnh hưởng từ bố bị nhiễm chất độc màu Da cam, cháu được nhà nước đưa vào trường nuôi dưõng trẻ khuyết tật của tỉnh; cuộc sống vật lộn với bao đau thương mất mát, càng làm cho anh chị thêm nặng lòng với nhau, có lẽ cũng là do duyên tiền định. Nói đến đây chị lặng lẽ quay đi gạt dòng nước mắt, đứng dậy vào buồng trong lấy ra quyển sổ nhỏ bằng bàn tay, gáy bìa nhàu nát. Cầm quyển sổ trên tay Anh Phình bảo: Đây là cuốn sổ chị tặng anh nhân ngày nhập ngũ rồi anh giở trang đầu tiên cho tôi xem dòng chữ ngắn gọn:

     Có thương nhau xin nhớ lời!

       Blang 3/6/1968

   Những trang tiếp theo chủ yếu ghi chép ngày tháng, địa danh hành quân và những chuyện riêng tư, nét mực đã nhòe ra loang lổ. Lật đến trang ghi ngày 10/3/1975 với vài ký hiệu viết tắt : BMT B72 c2/ 198 kho Mai Hắc Đế. Anh Phình dừng lại nói với giọng trầm buồn: Đây là ngày quân ta mở màn đánh vào Buôn Mê Thuột; Đại đội hỏa lực B72 trung đoàn đặc công 198 có nhiệm vụ đột phá khu kho Mai Hắc Đế, mở cửa hướng Tây Bắc đánh chiếm căn cứ sư đoàn 23 ngụy,càng vào sâu địch càng phản kích quyết liệt, cả đại đội bị thuơng và hy sinh quá nửa, anh bị đạn pháo hất xuống hào tăng …

 Mặt trời đã gần lên đên đỉnh cây Gạo tỏa bóng mát xum xuê nghe rõ trên cành cao rúc rích tiếng chim gọi bầy, hai người phụ nữ đi ra ngoài vườn nhặt rau chuẩn bị nấu cơm, tôi mới dám hỏi anh về chuyện vợ con ở quê theo đúng nhưng lòi bà chị đã nói lại. Anh bảo đấy là chuyện rắc rối phức tạp hơn cả chiến tranh. Đúng là gia đình có làm đám cưới, dù anh không đồng ý vẫn phảỉ làm lành, phó mặc cho số phận trong vòng có 10 ngày phép. Rồi anh lại giở quyển sổ nhật ký chỉ rõ các mốc thời gian. Đây chú xem : Ngày 20/9 /1968 anh đi Nam;26/12 vào đến Tây Nguyên … Ở nhà tháng 9 năm sau bà ấy mới sinh con thì sao có thể nói là con anh được, chuyện nầy đã làm cả nhà anh rất đau buồn, năm 80 anh ỏ trại điều dưỡng về chịu tang mẹ và giải quyết việc gia đình bà ấy khăng khăng không chịu…

 Nói đến đây thì hai ngừòi phụ nữ trở về với rổ rau và bó củi trên tay. Chi Blang lượm thêm củi chất vào bếp, bếp đang đượm than hồng nên ngọn lửa bén rất nhanh reo lên phần phật; Bỗng tôi có cảm giác hình như Blem đã nói chị Blang biết câu chuyện về chuyến thăm của tôi.Nhưng có lẽ với bản lĩnh của một người phụ nữ từng trải chị rât bình tinh, chủ động và cuộc hội ngộ tự nhiên càng trờ nên thân tình ấm áp. Chị tôi bắt đầu câu chuyện.

   Anh chị cũng học với nhau ở Nà Giàng, giữa năm anh đi bộ đội thì cuối năm chị đi học Trường Y. Ra trường được phân công theo một trạm phẫu thuật tiền phương vào Miền Nam, cùng ở chiến trường Tây Nguyên nhưng cũng chỉ gặp nhau qua thư từ … Ngày 12/3/1975 (Tức là 2 ngày sau trận đánh mỏ màn ) Trạm phẫu thuật chật ních thương binh. Khi đưa anh Phình vào chị không thể nhận ra,vì từ đầu đến ngực quấn băng trắng toát trong trạng thái mê man bất tỉnh, người ta bảo anh mới được bới lên từ dưới đất; 3 ngày sau anh mới mở mắt và đuợc tháo băng, nhận ra anh chị đã khóc…

   Nhưng năm sau giải phóng Trạm phẫu thuật chuyển thành trung tâm điều dưõng thương binh, anh bị chấn thương sọ não nặng được giữ lại ở trại, mấy năm đầu cứ ngơ ngơ ngác ngác không biết gì, đến năm 79 mới dần bình phục. Năm 1980 Anh ra Bắc, một tháng sau trở về cứ thẫn thờ như người mất hồn, hóa ra là vì chuyện gia đình...

Cấp trên cho phép chị đưa về phòng riêng chăm sóc, một năm sau thì làm lễ cuới, đám cưới đơn giản được tổ chức ngay trong trại. Năm 90 chị được nghỉ chế độ mới lại đưa nhau về quê đây. Ngôi nhà này cũng do anh em ở trại và bà con trong buôn giúp làm... Lặng đi một lúc chị mới nói tiếp: Em về ngoài ấy cho anh chị hỏi thăm và xin lỗi bà con cô bác anh em họ hàng; Đi qua chiến tranh có muôn vàn đau thương mất mát, gây ra bao cảnh chia ly, nhưng cũng làm cho nhiều nguời biết cảm thông chia sẻ và gần gũi nhau hơn …

   Cả 4 chúng tôi đều cúi đầu tỳ hai tay gục lên đầu gối im lặng chỉ có tiếng ngọn lửa reo phần phật vô tư … Bất giác tôi ngẩng lên nhìn Blem, như một luồng điện vô hình Lem cũng ngưóc lên nhìn tôi rất nhanh, rồi cúi xuống nhúc nhắc những thanh củi đang lụi dần gẩy nhẹ vào bếp. Trong ánh lửa đôi má Lem ửng hồng… Hình ảnh đêm cuối thu lại hiện về với cây cầu nhỏ bắc ngang con suối Nà Giàng; Cây cầu đươc găn biển mang tên Công trình kêt nghĩa Bắc- Nam do Trường dân tộc Miền Nam dựng làm kỷ niệm truớc khi về Nam; Trên cây cầu ấy chúng tôi đã trao cho nhau những nụ hôn nồng nàn cháy bỏng với bao lời ước hẹn …

   Chiều về Blem đưa tôi ra bên dòng sông Sê Rê Pốc, bên kia doi cát giữa dòng sông có cả một rừng cây Pơ Lang. Lại đúng tháng 3, ở ngoài Bắc quê tối lúc này Hoa gạo vẫn đang nở đỏ. Còn ở đây hoa đỏ đã rụng hết, nhưng diệu kỳ thay thứ hoa tưọng trưng cho tình yêu ấy như luôn muốn nở hết mình. Hoa đỏ rụng đi vẫn còn kết lại những Bông gòn trắng phau trên cành lá biếc, một cơn gió nhẹ những chùm Bông gòn bay lất phất như phủ một màn sương giăng trên dòng sông lấp loáng nắng chiều.

   Blem lại khe khẽ hát: Anh ơi em sẽ là Pơ Lang hoa đẹp nhất, thứ hoa buôn làng quý…Tây nguyên này bao nhiêu cô gái đều là hoa Pơ Lang.

   Tôi lặng nhìn theo doi cát giữa dòng sông, nơi mấy đứa trẻ thơ ríu rít tranh nhau nhặt Bông gòn, quê tôi gọi là Bông gạo, Bông gạo trắng muốt mịn màng các cô gái vẫn hay lấy về nhồi làm gối bông tặng người yêu.

                                                                                                                                          Trại sáng tác Đà Lạt, tháng 3/2019

Tác giả bài viết: Lã Vinh

Nguồn tin: Bùi Việt Mỹ

 Từ khóa: Tây nguyên, Lã VInh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây