XE BUÝT ĐI VỀ MẠN NGƯỢC

Thứ ba - 03/03/2020 23:11
Truyện ngắn: Nguyễn văn Hoan
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Vừa lơ mơ tỉnh dậy, Ông Bình đã cảm thấy lành lạnh một bên người. Hàng năm nay vẫn thế. Hễ bà dậy rồi là ông cảm thấy phía bà nằm lạnh hơn phía bên kia. Hôm nay cảm giác ấy khiến cơn bực tức trong ông dâng lên: Bà ấy lại đi rồi. Hơn  một năm nay, sáng nào bà ấy cũng lẻn dậy sớm,  9-10 giờ mới về. Hỏi bà thì bà bảo: Đi có việc. Hỏi việc gì, bà bảo: Cứ đến bữa có cơm cho ông ăn là được. Như một giọt nước tràn ly, hôm nay thì ông quyết. Ông cũng sẽ đi, thử xem bà có chịu được không. Ông mà đã bỏ đi thì chỉ có giời tìm. Nói là làm. Ông lấy cái ba lô học sinh đứa cháu thải ra, nhét tất cả đồ đạc vào đấy. Ông lón cón đeo cái ba lô mi-ni nhảy xe buýt vào bến xe MĐ. Từ bến xe này, ông nhảy một xe buýt đi lên mạn ngược.

Xe ở bến gốc mà chỉ được khoảng hai chục người. Ông chiếm ngay ghế sát cửa sổ. Khách mới lên xe bao giờ cũng phởn chí, nói cười bả lả, còn ông thì ngồi trầm ngâm. Mà chuyện họ nói nào có chuyện gì ra chuyện gì. Toàn  là giá soài ở Hà Nội 30 thì ở quê cũng 30. Hoa quả ở nhà quê chả bao giờ ngon bằng ở Hà Nội. Lợn móc hàm ở nhà quê 37 mà ở Hà Nội thịt vẫn bán 80-90... Tự nhiên, một giọng the thé cất lên:

Ối giời ơi! Tim á, óc á, 5-6 giờ chợ nào cũng  hết tiệt cả rồi...

Chẳng ai nói về chuyện hạnh phúc gia đình, chuyện li thân, li hôn, chuyện chồng hờn vợ, vợ dỗi chồng...Thế là ông quay đầu ra ngoài cửa sổ, ngắm non nước, trời mây.

Tuyến này, đầu tuyến  có tới dăm  số xe. Rồi các xe tản đi các hướng, số còn lại ít dần. Hành khách chờ ở bến ngày càng thưa thớt. Số khách lên thì ít mà số xuống thì nhiều, thành ra chẳng mấy chốc, số khách trên xe vợi hẳn đi, tiếng chuyện trò cũng ngày càng lắng xuống. Ban nãy người ta khó chịu về sự ồn ào bao nhiêu thì bây giờ người ta chống chếnh về sự im lặng bấy nhiêu . Riêng ông, ông cảm thấy như hẫng hụt khi xe đỗ mà chẳng có người nào lên. Mãi sau, có một ông cũng tầm tuổi ông đội mũ phớt,  cầm ba toong, lên xe. Lạ là lên xe mà chẳng đảo mắt tìm chỗ, ông ta cứ cúi gằm mặt xuống sàn. Ông Bình chợt mừng là có lẽ tâm trạng của người này giống mình nên cố ý ngồi nép vào, thầm  mời mọc ông ta; nhưng ông ta lại ngồi sang ghế bên kia. Ngán ngẩm, ông lại quay về  phía cửa sổ. Rồi  xe lại đến một bến mới. Ôi thôi! Các số xe khác đã rẽ đi đường nào hết cả rồi chỉ còn một mình xe ông. Ông bất ngờ phát hiện một điều thú vị, khẽ bật cười nhưng lại hơi  chột dạ: Số xe này đúng bằng tuổi của ông: Số 73. Mới đây số xe này chìm  trong các số khác, bây giờ thì  nó trơ ra, đơn độc giữa những chiếc biển báo  màu xanh vàng. Nó sẽ một mình lãng du dăm- bảy bến nữa để về bến cuối cùng. Mỗi lần xe tới bến, ông  lại đăm  đăm  nhìn cái số xe cô đơn mà lòng buồn tênh.  Ông chìm sâu trong  suy tưởng về sự cô đơn ấy chẳng biết bao lâu cho tới khi giọng người phụ xe thúc vào tai:

  • Bến cuối cùng rồi. Tất cả hành khách xuống hết. Ai về Hà Nội thì 1 giờ chiều có mặt tại đây.

Bến cuối cùng nằm ở trung tâm của xã Bình Sơn, vì là “thủ đô” của xã nên rất sầm uất. Chỗ này là chợ, chỗ kia là trụ sở HĐND, UBND, rồi thì Bưu điện xã, Trung tâm tín dụng.... Bốn nhánh đường tỏa ra 4 phía tạo thành 4 con phố với đầy đủ các loại cửa hàng kể cả mát-sa, spa, tầm quất.... Đang loay hoay chưa biết đi theo phố nào để chạy trốn cái nơi đông đúc này thì xe buýt chuyển bánh. Chỗ dừng chân của cánh xe khách hẳn phải  là nơi có những cái hay hay nên ông cứ theo hướng xe buýt  mà đi. Ấy là một con đường cấp phối  đá ong nối trung tâm xã với thôn Tà Cọ. Hết khu trung tâm là hết cảnh phố phường, con đường lại hòa lẫn vào cảnh thôn dã, làng quê. Cây cối và ruộng đồng, đồi nương và bầu trời. Nhà cửa thấp thoáng trên sườn đồi. Lẵng nhẵng chiếc ba –lô mi- ni, ông cứ thế thủng thẳng mà đi. Chẳng có mục đích gì nên cũng chẳng vội vàng. Nóng bức. Bóng ông xoăn lại dưới cái nắng chói chang của miền sơn cước. Mặc kệ. Đi được một lúc  thì  phía trước xuất hiện một cây đa cổ thụ,  dưới gốc là một quán nước. Cảnh ấy như cái triện của  họa sĩ  in vào bức tranh phong cảnh của  của bản làng Việt Nam. Hàng ngàn năm trôi qua mà màu xanh yên bình  của nó vẫn không hề phai lạt, cái dáng thân thiết của nó vẫn không hề suy suyển. Chiếc xe buýt đậu gần đấy. Nhà xe đang lặc lè chuyển những sọt nhựa gì đó vào quán rồi lại bê những bao tải nông lâm sản gì đó vào cốp xe. Xong việc, họ vuỗi tay vào đít quần vài cái rồi kéo nhau lên một ngôi nhà trên sườn đồi.

Cái quán này,  khách buôn nơi khác đến cũng có nhưng chủ yếu là những người làm đồng, làm nương quanh vùng đến nghỉ chân- xả hơi. Hôm nay uống vài cốc Fan- ta, 7 up, ngày mai tu  vài chai cô-ca cô-la, la- vi. Đói bụng thì sơi bánh tẻ, bánh chưng; hứng chí thì nhâm nhi vài li rượu với lạc rang, lạc luộc, kẹo dồi chó, bánh chả. Nghĩa là “bách khoa toàn thư”, muốn gì cũng có.

Ông Bình ngồi tưa vào cây cột ở một góc quán, gọi một cốc nước chè tươi, để đấy như là để giữ chỗ ngồi.  Cốc nước đã nguội rồi mà ông vẫn chưa buồn nhấc lên. Có lẽ đôi chân ông không  muốn  bước tiếp trong cuộc hành trình vô định này nữa rồi; bởi vì cũng chẳng biết đi về đâu. Chừng nửa tiếng sau ông mới  nâng cốc lên nhấp môi như cách người ta thưởng thức một ly rượu ngon. Khách khứa vãn dần. Người về xuôi thì đã lên xe về xuôi. Người đi làm thì đã  đi làm. Trời thì  lặng lẽ trở về chiều. Ông gọi một chiếc bánh tẻ. Ăn xong rồi, vừa vo gọn mớ lá bánh ướt nhèm vứt vào sọt rác, ông vừa lên tiếng hỏi:

-        Các cháu học bán trú cả à bà?

Bất ngờ bị chạm đến nỗi lòng sâu thẳm của mình khiến bà Lềnh nổi cục:

-        Làm gì có con mà có cháu.

-        Sao lại không có con?

-        Được sống với chồng đúng 21 ngày, có con thế nào được!

Giọng ai oán của người đàn bà khiến ông ắng lại không nói thêm được lời nào. Ông lại gọi thêm một cốc chè xanh và ngồi trầm ngâm với nó. Mặt trời lặn xuống  sau núi lâu rồi, màu vàng ở đỉnh núi xậm lại dần rồi chuyển thành màu xám,  hoàng hôn dần dần buông xuống. Cái hoàng hôn hôm nay  khốn nạn làm sao. Nó vừa nhuốm màu biệt li, lại nhuốm màu cô đơn . Nó nhân nỗi cô đơn lên nhiều lần khiến người cô đơn buồn đến nẫu ruột, nẫu gan. Thế mà rồi ông lại thầm nở một nụ cười chua chát: Phải thế! Ông phải biết đến tận cùng của con đường đơn độc.

Có lẽ sắp đến giờ dọn hàng, bà Lềnh mới hỏi:

-        Em hỏi khí không phải, bác hình như lên thăm nhà ai ở đây?

-        Ở đây, bà là người tôi quen lâu nhất, vậy thì bà bảo tôi còn thăm ai!

-        Vậy thì tối nay mời bác cứ nghỉ ở đây.

Một lát sau có một người đàn ông to cao từ trên nhà xuống có lẽ để giúp bà Lềnh chở đồ đạc lên nhà. Hai người đàn ông chưa kịp chào hỏi nhau, bà Lềnh đã nói:

-        Tối nay cho em gửi ông khách này bác Lếnh  nhé.

Người đàn ông vừa tươi cười vừa đưa cả hai tay lên bắt tay ông  khách, giọng hỉ hả nhưng lúng túng ở cách xưng hô:

-        Tối nay mời  chú à ...mời bác sơi cơm với nhà em rồi nghỉ ở trên nhà..

 Lòng ông Lếnh chẳng biết nên buồn hay nên vui. Ông nói với bà Lềnh:

-        Tối cô sang ăn cơm cùng cho vui.

-        Hai bác cứ tự nhiên. Tối nay em hẹn gặp một  bà bạn mất rồi.

Bà Lềnh nói thế khiến ông Lếnh thêm buồn. Bà nói thế tức là việc này không xong rồi.

Bữa tối hôm ấy hầu như chả ai  đả động gì tới chuyến viếng thăm bất đắc dĩ của Ông Bình. Ông Bình chỉ soáy vào câu chuyện dở dang lúc ban chiều: Bà Lềnh lấy chồng được 21 ngày thì ông ấy lên đường vào Nam . Từ đó không hề có tin tức gì. Hai gia đình khuyên bà đi bước nữa, nhưng bà khất đến ngày có giấy báo tử. Có giấy báo tử, bà lại khất đến ngày đưa được hài cốt của ông về. Tìm được hài cốt, bà tìm mọi cách  xin đặt mộ ông ở trong vườn của nhà chồng để bà thường xuyên hương khói cho ông, còn ở nghĩa trang của xã, chỉ đặt mộ gió. Cứ thế, bà chẳng biết tuổi xuân của mình trôi đi lúc nào. Sau giải phóng miền Nam, cũng có vài ba đồng đội của ông đến đặt vấn đề nhưng bà từ chối. Rồi khách đi xe từ các nơi biết nhan sắc, đức hạnh của bà, mai mối, người từ dưới xuôi, từ Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn..tìm về, bà cũng chẳng nhận lời đám nào. Răm bảy năm nay thì chả ai đến nữa...Hai người đàn ông nhâm nhi, trò truyện đến gần nửa đêm mới đi nằm. Cuộc đời bà Lềnh như hơi men khiến ông Bình lãng đãng, bâng khuâng suốt đêm.

Ở mé đồi bên kia cũng có một người thao thức. Nói dối là có người hẹn, bà Lềnh về úp một bát mì tôm, ăn qua loa rồi tắt đèn đi nằm. Răm bảy năm nay, cuộc đời của bà tưởng là đã lắng xuống đâu đó thì hôm nay ông khách không mời này lại khuấy lên. Hẳn là một người tốt bụng nào đó lại mai mối cho bà đây mà. Chuyện tình duyên  của bà coi như đã xong rồi.Bà chỉ thương ông Lếnh, không làm sao để ông quên được nó  đi, đừng thương sót cho bà làm gì để mà sống cho thanh thản. Dăm bảy năm nay, nỗi buồn của người anh có lẽ đã tê dại đi, nay nó lại ray rứt trở lại. Anh thương em, thời con gái mơn mởn cả vùng này ai cũng biết; vậy mà chiến tranh đã cướp đi tuổi  thanh xuân của em. Nay một chút hạnh phúc nhỏ nhoi lúc xế chiều, anh muốn bằng mọi cách tìm cho em mà sao tìm  chẳng được.( Số phận em nghiệt ngã lắm anh ơi!). Căn nhà này anh cố gắng xây dựng cho em để ai đó có lòng đến với em thì cũng tiện đi lại.Quán nước dưới kia, anh cũng cố chạy vạy cho em theo chế độ liệt sĩ để em có nguồn thu nhập mà không phải vất vả cày cuốc ruộng nương.. Dòng suy nghĩ ấy từ trong tâm khảm chảy ra triền miên khiến bà mệt mỏi, thiếp đi lúc nào không biết. Khi  tỉnh dậy thì một bên gối đã ướt đầm nước mắt. Bà vội vàng xuống quán thì thấy hai người đàn ông đã sắp xếp mọi thứ đâu vào đấy cả rồi. Xong việc, ông Bình lại ngồi tựa vào cây cột, sẵn sàng chờ  có việc gì thì làm.

Bà Lềnh chỉ lạ là các đám trước, đám nào cũng có màn ra mắt rất lâm li: Thân thế ra sao, bi kịch hôn nhân thế nào.... Vậy mà đám này chỉ như một người đến xin chân giúp việc. Lân la một lúc, bà hỏi:

-        Bác gái ở với bác hay ở với cháu nào?

-        Ở với tôi chứ ở với đứa  nào thì lại không nên chuyện!

-        Ở với nhau sao không cho bác ấy đi cùng lên đây?

-        Được hạnh phúc như thế, tôi đã chả ngồi với bà ở đây!

-        Thế là thế nào mà em chả hiểu?

-        Chính tôi còn chả hiểu nữa là bà!

-        Cụ thể là thế nào?

Ông kể hết sự tình của ông với bà. Tưởng bà sẽ thương cảm cho ông thì bà lại mừng cho ông:

-        Cứ cơm ngon, canh ngọt thế là tuyệt vời rồi.

Ông cười mỉa, miệng méo xệch ra:

-        Tuyệt vời ư! Suốt đời không sao, cuối đời lại rơi vào cảnh cô đơn. Mà có phải hoàn cảnh éo le, đen bạc gì cho cam: Vợ chết ư? Không. Vợ bỏ ư? Không. Bỏ vợ ư? Không.... Vợ vẫn sờ sờ ra đấy.

Ông hăng tiết nói đến nỗi mắt mờ đi. Nước mắt bà trào ra mà ông không để ý. Chỉ đến khi bà đưa tay lên gạt nước mắt, ông mới đột ngột dừng lại, ân hận vì sự vô tâm của mình.

Sáng hôm sau, ông dậy sớm, giúp bà dọn hàng. Bà úp mì tôm cho ông ăn, trần trứng gà bồi dưỡng cho ông. Ăn rồi, ông giúp bà bán hàng. Ông giót nước mời khách, giót rượu mời khách. Chỗ này cần 7 úp: Có ngay. Chỗ kia cần La- vi: Có ngay. Dân ở đây uống nước giải khát thì rất sành; nhưng chữ nghĩa trên bao bì thì họ chịu chết. Nay có ông, uống đến loại nào, ông  giảng  giải cho họ về loại ấy, họ thích lắm :  Ai lại gọi là 7 úp,  phải gọi là sê -vần ắp. Tiếng Anh đấy. Rồi về Cô ca- cô la: Đầu tiên nó chung vốn với ta thế nào, thâu tóm toàn bộ Nhà máy thế nào, chuyển giá, trốn thuế thế nào. Cô- ca uống  mát ruột thế  mà Nhà nước thì sót ruột đành đạch. Mọi người cứ há hốc mồm ra vừa uống vừa nghe các “tích trò” của các hãng giải khát,  xướng cả mồm lại xướng cả tai.

   Những chuyện tầm phào như thế hóa ra lại rất thu hút khách hàng. Quán bà Lềnh đông hẳn lên. Thế nhưng bà Lềnh lại lo lắng. Khách kháo nhau rằng, phen này bà đã có bến đỗ rồi. Ông này tướng mạo đẹp, ăn nói văn hoa  lại chịu thương chịu khó. Hậu vận của bà thế mà tốt. Người ta càng khen, bà càng lo. Gặp ông Lếnh, bà bảo:

-        Em mặc kệ anh đấy, anh muốn làm thế nào thì làm!

-        Làm thế nào là làm thế nào?

-        Bây giờ người ta kéo đến ào ào ra kia kìa.

-        Nhà hàng sao lại sợ đông khách?

-        Người ta cứ tưởng....Mà đã đâu vào đâu đâu. Rồi thì ngượng mặt với dân làng thôi!

-        Sao lại đã  đâu vào đâu?

-        Thì vợ con người ta còn sờ sờ ra đấy.

Ông Lếnh xích lại gần em hơn, nói nhỏ: Bà kia suốt ngày đàn đúm, tụ tập. Người ta chán rồi. Người ta bỏ lả phải. Bây giờ người ta đến với mình. Cá vào ao ai là của người ấy. Ông còn giằn giọng:  Đừng để trượt mất đám này đấy. Sáu- bảy  năm nay mới lại có một đám. Lần sau thì phải mất mươi, mười lăm năm là ít.!

Bà Lềnh lưỡng lự:

-        Anh nói hay nhỉ. Cứ như là của bắt được ấy.

-        Thôi thì tùy cô. Nhưng tôi chỉ hỏi là cô có thương tôi hay không. Thế thôi.

Bà rơm rớm nước mắt:

-        Thôi thì anh để  em dò la xem ngọn ngành thế nào đã vậy.

Hôm sau, giao quán cho ông Bình, bà lẳng lặng  vào xóm, mua một cơi trầu, 2 gói bánh bích quy và một thẻ nhang. Bà theo đường thôn một đoạn rồi tạt vào một khu rừng hoang vu. Lá khô rào rào dưới chân. Những cây bụi, dây leo quấn quýt lấy bà. Vào sâu hơn nữa thì xuất hiện dăm bảy ngôi mộ. Đây là khu nghĩa địa gia đình bên chồng. Bà đặt lễ vào ngôi mộ của chồng, thắp cho chồng 5 nén nhang, thắp cho các ngôi mộ  xung quanh mỗi ngôi 1 nén rồi đến quỳ trước mộ chồng khấn vái. Bà khấn rằng:

-        Anh có linh thiêng thì hiện lên nén nhang này chỉ đường, chỉ lối cho em. Tình của anh, em xin để trong lòng, em đem theo đời đời kiếp kiếp. Bây giờ em phải trả nghĩa cho anh Lếnh em. Anh Lếnh đặt cả hy vọng vào con người này. Em mà thoái thác thì anh Lếnh sống sao nổi. Còn anh, anh có cho em được trao thân gửi phận cho con người này không? Sống nơi dương thế thì phải theo đạo trần gian. Anh có hiểu cho lòng em không?

Bà gục đầu trước mộ chồng, mắt nhắm nghiền, tâm tưởng khi bồng bềnh nơi dương gian, khi chìm đắm chốn âm cung. Một lúc lâu, lâu lắm, bà từ từ mở mắt ra nhìn vào bát nhang:  5 tàn nhang  cuộn  thành 5 vòng tròn, tròn vành vạnh, đính trên đỉnh 5 nén nhang. Bà vui mừng trong lòng. Thế là điều cầu nguyện của bà đã được linh ứng. Vậy thì bà có thể triển khai ý định của mình.

Hôm sau, cũng nhân lúc vắng khách, bà bảo ông Bình:

-        Em bảo bác cái này nhé! Bác phải gọi điện cho bác gái đi chứ! Mấy ngày rồi còn gì.

-        Việc gì phải gọi. Bà ấy vô tư lắm. Không phải nấu cơm cho tôi, đi cả ngày, bà ấy càng sướng.

Bà Lềnh phân tích cho ông thì ông cãi lý:

-        Mọi khi  bà ấy có gọi cho tôi không mà nay tôi phải gọi?

-        Một buổi khác mấy ngày chứ?

-        Các bà không phải bênh nhau. Một buổi tôi sống một mình trong ngôi nhà ấy bằng mấy năm chứ chả phải mấy ngày.

Bà Lềnh giở giọng ngon ngọt:

-        Thì, bác ấy cũng phải thể dục, dưỡng sinh, giữ gìn sức khỏe chứ.

-        Thế thì đã phúc: Hội Thánh Tin Lành, Hội thánh Đức chúa trời, Thiền tông, Mật tông, Pháp luân công..Yoga, Ae- ro- bich...Cái gì cũng hấp dẫn. Chỉ cái vỏ chanh này là chán chết đi được, thế cho nên mới phải chịu cảnh cô đơn.

-        Bác nói thế nào ấy. Hà thành lúc nào cũng chật ních người mà bác lại cô đơn ư?.

-        Bà lầm to! Càng đông đúc bao nhiêu, con người càng dễ bị cô đơn bấy nhiêu.

Bà Lềnh đành đổi hướng. Bà xin số điện thoại của bà Hòa, nhưng ông nhất định không cho. Ông bảo: Chả có số má nào cả. Nhà 6 người lớn, 6 số điện thoại, ông làm sao mà nhớ được. Ngay số của ông, ông cũng chịu còn đòi nhớ số của ai.  Điện thoại ông cũng vứt đi rồi. Bà ấy đi nhưng máy lại ở nhà. Chả vứt đi thì để làm gì.

Dường như chưa hết cơn bực, ông “tấn công” cả bà Lềnh:

-        Nếu bà sợ phiền thì tôi đến nhà khác tôi ở, tôi ở homstay,  ra quán chợ tôi ở. Tôi chả sợ gì cả.

-        Ấy không!  Ý là em sợ dưới nhà tìm bác.

-        Tìm làm gì!

-        !!!!!!

Bịt được đầu mối, ông như mở cờ trong bụng.

Lúc đầu, bà Lềnh bị rơi vào thế bí. Nhưng rồi bà cũng có cách: Ấy là tờ căn cước công dân  ông đưa cho bà  hôm nọ để đăng ký tạm trú. Hôm sau bà bí mật đưa địa chỉ của ông cho cánh lái xe, nhờ họ đến tận nhà tìm hiểu tình hình nhà ông. Cánh lái xe đến nhà ông nhưng không  may, cửa khóa trái. Họ đành viết tin nhắn nhét vào trong rồi ra về. Chỉ cần thế thôi là bà Lềnh yên tâm. Nếu vợ ông còn muốn gắn bó với ông thì bà ta sẽ lên đón ông. Nếu bà ta thực sự đổ đốn rồi, bỏ mặc ông thì cũng phúc đức cho bà. Được cả đôi đường.

Ngày thứ 2, rồi ngày thứ 3 trôi đi..., bà sống trong đơi chờ, hồi hộp. Hình như một niềm hạnh phúc đang cựa mình nảy mầm trong đáy sâu của lòng bà. Mấy chục năm qua, hàng chục người đến với bà, Úy có, Tá có, Cử nhân có, Tiến sĩ có nhưng chỉ ông là kì cục nhất: Lúc nào cũng muốn giữ dịt vợ ở bên mình. Nhưng suy cho cùng, đó mới là điều thánh thiện. Tình cảm đằm thắm ư, thiết tha ư nhưng không sống bên nhau thì cũng bằng thừa. Như chính ông Lềnh với bà đây. Chỉ 21 ngày trăng mật là có ý nghĩa; còn mấy chục năm nay, khi thì bắc nam chia ly, khi thì âm dương cách trở. Đó chỉ là thứ hạnh phúc pha bồ hòn. Bây giờ bà cảm nhận một thứ hạnh phúc mới khi bà giót cho ông cốc nước chè xanh, lúc ông đỡ bà dọn cái ghế, cái bàn. Phải chăng  ông Lềnh đã run rủi, đưa đến cho bà mối tình muộn  mằn này để bù đắp cho cuộc đời thiếu thốn, thiệt thòi tình cảm lứa đôi của bà. Nghĩ thế, bà thấy trong lòng ấm áp lạ thường.

Sáng nay bà Lềnh dậy sớm hơn mọi ngày. Nhanh nhẹn như thời con gái, bà chạy vù xuống Trung tâm, mua vài lạng tim, vài lạng cật, dăm lạng lòng chín. Về nhà, bà dọn 1 đĩa lòng để hai ông nhâm nhi với rượu, còn bà hì hục nấu thêm nồi cháo tim gan để hai ông ăn sáng. Bà lặng lẽ làm mà trong lòng trào dâng niềm hạnh phúc, niềm hạnh phúc đơn sơ của người đàn bà được chăm chút cho những người mình yêu thương. Khi cút rượu đã cạn rồi, bà bưng cho mỗi ông 1 bát cháo. Hành hoa quyện với tim gan bốc lên mùi thơm ngào ngạt. Ông Bình thoáng một phút liên tưởng: Sao cũng là cháo tim gan như bà Hòa từng nấu mà hôm nay nó mới đánh thức đến tận cùng  xúc cảm của ông. 

 Nước nôi qua loa, ông giục ông Lếnh đi dọn hàng.

Khoảng nửa buổi thì phía đầu đường có tiếng léo nhéo hỏi thăm gì đó. Rồi một chiếc tắc-xi truyền thống mang biển số Hà Nội đỗ xịch cạnh quán nước. Anh con cả rồi bà Hòa  bước ra. Mọi người ngỡ ngàng, mừng rỡ nhìn nhau. Trước vẻ tiều tụy, rụt rè của bà Hòa, bà Lềnh bước ra đón khách. Bà Hòa lên tiếng trước:

-        Xin lỗi, bà có phải bà Lềnh không ạ!

-        Vâng ạ!

-        Trời ơi! Phúc đức quá! Chị cám ơn em, ngàn lần chị cám ơn em. Hôm qua quét nhà mới phát hiện ra cái tin nhắn của em. Cả nhà chị như được sống lại...Ôi! ..Gọi là có tí quà Hà Nội. Trông thấy ông ấy thế này là chị mừng lắm rồi. Thế còn ông nhà...

Ông Bình vội phảy tay  ra hiệu, ngăn lại khiến bà Hòa nhìn ông dò hỏi. Bà Lềnh cắt ngang:

-        Cả nhà uống nước đi đã rồi nói chuyện sau. Em cứ sợ là không liên lạc được với chị.

Bây giờ thì ông Bình lại được giao cho ngồi bán hàng. Hai người đàn bà lo chuyện cơm nước. Sau lúc giao đãi, bà Lềnh ý tứ hỏi bà Hòa:

-        Ở Hà Nội, phong trào yoga, ae- ro-bich...rầm rộ lắm hả chị?

-        Có đấy! Nhưng với mình, Yo-ga, yo- số thế quái nào được; còn phải lo thuốc thang  cho ông ấy. Bà hạ giọng: Đừng nói lộ cho ông ấy nhé. Mấy năm nay, đêm ngủ ông ấy toàn rên rẩm rồi nói mê, nói sảng. Chị hết đi hỏi bác sĩ lại hỏi ông lang , lúc thì bảo là thần kinh yếu, lúc thì bảo là do tâm nhiệt. Tim lợn, thần sa vẫn phần ông ấy ở nhà kia kìa.

Trở lại cái vẫy tay ra hiệu của ông Bình lúc nãy, bà Lềnh thổ lộ hết chuyện tình duyên của mình. Cuối cùng bà kết luận: Tu là cõi phúc, tình là dây oan chị ạ! Hai người cùng  gạt nước mắt. Họ cứ thế  bịn rịn cho đến lúc chia tay.

Mọi người đã yên vị trên xe rồi, Bà Hoà vẫn còn dùng dằng, hẹn hò với bà Lềnh. Vừa ngồi vào xe, bà đã bật khóc. Khóc trước cuộc đời cô đơn của bà Lềnh. Trong lúc ấy, ông Bình trầm ngâm ngắm con đường ngoằn ngoèo phía trước, thầm nghĩ:  Đàn bà dễ chia sẻ với nhau thật nhỉ! Liệu bà có biết rằng: Chẳng ai nghe được tiếng khóc trong tim  của người đàn ông./.

                                                                             Tháng 7 năm 2018

Tác giả bài viết: Nguyễn Văn Hoan

Nguồn tin: Nguyễn Việt Chiến

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây