Văn thơ Nguyễn Mạnh Thắng - một người lính trở về

Thứ ba - 29/09/2026 08:23
 

      P. Gs, Ts, tiến sỹ, Nhà phê bình văn học Vũ Nho
 

     thang       Vu Nho vanvn3                                                          

 
                            1. NGÀY TRỞ VỀ CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH
                                (Đọc: Ngày trở về của Nguyễn Mạnh Thắng, Nxb Hội Nhà văn, 2014)
        Trong “chia sẻ cùng bạn đọc” ở đầu tập thơ, tác giả viết: “Ngày trở về- Tập thơ như một cuốn tiểu thuyết bằng thơ, nói về cá nhân một người lính thời chống Mĩ” , “Người lính trẻ ấy có hàng chục năm chiến đấu ở chiến trường miền Nam và chiến trường Lào. Khi trở về sau cuộc chiến, nhìn lại cái hậu phương – gia đình đã lún sụt, rạn vỡ của mình mà quá đau lòng, rồi nghĩ suy trăn trở và viết thành những vần thơ” .
          Quả thật với những lời tâm sự ấy và hai câu thơ mở đầu Tập sáu, như là một đề từ:
          Tập thơ, một quãng đời tôi
          Từng câu trĩu nặng đầy vơi nỗi niềm
đã khiến người viết phê bình phải đọc một mạch. Bởi vì đây không chỉ là thơ, đây là tâm sự, là nỗi niềm của một người lính trở về sau chiến tranh. Người lính ấy không nói đến chiến công, không nói về mặt trận, mà nói về nỗi buồn, sự mất mát, về “nước mắt từ miền thương đau” (Ngày trở về).
Còn gì buồn hơn, khổ hơn khi trở lại hậu phương mà chứng kiến cảnh đau lòng: “vợ mình, nhưng con của người” (Khúc nửa vời). Chỉ những người lính từng vào sinh ra tử, từng vượt qua chết chóc ở chiến trường vì vững tin ở hậu phương có tình yêu chung thủy, có mái ấm gia đình mới có thể thấm thía tâm trạng của người viết mong…được chết:
Giá…hồi đánh Mĩ hi sinh
Người xưa đỡ tiếng: “bạc tình – theo giai”
       Tự sự
Cơ sự đã là như thế. Người lính chấp nhận số phận nhưng không thể nguôi ngoai vết thương lòng. Bởi vậy mà:
          Nghĩa tình chồng vợ giờ đây
          Ly thân, nguội cảm từ ngày ra quân
          Ba mươi xuân lại qua xuân
          Vần cùng chung sống, chẳng gần được nhau
                              Ngày trở về
Anh là người bình thường chứ không phải gỗ đá, càng không phải một ông Vua để mà ban phát “đồ thải loại” . Bởi thế mà luôn sống trong nỗi khổ tâm, đau buồn “Vết đau nghiệt ngã trong đời quá sâu” (Một thời). Có lẽ người lính cũng cố cắn răng để chịu vết thương đó. Và người kia cũng đã cố gắng mong “vá lại tình chồng” . Nhưng sự cố gắng là vô vọng. Tuy vậy, dù đổ vỡ, nhưng ta vẫn thấy sự cao thượng của người lính, khi mà “Xòe tay không giấu nữa” :
          Thằng đầu là con của tôi
   Bà sinh thằng nữa, con người tình sau
          Tôi thương hai đứa như nhau
          Nuôi cho ăn học, dạy câu. . . «Làm người »
 Vết đau cứ âm ỉ trong tim. Đốt nhật kí. Rồi đốt ảnh. Như là tự thiêu. Nhưng niềm đau vẫn còn đó. Không thể nào thiêu được. Đã không hàn gắn được vết thương thì đành phải mỗi người một đường để giải thoát cho nhau:
          Nước lửa khắc nhau, đành đôi ngả
          Sống mãi bên nhau khổ một đời
        Chia tay
Và thế là người thơ chấp nhận cảnh cô đơn, cảnh lạ lùng như là ở trọ ở trong nhà mình:
          Đêm nằm ôm cái lặng thinh
          Vo ve tiếng muỗi ru mình qua đêm
                                        Xuân vắng
Cảnh li hôn tuổi già, khi mà con cháu đều trưởng thành và ở xa khiến cho chúng ta không thể không ngậm ngùi:
          Quanh hiu nói chẳng thành lời
          Lom khom nhặt bóng mình rơi dưới thềm
                              Thăm Huế về
Chia li. Lỗi tại người vợ không chung thủy. Nhưng lỗi cũng tại chiến tranh. Người lính không vượt qua được mặc cảm bị “phản bội” . Nhưng trong anh vẫn là tình người trung thực:
          Ba mươi năm ấy bà ơi!
          Nhiều khi giận lắm. Xong rồi lại thương
                              Lỗi tại gần nhà
Và khi nghe tin vợ cũ có bồ thì anh mừng. Một nỗi mừng chân thành:
“Mong cho bà ấy có người giải khuây” (Quá mừng).
Phần hai của tập thơ cho người đọc biết một cái kết có hậu. Người lính già đau khổ đó đã tìm được người bạn đời. Họ “ghép lại những mảnh tình” làm nên một gia đình hòa thuận, êm ấm. Tuy vậy, ấn tượng sâu sắc nhất vẫn là ấn tượng về người lính trở về khi gia đình không trọn vẹn, khi phải chịu đựng những mất mát đau khổ chính nơi tổ ấm của mình. Người viết đã ý thức sâu sắc về những bài thơ anh viết:
          Câu- vần có thể chưa hay
          Tình thơ thấm đẫm đắng cay nỗi buồn
                                        Tự sự 2

Chính cay đắng và nỗi buồn tan vỡ đã thành thơ làm nên tập thơ này.

“Ngày trở về” - những mảnh vỡ văng ra từ một nỗi buồn thăm thẳm “(Nguyễn Thế Kiên- Lời bạt). Những mảnh vỡ đó bắn vào trái tim những người đọc làm chúng ta đau nỗi đau chung. Và từ đau xót, cảm thông, thêm một lí do để yêu mến, khâm phục, kính trọng những người lính, những người hi sinh ở mặt trận, vẫn tiếp tục lặng lẽ hi sinh khi tiếng súng đã im để bảo vệ cuộc sống thanh bình của non sông đất nước.

“Ngày trở về” do đó có một ý nghĩa riêng, đặc biệt khi viết về chiến tranh.

  Hà Nội, 24/11/2014


Untitled 1

 

 

                  2. Cảm nhận về tập tiểu thuyết TRĂN TRỞ MỘT ĐỜI                 
                      (Đọc “Trăn trở một đời “của Nguyễn Mạnh Thắng, Nxb Hội Nhà văn, 2018)

     Thật ra, theo những điều mà tác giả đã viết trong những tập thơ của mình, tiểu thuyết này của anh gần như là một “hồi kí tự truyện” . Không sao! Nếu sách ở dạng tự truyện, sẽ khó cho tác giả vì những lí do tế nhị. Là “tiểu thuyết” thì cho phép người viết “hư cấu” nhiều hơn, “Chi tiết” thêm nhiều hơn. Và quan trọng nhất là nhân vật, dù có mẫu nguyên xi ngoài đời, nhưng đã mang tên khác, là người khác. Tránh cho tác giả những phiền phức không đáng có.

Không cần phải công phu khám phá gì, thấy ngay tác phẩm “tiểu thuyết” đầu tay của nhà thơ là một sự trải nghiệm. Ba phần đầu chỉ vẻn vẹn có 51 trang in, phần sau gồm 278 trang. Phần một có nhan đề “Tình mẹ” . Các phần sau lại không có nhan đề là có dụng ý của tác giả. Mà cái nhan đề “Tình mẹ” ấy cũng nhẹ nhàng bao quát, gây được ấn tượng sâu sắc, chuyện kể bà Cao góa chồng từ năm 21 tuổi, nuôi cậu con trai đến khi cậu 13 tuổi thì bà cưới vợ cho con. Rồi bà nói với con trai rằng bà muốn đi bước nữa với ông Đậu, người cùng làng.

Cả phần một, phần hai và phần ba đều viết bằng giọng “kể” . có duyên. Câu chuyện xoay quanh chuyện bà Cao lấy vợ cho con, rồi bà lấy ông Đậu, rồi bà nhận một thằng bé làm con nuôi, đặt tên là Đình Lợi. Rồi bà Cao đứng lên lấy vợ hai cho chồng mình, mong cho ông có người nối dõi. Nói chung ba phần này viết vừa tay, nhân vật chưa thật đặc biệt. Nếu bạn đọc là người khó tính, có thể bỏ sách xuống và hạ một câu: Nhạt! Chả có gì đáng xem...!

Nhưng nếu ta tiếp tục đọc tiếp phần bốn, phần chính của cuốn tiểu thuyết này thì mới thấy cái hay của tiểu thuyết “Trăn trở một đời” . Nhân vật chính, chàng trai Nguyễn Đình Lợi, con nuôi bà Cao và ông Đậu có một cuộc đời chìm nổi đầy trải nghiệm trong cuộc chiến tranh chống Mĩ. Phần này, vẫn với văn phong “kể” có duyên như ba phần trước, nhưng nhờ có nhiều “chuyện” để kể; nhờ cuộc đời lắm phức tạp, gian nan, ngang trái; và nhờ một trí nhớ tốt, một giọng kể có duyên, do vậy mà những yếu tố đó đã làm nên thành công của cuốn sách. Cuộc đời nhân vật chính Đình Lợi có nhiều nét giống với cuộc đời thực của tác giả, nên yếu tố “tự truyện” là khá rõ. Nhưng không sao. Chính cuộc đời lính tráng và những mất mát, tan vỡ, rồi may mắn của người viết, tự nó đã là một “tiểu thuyết” hấp dẫn lắm rồi.

          Anh chàng Nguyễn Đình Lợi dù là con một , dù đã có giấy gọi nhập học Đại học vẫn kiên quyết xin đi bộ đội. Cái thời của Lợi là thế “Cả nước lên đường” mà! Anh chàng được thưởng phép về vì bắn giỏi súng trường CKC ba điểm 10, được chị phó bí thư chi đoàn cho “vào đời” . Rồi anh chàng khám tuyển phi công mọi tiêu chuẩn đều đạt, riêng mắt thì …bị đánh trượt. Sung vào đơn vị lính dù, nhảy dù bị gió bay tạt sang sườn núi bên kia, bị dân quân bắt vì tưởng là “phi công Mĩ” . Đơn vị lính dù giải tán, Lợi lại trở về huấn luyện lính đặc công. Phải là người lính thời đó được huấn luyện, được thông tư tưởng, và phải có trí nhớ tốt mới nhớ được lời của Lữ đoàn trưởng “Tư tưởng còn chưa thông, mang cái bình tông cũng không nổi” . Lợi lăn lộn ở chiến trường, sốt rét, bị thương phần mềm. Hết làm lính trinh sát đặc công, phụ trách máy bộ đàm, rồi lại chuyển sang hậu cần, làm lính xăng dầu cho đến ngày đất nước giải phóng. Những kỉ niệm chiến trường ăn sâu trong trí nhớ. Và Lợi còn ghi chép nhật kí vào sách hướng dẫn máy 2 oát thông tin gửi về nhà. Chuyện cứu bạn ngã xuống vực; chuyện ông tướng nói đùa chỉ có một sao, còn thấp hơn quân hàm binh nhất; chuyện đơn vị trọc đầu như sư; chuyện vắt; chuyện muỗi, chuyện anh Nhung về Bắc hai ngày cưới vợ cấp tập theo ý gia đình; chuyện bị sức ép hầm bị lấp; chuyện đặt mìn định hướng; chuyện nằm chung với các tử sĩ, suýt bị công binh nhầm là tử sĩ khiêng xuống chôn… Đủ cho người đọc thấy được sự gian khổ của cuộc chiến. Đó cũng là một phần giá trị của tập sách viết về hiện thực chiến tranh. Nó bổ sung thêm những ấn tượng cuộc chiến mà chúng ta đã biết qua những tập sách “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh), “Hồi ức lính” (Vũ Công Chiến), “Chuyện lính Tây Nam” (Trung Sĩ),…

Theo tôi, điều đặc biệt của số phận anh lính Đình Lợi chính là nét riêng, nét độc đáo của cuốn sách này. Câu chuyện bắt đầu từ ngày trở về. Cái tâm trạng “về” của nhân vật được bộc lộ khá rõ trong lời nói với quân lực Trung đoàn về việc đợi phong quân hàm: “Chúng tôi về đi cày. Thôi mấy ông cứ giữ lại đó, nếu có cuộc chiến tranh nữa thì gọi chúng tôi tái ngũ, rồi phong hàm Tướng cho chúng tôi. Bây giờ không còn đủ kiên nhẫn đợi phong quân hàm đâu!” (trang 167). Lợi mong về, sốt ruột về như thế vì đã phong phanh tin vợ có con với người khác. Và sự bức xúc của người lính ngày trở về đã được nhân vật cảm tác: “Giá mình cũng chết như ai/ Khắc tên bia mộ, cắm vài nén nhang/ Không may sống sót về làng/ Mới là chết thật tan hoang cửa nhà/ Vợ sinh con với người ta…” (trang 209).

          Vợ Lợi là người lấy anh trong trận lụt kinh khủng ở quê. Ba ngày cưới thì 2 ngày cô “treo cờ trắng” . Mãi hôm thứ ba về nhà máy mới được chị em nhường cho một đêm “động phòng” . Rồi đơn vị chưa hành quân ngay, nên vợ chồng Lợi có thêm một đêm nữa. Thế rồi Lợi biền biệt nơi bom đạn không biết sống chết ra sao. Bởi vậy khi biết tin vợ có con với người khác, Lợi vẫn nghĩ theo tinh thần rộng lượng, bao dung rằng tại chiến tranh, tại hoàn cảnh. Bởi vậy mà Lợi không hắt hủi vợ, không hắt hủi cả đứa con không phải dòng máu của mình. Điều trăn trở của Lợi chính là vì tương lai của những đứa trẻ. Anh chấp nhận tất cả để nuôi cho con cái trưởng thành. Thật đáng cảm phục cái tình và sự hi sinh khi hòa bình của một người lính. Tình cha con thật là “phụ tử tình thâm” . Sau này, Lợi còn chấp nhận bỏ việc Giám đốc đại diện để làm người trông coi dựng nhà cho con. Và đứa con trai riêng của anh, đứa con trai sau của người khác, Lợi đều lo toan, nuôi nấng cho học hành chu đáo, có bến có bề.

          Sự cố gắng hàn gắn của Lợi không có kết quả. Bởi “tình cũ không rủ cũng đến” . Cô vợ vẫn lén lút quan hệ với tình nhân. Lại còn ghen ngược dùng dao chém chồng. Kết cục là hai người ra tòa, chấm dứt sự nặng nề càng hàn gắn càng vỡ vụn của quan hệ vợ chồng.

Riêng chuyện vợ chồng Lợi, từ khi lấy nhau ở quê, tiễn nhau ở cơ sở nhà máy của vợ, đoàn tụ sau chiến thắng 1975, cho đến ngày chia tay nhau tại tòa cũng là một câu chuyện buồn đáng suy ngẫm, cảm thương.

          Tiểu thuyết có một kết thúc có hậu như là cách kết thúc thường thấy của truyện cổ tích. Lợi làm thơ, viết văn. Rồi Lợi được một bạn đọc chênh lệch tuổi tác thương thầm và quyết tâm đền bù cho những mất mát của người lính già. Cuộc tỏ tình của “cháu bạn đọc” với chú Lợi , rồi cuộc họp gia đình, cuộc ra mắt họ hàng nhà gái được kể lại mộc mạc, hóm hỉnh và hấp dẫn.

          Như đã nói, vốn là một người lính, một người thợ cơ khí bậc cao 6/7, mãi đến những năm tháng nghỉ hưu, Nguyễn Mạnh Thắng mới bắt đầu làm thơ và viết văn. Từ năm 2007 đến nay, anh đã công bố 11 tập thơ, 4 tập truyện ngắn và bây giờ là 1 tiểu thuyết. Còn nữa, anh đã cho ra mắt bạn đọc Tập (TUYỂN TẬP THƠ NGUYỄN MẠNH THẮNG) dày 620 trang thơ. Nghĩa là bình quân cứ mỗi năm, anh có một tác phẩm trình làng. Tôi đã đọc hầu hết các tập thơ, bốn tập truyện ngắn và tập tiểu thuyết này. Tôi cho rằng thành công của Nguyễn Mạnh Thắng là ở thơ, ở tiểu thuyết , còn truyện ngắn chỉ là bước đệm để anh bước vào văn chương. Tất nhiên, những truyện ngắn như là sự tập dượt của anh để cho anh viết tiểu thuyết, tác phẩm đại tự sự. Và tiểu thuyết này, dù có thể có một vài chút sạn, nhưng phần thứ tư là một phần viết thành công. Bạn đọc không chỉ thấy được số phận đặc biệt của một người lính, mà còn có thể thấy những số phận và tình bạn của những người lính, những người thợ, ông giám đốc quan liêu, ông cụ giáo trẫm mình vì bị con trai làm nhục, ông giáo khác bị hoàn cảnh túng thiếu, rồi bị sự phụ bạc và ngoại tình của bà vợ cả, phải lén lút đi ăn xin bằng cách vét phở thừa ở một cửa hàng ăn mậu dịch; và cuốn tiểu thuyết cũng cho ta thấy được những người giàu lòng nhân ái như bà Cao, ông Đậu, anh Lợi, cô Ngọc,…

          Nhà nông có câu: “Ngày đầu chưa quen, đường cày đâu thẳng ngay” . Với người cựu chiến binh, người thợ, nhà thơ Nguyễn Mạnh Thắng, tiểu thuyết đầu tay “Trăn trở một đời” nhưng đã có thành công đáng ghi nhận! Thật là một niềm vui lớn của người cầm bút. Xin được chúc mừng!

 

Hà Nội, 9 tháng 7 năm 2022
VŨ NHO

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây