Từ cậu bé Việt kiều Đến người chiến sĩ kiên cường QUA KHÓI LỬA CHIẾN TRƯỜNG

Thứ năm - 23/07/2026 09:08
Có những cuộc đời mà mỗi chặng đường đi qua đều trùng khớp một cách kỳ lạ với những bước thăng trầm của đất nước. Đại tá, cựu chiến binh, thương binh Đinh Quang Thìn chính là một nhân chứng sống động như thế. Sinh năm Nhâm Thìn (1952), người con của mảnh đất thôn Ngọc Động, xã Gia Phong, huyện Gia Viễn (cũ), tỉnh Ninh Bình - vùng đất cố đô ngàn năm văn hiến, địa linh nhân kiệt, nơi dòng sông Hoàng Long ôm trọn những huyền thoại - đã dành cả thời thanh xuân, xương máu của mình cho độc lập dân tộc và nghĩa vụ quốc tế cao cả.


Đại tá, Nhà văn ĐẶNG VIỆT THỦY
 
 
          Hành trình hồi hương và khúc quanh lịch sử
 
          Tuổi thơ của cậu bé Đinh Quang Thìn không bắt đầu bằng tiếng sáo diều trên đồng đất quê nhà. Là người con trai thứ 11 trong một gia đình công nhân nghèo có tới 13 người con (7 trai, 6 gái), ông đã phải cùng cha mẹ bôn ba nơi góc biển chân trời. Gia đình ông nằm trong số những phu mỏ, công nhân Việt Nam bị đưa sang đảo New Caledonia (Tân Thế Giới) thuộc châu Úc từ những năm bốn mươi của thế kỷ XX.
          Nơi hòn đảo viễn xứ đại dương bao la ấy, dù sống trong cảnh lao động vất vả, nhưng lòng hướng về nguồn cội của gia đình ông chưa bao giờ nguôi tắt. Những câu chuyện về quê hương qua lời kể của cha mẹ đã nuôi dưỡng tâm hồn cậu bé Thìn bằng một tình yêu Tổ quốc thiêng liêng, dù khi đó ông chưa một lần nhìn thấy dáng hình đất nước.
          Mùa đông năm 1960, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ về việc đón kiều bào về nước xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, gia đình ông đã quyết định từ bỏ tất cả để hồi hương.
          Tháng 1 năm 1961, sau nhiều ngày đêm rẽ sóng trùng khơi, chuyến tàu biển chở hơn 500 Việt kiều yêu nước kiêu hãnh cập bến Sáu Kho (Hải Phòng). Cậu bé Thìn 9 tuổi ngày ấy, ngỡ ngàng bước xuống cầu tàu trong tiếng reo hò, trong màu cờ đỏ sao vàng và vòng tay ấm áp của đồng bào. Sau những ngày đón tiếp nghĩa tình, gia đình ông được phân công lên định cư tại vùng đất chè hoang sơ Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây, ông lớn lên, vừa lao động giúp đỡ cha mẹ, vừa cố gắng học tập dưới mái trường tranh tre nứa lá rực lửa quyết tâm của thời chiến.
 
 
          "Có lệnh là đi, tư thế sẵn sàng"
          Mùa hè năm 1971, chàng thanh niên Đinh Quang Thìn tốt nghiệp cấp ba phổ thông. Đó cũng là lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn cam go khốc liệt. Tiền tuyến gọi, tuổi trẻ miền Bắc đồng loạt xếp bút nghiên lên đường. Tháng 8 năm 1971, Đinh Quang Thìn lên đường nhập ngũ. Ông bước vào đời lính với một tâm thế hiên ngang, hừng hực khí thế của cả một thế hệ, đúng như những vần thơ bất hủ của nhà thơ Tố Hữu:
                    "71 đến nghiêm trang như người lính
                     Có lệnh là đi tư thế sẵn sàng…".
          Với tố chất thông minh và bản lĩnh vững vàng, ngay khi còn là tân binh tại Sư đoàn 325, ông đã được cấp trên tin tưởng giao phụ trách Tiểu đội trưởng, chỉ huy 12 chiến sĩ là đồng hương của mình.
          Cuộc thử lửa thực sự bắt đầu vào đầu năm 1972. Tháng 1 năm 1972, giữa cái rét cắt da cắt thịt của mùa đông miền Bắc, đơn vị ông nhận lệnh hành quân vào chiến trường B (miền Nam). Chuyến tàu xuất phát từ ga Hà Nội, đến tháng 2 năm 1972, họ đặt chân đến binh trạm tại Kỳ Anh (Hà Tĩnh), rồi sau đó tập kết tại Vĩnh Linh (Quảng Trị).
 
 
         t Khói lửa Quảng Trị và những chiến công của người lính
 
          Đêm ngày 11 tháng 5 năm 1972 trở thành một ký ức không bao giờ phai nhạt. Đinh Quang Thìn cùng đơn vị vượt sông Bến Hải - ranh giới giới tuyến lúc bấy giờ - để tiến vào mảnh đất lửa Quảng Trị. Băng qua Gio Linh, Cồn Tiên, ngày 16 tháng 5 năm 1972, ông và đơn vị đã vào tới Thị xã - Thành cổ Quảng Trị.
          Ngày 27 tháng 5 năm 1972, đơn vị của ông triển khai đào công sự tại khu vực nhà thờ Thanh Hương. Tại đây, trong đội hình Trung đoàn 18, Sư đoàn 325, ông đã trực tiếp tham gia những trận đánh đầu tiên và tiếp theo trong Chiến dịch Quảng Trị mùa hè đỏ lửa năm 1972. Năm 1973, ông lại có mặt trong trận đánh đầy cam go tại Tích Tường - Như Lệ…
          Tháng 10/1973: Ở tuổi 21, khi đang là Trung sĩ, ông đã được tin tưởng giao chức vụ Đại đội phó - một sự ghi nhận đặc biệt đối với một chiến sĩ trẻ mới nhập ngũ tròn 2 năm.
          Cuối năm 1973: Ghi nhận những chiến công xuất sắc, cấp trên quyết định phong quân hàm vượt cấp cho ông từ Thượng sĩ lên Thiếu úy (C bậc phó).
          Tháng 3/1974: Ông chính thức giữ chức Đại đội phó Đại đội 7, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 8, Sư đoàn 325, tiếp tục cùng đơn vị chiến đấu kiên cường tại mặt trận Tích Tường - Như Lệ.
          Mùa xuân năm 1975, lịch sử sang trang. Đại đội trưởng Đinh Quang Thìn cùng Sư đoàn 325 tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Đơn vị của ông cùng các đơn vị bạn đánh tan các cánh quân phòng ngự từ xa của địch tại Đồng Nai, mở toang cánh cửa phía Đông, hừng hực khí thế tiến vào Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chứng kiến giờ phút non sông thu về một mối vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.
 
 
          Người lính không mệt mỏi và nghĩa vụ quốc tế cao cả
          Đất nước hòa bình, non sông thống nhất, nhưng sứ mệnh của người lính Đinh Quang Thìn vẫn chưa dừng lại. Với tinh thần quốc tế vô sản và thấm nhuần lời dạy "giúp bạn là tự giúp mình", ông lại khoác ba lô sang nước bạn Lào từ năm 1976 đến 1978. Ông đã cùng quân và dân các bộ tộc Lào tiễu phỉ, giữ gìn an ninh tại các vùng đất miền Trung và Nam Lào như Savannakhet, Pắc Xế…
          Năm 1978, khi tập đoàn phản động Pôn Pốt điên cuồng gây hấn, thảm sát đồng bào ta ở biên giới Tây Nam, ông cùng đơn vị lập tức hành quân về nước, trực tiếp cầm súng đánh trả quân xâm lược tại mặt trận Hà Tiên, Kiên Giang. Không dừng lại ở đó, từ năm 1979 đến 1986, ông tiếp tục cùng đơn vị làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia. Từ Kampot đến Battambang, ông đã cùng đồng đội vượt qua những cánh rừng khộp đầy mìn lá, truy quét tàn quân Khmer Đỏ, cứu giúp nhân dân đất nước Chùa Tháp hồi sinh từ đống tro tàn của thảm họa diệt chủng.
 
         
          Vết thương trên da thịt, vinh quang trên ngực áo
          Trải qua các mặt trận, các chiến trường, Đại tá Đinh Quang Thìn đã dâng hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân cho màu áo lính. Qua hàng chục trận đánh sinh tử, Đại tá Đinh Quang Thìn đã để lại một phần xương máu trên chiến trường. Ông bị thương tổng cộng là 5 lần, là thương binh hạng 3/4 (tỉ lệ thương tật 41%). Không chỉ vậy, những năm tháng lội suối băng rừng dưới làn mưa hóa chất độc hại của Mỹ đã khiến ông trở thành nạn nhân chất độc da cam/dioxin với tỉ lệ tổn thương cơ thể lên tới 60%.
          Sau 33 năm 10 tháng cống hiến liên tục trong quân ngũ, ông nghỉ hưu với quân hàm Đại tá (trước khi nghỉ hưu ông là Phó Trưởng phòng Dân quân tự vệ, Bộ Tham mưu Quân khu 1). Phần thưởng lớn nhất đối với ông không chỉ là sự bình yên của Tổ quốc, mà còn là sự ghi nhận trang trọng của ba quốc gia Đông Dương thể hiện qua những tấm huân chương cao quý lấp lánh trên ngực áo:
          5 Huân chương Chiến công (2 hạng Nhất, 2 hạng Nhì, 1 hạng Ba)
          1 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba
          3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng 1, 2, 3)
          1 Huân chương Hữu nghị do Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trao tặng.
          1 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc do Vương quốc Campuchia trao tặng.
          Và nhiều Huân, Huy chương cao quý khác.
          Đại tá, CCB, thương binh Đinh Quang Thìn  - cậu bé Việt kiều năm xưa - đã hoàn thành nhiệm vụ vinh quang của một người lính. Những vết thương trên da thịt ông khi trái gió trở trời lại đau nhức, nhưng nó là "thứ huy hiệu" vô giá của một thế hệ anh hùng. Ông là một tấm gương sáng để lớp trẻ hôm nay noi theo và tự hào về một thời kỳ "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" vô cùng vinh quang của dân tộc.
 
Đ.V.T

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây