TỪ HOA LINH ĐẾN HOA HẠNH - LÊ QUỐC HÁN

Thứ năm - 09/01/2020 02:59
“ hạnh trắng hàng ngàn năm ám ảnh tâm tưởng biết bao người” Nguyễn Linh Khiếu
Nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu
Nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu

 Trong số các thi sĩ trẻ xuất hiện cuối thế kỷ hai mươi, tôi thích thơ của Mai Văn Phấn và Nguyễn Linh Khiếu. Thơ họ như tên của họ, lạ và hay. Không hiểu sao trong tâm tưởng của tôi, họ là cặp bài trùng “tương đồng và khác biệt”: Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười!

“Tương đồng” bởi họ cùng sinh ra và lớn lên ở lưu vực sông Hồng (một Ninh Bình, một Thái Bình), cùng đạt giải cao trong cuộc thi thơ do báo Văn Nghệ tổ chức (1995). Thời ấy đạt giải báo Văn Nghệ là sang lắm. Dẫu vậy, kết quả cuộc thi nào cũng do Ban giám khảo quyết định. Như vậy chứng tỏ thơ của hai anh thời ấy đã cùng hợp “gu” của những người đạo cao chức trọng trong Hội nhà văn Việt Nam rồi.

“Khác biệt” không chỉ ở bút pháp, mà còn cái cung cách xuất hiện trong làng thơ Việt sau này. Nếu mấy chục năm sau đó, thi sĩ họ Mai liên tiếp trình làng hàng chục tập thơ và trường ca nặng ký, được trao nhiều giải thưởng văn học cao quý trong và ngoài nước, thì thi sĩ họ Nguyễn sau khi trình làng tập thơ “Hoa linh” (2000) khá “im hơi lặng tiếng”, mặc dù anh vẫn lặng lẽ sáng tác hàng nghìn trang, chia sẻ cùng bạn bè và đạt giải cao trong cuộc thi thơ của Tạp chí quân đội (2010). Điều này xui tôi hay nhớ thơ anh, một nỗi nhớ bâng khuâng: “Nhớ gì như nhớ người yêu”! Dẫu thi thoảng đọc được vài chùm thơ của anh trong những tuyển thơ của Hội nhà văn, cũng chẳng khác nào người lữ hành đang đi trên sa mạc nóng bỏng nhận được vài giọt nước.

                                                                                                                      *

Cách nay ba năm, mùa xuân 2016, tôi lập Fb và sớm kết bạn với Nguyễn Linh Khiếu. Ngay từ những chia sẻ đầu tiên, chúng tôi đã tỏ ra khá hiểu và tôn trọng nhau. Trong các commemt, tôi gọi anh là “thi sĩ tôi yêu” (danh từ này tôi chỉ mới gọi hai người), còn anh gọi tôi là Thầy, mặc dù anh là một PGS. TS triết học, đảm nhiệm một trọng trách trong Ban Biên tập Tạp chí Cộng sản. Mỗi lần anh post lên bài nào tôi đều đọc đi đọc lại và commemt kịp thời. Tôi thích chất minh triết tự nhiên mà sâu sắc, cách diễn đạt mới mẻ và phóng túng trong thơ, văn anh, đặc biệt là những bài thơ văn xuôi và tản văn (mà anh gọi là “tùy văn”). Đó luôn là đặc trưng thơ anh. Ngay trong giai đoạn đầu sáng tác, anh thường dùng thể thơ tự do và “thơ văn xuôi”, có lẽ chúng hợp với tạng anh. Các thể thơ truyền thống không cho phép anh truyền tải hết tư tưởng tình cảm chăng? Sau này anh mở rộng sang thể “tùy văn”, có cảm tưởng rằng đó cũng là những “bài thơ văn xuôi” dài hơi.

Nhớ cách nay vài năm, anh thông báo trên fb rằng sắp tới sẽ trình làng ba tác phẩm: một thơ, một trường ca và một tùy văn. Khi tôi đặt mua, anh liền xin email tôi và gửi toàn bộ bản thảo ba cuốn sách đó. Tôi giật mình tự hỏi sao anh tin người đến vậy. Bởi là người làm thơ mấy chục năm rồi nên tôi thấm thía lời dạy người xưa: nghĩ được một từ hay rụng mất mấy sợi tóc, viết được một câu thơ hay bạc nửa mái đầu, làm được bài thơ hay bạc cả mái đầu! Nay trong các bản thảo trên, nhiều thi phẩm anh chưa công bố trên các phương tiện đại chúng mà chỉ chia sẻ riêng với bạn bè. Nhỡ có người nào “đạo văn” thì anh làm sao biện minh được. “Văn chương tự cổ vô bằng cứ”, lấy ai làm trọng tài.!

Ảnh thơ KhiếuG

Sáng nay (26.3.2019) tôi nhận được ba tác phẩm anh gửi tặng: “Phồn sinh” (trường ca, 712 trang), “Beijing -lá phong vàng” (tùy văn, 312 trang) và “Sa hồng” (thơ và trường ca, 120 trang), tổng cộng 1144 trang khổ. Vừa liếc qua mấy cuốn sách, liền chạm ngay một kỷ niệm nhỏ: Khi đọc “Thi nhân Việt Nam” (Hoài Thanh - Hoài Chân), tôi rất thích bài thơ “Cảnh đó, người đâu” của thi sĩ Thái Can: “Gặp em thơ thẩn bên vườn hạnh/ Hỏi mãi mà em chẳng trả lời/ Từ đó bắc nam người một ngả/ Bên vườn hoa hạnh bóng giăng soi”. Tôi băn khoăn không biết “hoa hạnh” là hoa gì? Vợ tôi cùng làng với thi sĩ Thái Can. Tôi đã nhiều lần hỏi các bô lão trong làng và những vùng phụ cận nhưng ai cũng lắc đầu không biết. Nghĩ rằng “hoa hạnh” là một loài hoa do thi sĩ Thái Can tưởng tưởng ra ngụ ý “hoa tiết hạnh” hay “hoa hạnh phúc” chăng.

Khi tôi nêu vấn đề này lên Fb, một bạn nói rằng có nghe nói đến loài hoa này: Hoa đào rơi rắc lối Thiên Thai/ Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi/ Ngõ hạnh suối đào xa cách mãi/ Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng soi. Tôi hỏi bạn ấy có biết bản gốc hay tác giả bài thơ không bạn ấy trả lời không rõ. Trước hết tôi nghĩ ngay đến bài thơ “Tống biệt” của Tản Đà được Hoài Thanh - Hoài Chân dẫn trong cuốn Thi nhân Việt Nam, nhưng tra lại sách thì trong bài thơ ấy không có từ nào nhắc “hoa hạnh”. Lại tra Goolge xem trong bài hát nổi tiếng “Thiên thai” của cố nhạc sĩ Văn Cao có bóng hoa này không nhưng cũng thất vọng nốt. Lại mở Goolge ra tra đi tra lại hóa ra khổ thơ trên là mở đầu bài hát chầu văn “Tống biệt” trong phim “Mê Thảo” do Nghệ sĩ nhân dân Thanh Hoài hát. Bài chầu văn này cũng có trong đền thờ Ông Hoàng Mười ở Nghệ An nhưng hai nơi đều không nói rõ ai là tác giả bài hát chầu văn ấy. Trên Goolgle cũng nói đến cây hạnh nhân, họ mận giống đào nhưng quả nó chỉ ăn được nhân trong hạt. Nó thường mọc ở núi rừng phương Bắc, không thể là loài hoa hạnh thi sĩ Thái Can nhắc đến.  Phải chăng hoa hạnh là loài hoa do người xưa tưởng tượng ra, như sau này thi sĩ Hoàng Cầm tưởng tượng ra “lá diêu bông”?

Không ngờ trong tập thơ “Sa hồng” không chỉ một mà có những ba bài thơ nói về loài hoa này: “thiên đường hoa hạnh!”,  “hoa hạnh” và “hạnh trắng”: hồn nhiên xếp hàng bên bờ biển cả / mướt xanh hạnh trắng Hải Phòng / tuổi thơ non tươi tung tăng bão biển/ dịu dàng người con gái xanh trong// thành phố biển khơi bời bời sóng gió/ cần lao lam lũ lênh đênh trôi dạt đau thương/ trong bão biển trắng ngần vòm hoa tinh khiết/ dầu giãi nắng mưa dịu dàng e ấp một linh hương// anh có một Hải Phòng trắng ngần hoa hạnh trắng/ một nỗi niềm không thể nào thổ lộ với biển khơi/ thủy thủ ra đi không không bao giờ trở lại/ mối tình ra đi vô vọng vỗ chân trời (hoa hạnh). Tôi giật mình tự nhủ: giá mình dành thời gian đọc hết các bản thảo anh đã gửi, hẳn không mất công tìm kiếm sự tồn tại loài hoa này.

Qua mẩu chuyện này tôi lại càng thấm thía: “Tất cả không ngoài một chữ duyên”!

                                                                                                        Thành Vinh, 30.3.2019.   

                                                                                  

Tác giả bài viết: Lê Quốc Hán 

Nguồn tin: Bùi Việt Mỹ

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây