Chùm thơ của Lê Thị Mây

Thứ hai - 11/11/2019 09:56
Nhà thơ Lê Thị Mây
Nhà thơ Lê Thị Mây

MẮT THI NHÂN

Tựa mắt lá non

Đón cơn giông

Được tưới tắm vừa sợ hãi.
 

Mắt cây đa cây đề kinh kệ tự tâm

Lắng nghe, nẩu cuối về cội.

 

Mắt bầu trời chi chít sao

Nhìn trái đất chiếu cung định mệnh.

 

Mắt ở mũi chân

Lội qua eo sóng cửa vịnh Bắc Bộ

 

Mắt san hô cài rực rỡ

Tay san hô nhạc công chiến sĩ

Tấu bản giao hưởng Thái Bình Dương

Tay san hô nhạc công chiến sĩ

Tấu bản giao hưởng ôm giữ bầu trời bình yên.
 

THỨC

Lão điền thức một mắt

Con mắt thức

Cuốn từ điển không thành văn.

 

Lương y như từ mẫu

Phác đồ

Sống, chết

Áo blu bồng bềnh đêm trắng.

 

Cánh đồng gieo gặt số phận

Một thoáng cười ngoài cửa sổ liềm trăng


ẨN

Tòa nhà ẩn chín tầng mây

Treo giấc mơ chưa kịp đến.

Những giấc mơ giông gió đầm đìa

Sum vầy và ly biệt.

 

Mỗi giọng kể khởi nguyên căn bệnh

Ngược thời gian mạch sống thanh xuân

Nhịp tim chưa ra khỏi bom dữ chiến tranh

Tóc bạc phủ tòa nhà hệt gấu trắng.

 

Bao nhiêu gấu tuổi thành đinh mười tám

Ngủ  lưu lạc cánh rừng tóc xanh

Người yêu, người vợ, những người mẹ

Tóc trắng triền lau tìm mộ

Tóc trắng triền lau góa bụa khóc chồng, con.

 

Ẩn chín tầng mây tòa nhà áo blu trắng

Treo giấc mơ phác đồ cấp cứu tương lai

Treo giấc mơ phác đồ huyết mạch tương lai

Và lắng nghe giọng kể cánh rừng xưa trận mạc

 

NẠP NĂNG LƯỢNG

Mồ hôi, ăn, ngủ, thở

Nạp năng lương tạo máu.

 

Thấu triệt vật mỗi chiều hàm chứa

Nạp năng lượng trí não.

 

Cảm xúc tự tim

Nạp năng lượng cho tim.

 

Chân bám đất

Nạp năng lượng sống dưới mặt trời ứng khí lực niềm tin.

 

BA NÀNG THIẾU NỮ

Ba nàng thiếu nữ

Nói cười hân hoan

Từ những cánh đồng hoa Tây tựu.

 

Hồng, cúc, cẩm chướng...

Làn hương thơm tóc

Thơm lời, tiếng

Thơm bàn tay

Thơm nụ liềm trăng

 

Ba nàng thiếu nữ cánh đồng hoa Tây Tựu

Trao tôi mười tám ha Bắc Bộ

Tôi xuất siêu thương hiệu thơm.

 

Lọ cắm hoa trái tim thơ

Lọ cắm hoa hồn thơ chảy máu

Bom nổ chậm cánh đồng ngậm nín.

 

 

TIẾNG GÀ GÁY

Gần trọn ba mươi năm

Đêm nay mưa, sấm, chớp

Canh tý không có tiếng gà gáy

 

Gà gáy tiễn quân

Gà gáy thóc không thiếu một cân

Thóc mẩy, tuổi mười tám chân cứng đá mềm.

 

Đêm nay mưa, sấm, chớp

Ướt đầm đìa chín tầng cao

Tóc bạc nhìn thấy, làm sao nghe thấy

Những giấc mơ khẽ khàng về trong lồng ngực.

 

Người yêu lính

Vợ lính

Mẹ lính

Mẹ ta dâng Tổ quốc trai đinh mười tám tuổi.

 

Nay tóc bạc tuổi 90

Nay tóc bạc tuổi 80

Nay tóc bạc tuổi 70.

 

Nay tóc muối tiêu

(Ngày mẹ nhận giấy Báo tử mặt trận phía Nam

Con côi tuổi chín mười)

Đời người gang tấc trong tình yêu Tổ quốc.

 

Tiếng gà gáy đi qua trọn trăm năm ngàn năm

Thần sấm thần mưa

Giấy Báo tử ngợp trời thư pháp

Ướt đầm đìa những giấc mơ trong lồng ngực.

 

2/ 9/ 2019

 

ĐÔI LỜI VỀ THƠ LỤC BÁT

Lê Thị Mây

Lê Thị Mây, Tác phẩm chọn lọc, (đã gửi bản thảo đến NXBVH, sẽ in vào quýIV/2019), là tuyển tập thơ chọn lọc. Ở bài viết này (thay lời tựa), tôi chỉ nói riêng về thể lục bát. Lục bát, thể thơ truyền thống khó viết, dễ vấp câu, chữ sáo mòn. Lục bát đông thi, với  nhiều mạch chủ đề ở từng bài thơ, hình thành nên các tập: Ca dao mùa thu, Lục bát đông thi và, trích lục bát từ trường ca Lửa mùa hong áo là những tác phẩm chọn lọc. Đấy một hành trình dài của một đời thơ, mà tôi vốn là một người thơ rất yêu thể thơ lục bát.

Bài thơ Mẹ, bài lục bát đầu tiên, nằm trong chùm thơ gồm: Mẹ, Chiếc nón Trường Sơn, Cát làng tôi...; viết từ trong bom đạn, những năm đầu 1970. Từ bấy giờ cho đến bây giờ, thường, trước trang giấy, tôi không chủ định viết thơ tự do hay thể lục bát. Cảm xúc thế nào ra vần điệu, tạng thức thế ấy. Tuy nhiên, trong quá trình viết, trải nghiệm “kỷ năng” thể loại hình thành dần, thành nếp rung tình cảm của trái tim.

Ở tập thơ Giấc mơ thiếu phụ, nhà xuất bản quân đội nhân dân, 1996, gồm nguyên tập thơ Một mình, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1990 và có thêm trên dưới 20 bài lục bát bổ sung. Đầu sách này nhà văn Nguyễn Bình Phương biên tập, có lẽ anh cũng có nhiều ngạc nhiên về mạch thơ “Một Mình” cùng với 20 bài lục bát hình thành nên tập thơ “Giấc mơ thiếu phụ”. Khi làm tuyển Thơ và Trường ca tuyển tập, NXBHNV, 2017, tôi ghép tên của hai tập thơ thành: "Một Mình và giấc mơ thiếu phụ”. Mạch thơ lục bát của tôi thường thiên về tình cảm, sâu về tình mẹ, tình lứa đôi tôi viết ở Huế, vào những ngày tháng khóc mẹ; một mạch cảm xúc phân thân, từ tình mẫu tử, liên tưởng cảm hứng “làm dâu” dẫn dắt, bồi đắp sự thiếu vắng mẹ ngóng chờ đầu ngõ.


Mẹ già như chuối ba hương

Thơm xôi nếp mật thơm đường mía lau

Lời xưa thương suốt mai sau

Tóc tiên mẹ chải trắng màu nước non
 

     (Mẹ)

Trong trời đất có bao nhiêu tuổi phúc

Lời mẹ lay ngọn cỏ đổi heo may

Tấm khăn xô che mặt mỗi ngày

Tóc con chải rối hồn trên răng lược

 

Miếng trầu cay bát canh bầu còn ngọ

Chỗ mẹ ngồi bậu cửa mẹ đứng lên

Chân giường xô lệch gối đêm

Áo mẹ gặt phơi một dây gió thổi

 

Mẹ hỡi mẹ cây sứ vàng hoe nắng

Con nhặt hoa lời mẹ những vun trồng

Đã ba năm không thao áo đổi hồng

Giờ sững lại giao thừa cay khói pháo

 

Bao nỗi nhớ riêng trên đời nhớ mẹ

Con như cây bứt lá trải mùa đông
 

     (Nhớ mẹ)

Bông lau thắp nén u hoài

Trà Am mỏ đổ sương ngoài dặm thông

Viếng cha hương khói tự lòng

Gộc trầm mưa nắng đục trong bên trời

Suối xa vàng dưới chân đồi

ặt trời hoe đỏ một đời khóc cha

 

     (Chiều thăm mộ cha)

Trở mùa mưa gió sau lưng

Rừng thông nhòe bóng trập trùng thiên thu

 

Một năm là một tháng tư

Vành tang cuộn cả sương mù quanh năm

 

Ngự Bình núi cũng động tâm

Trước tròn sau méo cùng trăng lệ ròng

 

     (Bên mộ cha)

Thơ lục bát cho tình yêu lứa đôi có các bài: Trăng cây rơm, Ca dao mùa thu, Đám cỏ xanh, Bữa cơm, Vết thương, Em đến có muộn không, Từ thương đến nhớ, Cây hoa gạo,  Mời cày, Nắng chiêm, Trăng non đầu ngõ, Người đi qua phố...

 

Ruộng người cuốc bẫm cày sâu

Một đôi đon mạ thắt bầu lưng ong

 

Ruộng em lo cưới chửa xong

Một bồ thóc giống một nong con tằm

 

Trai làng áo lính về thăm

Cây rơm treo một khuôn rằm cầu hôn.

 

       (Trăng cây rơm)

Ta chơi với cỏ chiều nay

Khóc đàn châu chấu vội bay về trời

 

Nhờ trăng tìm cỏ hoa tai

Duyên ta đeo cỏ đi hài lá sen

 

Xé mây một giải thắt lưng

ió bay hoa lý rưng rưng nhớ người

 

Buồm đem ra ngõ ta phơi

Cho người nhìn thấy đôi lời người quên.

 

(Ca dao mùa thu)

Thơ lục bát trữ tình công dân: Cát làng tôi, Chiếc nón Trường Sơn, Tiếng cười, Trước mộ chị Út Tịch, Bùn non mũi đước, Vượt sông Ta Lê, Thương nhớ một ngày, Về đề (II), Nôi tre. Bài thơ Nôi tre,... được nhạc sĩ phổ nhạc về chủ đề tình yêu biển đảo.

 

Trăng tròn ru với nôi tre

Tuổi thơ tựa giọt nắng hè xa xôi

Đêm mưa bà ủ tiếng cười

Ầu ơ Thánh Gióng cũng nôi tre làng

 

Quả cà bốn phía nhân gian

Giặc xong mấy trận gian nan bạc đầu

Tao ru lời mẹ còn đau

Vết thương lành đất mai sau tạc lòng

 

Quê nghèo thiếu chiếu thừa nong

Mẹ già ủ trấu sao chong ngọn đèn

Tao ru chạm lối người quen

Đến thì lúa trỗ đất phèn còn chua

 

Ầu ơ sấm khản cơn mưa

au về tưới đất mát trưa bóng tròn

Lòng người yêu cỏ cỏ non

Bà ru từ thuở mẹ còn ấu thơ

 

Mẹ ru ẵm nựng giấc mơ

Tuổi trai vỡ giọng cậy nhờ nôi tre

Bây giờ áo lính xa quê

Tao ru chạm đến chân đê nhớ làng

 

      (Nôi tre)

Ở trường ca Lửa mùa hong áo, 2003, trong 17 chương có chương thể lục bát: chương 12 -  Thư. Chương 16 - Chị ơi. Và nhiều khúc, đoạn xen giữa các: Chương 7 - Giấc mơ ban ngày. Chương 8 - Lửa phà miền Trung. Chương 13 -Đếm bom. Chương 15 - Tóc... Vốn đang mạch thể tự do, bật sang lục bát rất tự nhiên. Đấy là tạng thức cảm xúc thốt lên tự lòng được ủ muồi hàng chục năm trước. Từ ngày còn ở rừng Lim, tự ngày cầm được lệnh nhập quân đi Thanh niên xung phong. Đúng là vậy. Một hành trình thơ, chi tiết đầy ắp, thanh vận dư dật, biến dịch, ẩn phép nhiệm mầu của hiện thực trên các nẻo đường Trường Sơn, theo dấu chân, dấu gậy người lính.

Trang thơ lục bát tuyển chọn, chính tôi cũng rất ngạc nhiên về mạch sâu, nội tâm tình cảm của bản thân. Với chùm thơ lục bát đầu đời và các chùm thơ lục bát khác viết thời ở Quảng Bình, cùng các bài thơ Chiều thăm mộ cha, Nhớ mẹ.., là mạch cảm xúc thể lục bát ảnh hưởng lời ru của mẹ, của dì và hồn bảng lảng của ca dao tục ngữ lưu truyền trong đời sống dân gian ngấm vào tình cảm tự tuổi nhỏ. Thời chưa ra khỏi nách áo mẹ, chưa có linh tính về con đường thơ dẫn dụ số phận. Rồi có một giây khắc, tôi chợt giật mình hiểu ra, cái mạch ngầm lục bát ấy cũng đã có chút hơi hướng ảnh hưởng lục bát Nguyễn Du, do mê Truyện Kiều. Thời ở xứ núi Rừng Lim huyện Bố tôi đã có ý thức tập tễnh viết lục bát. Cảm xúc này hệt những giọt nước rơi từ mái tranh, tôi hứng ngấm vào hồn như một cung trầm, kéo vệt dấu lặng của giàn giao hưởng các thể loại thơ: thơ lục bát, thơ tự do, thơ văn xuôi. Có đồng nghiệp thơ nhận xét: “ Theo tôi, chưa ngọt trong lục bát nhưng với thể tự do Lê Thị Mây thoải mái biến hóa”. Có thể có phần thế thật. Nhưng không vì thế mà mạch thơ lục bát của tôi đuối! Với tôi lục bát là mạch chìm, một trữ lượng chìm.

 Trong giàn đồng ca lục bát hiện nay có nhiều nhà thơ gặt hái được thành công. Nhà thơ Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ, nhà thơ Anh Chi. Các nhà thơ quê hương Bình Trị Thiên: nhà thơ Xuân Hoàng, Hải Bằng, Hải Kỳ... Các anh là những cây lục bát tâm huyết. Về tứ và hồn lục bát ở mỗi tác phẩm của các anh đã gieo nhiều dư vang vào lòng bạn đọc yêu mến thể thơ này. Nhà thơ Anh Chi có hai câu lục bát “rất yêu” trong bài Thuyền than lại đậu bến Than:

Con sào cảm động cong cong

Cũng vít vổng và cũng mong lên bờ

 Tôi nhớ, nhà thơ Anh Chi đã từng nói với bạn thơ trong lớp (lớp Viết văn khóaI, Khoa viết văn Nguyễn Du),  đại ý, mà tôi hiểu, luận thêm: Viết mới lục bát, phải mới từ  từ tâm, khơi lẩy cảm xúc. Mới ở chỗ gợi cho độc giả nghĩ qua chi tiết, văn cảnh, để câu lục bát không bị trôi tuột. Thơ lục bát của nhà thơ Anh Chi thoạt đọc: ngỡ “trúc trắc”, lạ, mà cuốn hút. Chi tiết thơ gấp nếp vào cảm xúc, khó trôi tuột. Đấy là một sự đổi mới, làm mới lục bát, luyện tự tâm, rất ý thức về cách diễn đạt chủ đề của tứ thơ ứng ngữ cảnh, đời sống hiện thực, ẩn thân phận nhân trữ tình. “Con sào cảm động cong cong?/ Cũng vít vổng và cũng mong lên bờ” là chi tiết, được nhân cách hóa “Con sào cảm động cong cong” là ngôn ngữ thơ mang lời của trái tim tác giả. Tôi thiển nghĩ vậy.

 Các thế hệ nhà thơ lão thành, đếm đầy hai bàn tay  giọng lục bát tôi yêu mến, ngưỡng mộ, thuộc nhiều bài từ thời trẻ. Chất giọng lục bát Tảng Đà, Tố Hũu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Bính, chị Xuân Quỳnh... Riêng chất giọng lục bát của Bùi Giáng, cảm được cái hay, khó bình giải hay thế nào, đúng với khí chất tiên sinh? Tiếc, tôi chỉ được đọc thơ Bùi Giáng thoảng hoặc in trên các báo.

Tôi  ngưỡng mộ các thi sĩ nhiều thế hệ đã viết thể thơ lục bát thành công và tin thể thơ lục bát trường tồn trong hành trình ngôn ngữ của dân tộc. Tôi cũng nuôi mơ ước, hy vọng có đóng góp nhỏ trong thể lục bát, dễ làm mà khó hay. Trong vỉa mạch thơ lục bát được tuyển chọn có một vệt thơ lục bát, mỗi bài chỉc 14 câu. Điều này dù sao cũng là một điều vui. Nó là vỉa chìm, trữ lượng chìm, tôi nghĩ và tin vậy.

Mạch lục bát, mỗi bài chỉ 14 câu, là bởi tôi yêu thể sonne, thơ 14 của Wilam Shakespare. Từ yêu kịch và thể thơ sonne của Wilam Shakespare, qua ngẩm ngợi, về bố cục, thể thức 14 câu: gồm 3 khổ 4 câu và 2 câu kết là bố cục, Câu 7 hoặc 8 chữ. hoặc có thể 9 chữ. Thể thức hợp lý mà quyến rủ của sonne, tôi đâm ra “nghiền” lúc nào không hay. Khổ 1: mở đề. Khổ 2 và 3: luận. Và 2 câu cuối kết tứ. đấy là nói thế, chứ thực ra khi viết, tức “lao động cảm xúc” khó nói trước được gì. Nó là tầng số rung của trái tim, chứ không phải là nhịp điệu, vần thức lắp ghép câu chữ.

Ơn nghĩa bao giờ cũng nặng lòng và khó thốt thành lời. Các cụ xưa đã dạy vậy. Con đường thơ dài dặc, tôi chưa dám buông bút ngưng nghỉ, bởi luôn mong mỏi, qua mỗi tác phẩm tuyển thơ lục bát này, trước là đền đáp phúc sinh thành của phụ thân và mẫu thân. Sau bái vọng đến nhiều ân nhân, ân nghĩa suốt dọc đường đời cho bóng mát, lòng tự tin cuộc sống và thi ca. (1) .

Hà nội 25/1/2016-5-2019

(1)Bác C.K.T. người viết thư tay gởi cho nhà thơ Xuân Hoàng, thuyết phục ông nhận tôi về Hội Văn Tỉnh. Nhà văn hóa học N.T.. Thầy Hiệu trưởng Trường Y sĩ Quảng Bình Nguyễn Thông, thầy Hiệu phó Hoàng Văn Hưởng, quê cát Bảo Ninh... vào năm Mậu Thìn ấy (1968) là những bậc ân nhân cho con đường nghiệp văn của riêng tôi có một bước ngoặc, chuyển một bước trưởng thành hướng tới sự thành đặt của hôm nay và tương lai còn ở trước mặt.

 

Cây bút dẫn đường

 Tạp văn

Tôi vẫn giữ nếp viết nháp bằng bút mực. Viết nháp trên trang giấy trắng trong đêm khuya vắng, thi thoảng nghe tiếng gà gáy từng canh cho đến khi trời rạng đất, rạng mặt lá ngoài vườn, lòng đầy hưng phấn. Nếp lao động văn nghiệp này được hình thành từ trang ghi chép trong ánh đèn phòng không thủa ở Trường Y sĩ Quảng Bình. Hòa bình, thay đèn phòng không, tôi thắp cây đèn chai Hoa Kỳ hoặc cây đèn sáp nhỏ. Bút thay từ bút máy Trường Sơn, suốt nhiều năm tháng ở Quảng Bình sang bút bi thời ở Huế. Trong túi xách luôn có một cây bút hơi sang một chút để viết và ký tặng sách. Khi có máy chữ, bản nháp, tức bài thơ, bài bút ký và cả trang truyện, dù truyện dài năm bảy chục trang nháp tôi cũng viết tay tương đối hoàn chỉnh mới bắt đầu đánh máy thành chùm, thành tệp, thành tập bản thảo sạch sẽ. Lúc ấy, hé ra dự định gửi đến một nhà xuất bản nào đó, nếu có cơ hội in sách.

Thời nay có hàng chục thứ bút từ bình dân đến bút hạng sang. Tuy nhiên trong ký ức tôi cây bút cán gỗ ngày học lớp vỡ lòng luôn nhắc nhớ, hiện ra như một gương mặt của chính tôi phân thân rất hài. Tôi tự nhận tôi có hai gương mặt. Mỗi gương mặt gắn với một kỷ niệm học hành lem mực. Khi trưởng thành với chữ nghĩa, đi thâm nhập thực tế sáng tác cũng vậy. Tôi hình dung nhập thân vào hiện thực cuộc sống. Một số phận bất chợt được trò chuyện, hỏi han, lắng nghe họ. Một gương mặt, ánh mắt thoáng bắt gặp, gửi một tính hiệu hỏi han, tò mò. Ba bốn bút danh của nghiệp báo, nghiệp văn, bút danh LTM khởi nên một dòng chảy chính. LTM, là bút danh của một gương mặt ít son phấn, lao động cần cù.

*

Tôi leo núi với bậc cấp đầu tiên là một bài báo, được Báo Quảng Bình khen, biểu dương vào dịp tổng kết cuối năm (1971) của Báo. Đấy là bài báo tôi viết về em Hoàng Hiếu Nhân đoạt Giải thưởng Giỏi văn Quốc gia cùng với nhà thơ Trần Đăng Khoa. Tôi quan niệm, bất kỳ giải thưởng nào, trước tiên đấy là sự ghi nhận, đánh giá của một tổ chức ban giám khảo, cộng hưởng hồi âm bạn đọc. Đấy là một vinh dự lớn.

Tôi chợt nhớ câu chuyện thầy giáo của Hoàng Hiếu Nhân. Anh người cùng làng. Thi thoảng qua đò Mẹ Suốt anh cười chào hiền khô. Anh là là một thầy giáo trẻ, mẫu mực. Sau bài viết của tôi in trên báo Quảng Bình anh kể với một giọng khiêm tốn: “Bài văn của em Hoàng Hiếu Nhân, rất xứng đáng được giải cao cùng với Trần Đăng Khoa”.  “Giải nhất giỏi văn toàn quốc thần đồng thơ đoạt Nhất, em Hoàng Hiếu Nhân nhận giải nhì. Thần đồng thơ Trần Đăng Khoa danh tiếng lừng lẫy đoạt Giải nhất, vinh dự cho cả nước.”. Ngồi lặng một chút rồi anh nói thêm: “Thầy trò chúng tôi dạy và học đều rất nỗ lực. Kết quả ấy động viên rất lớn”. Tôi hỏi anh đôi chút về giáo trình dạy văn của anh. Nghe anh nói, với giọng quê cát đầy thuyết phục, nhưng không hiểu sao tôi buồn về việc học văn, theo kiểu học “bài tủ”. Tôi thở dài và buồn mãi.

Hoàng Hiếu Nhân lúc ấy cũng là một cây thơ nhỏ tuổi, xuất sắc của Quảng Bình. Chị gái của Hoàng Hiếu Nhân, chị Lệ Thi cũng giáo viên, tâm huyết với thơ, có thơ in trên tập san văn nghệ Quảng Bình.

Câu chuyện đã qua nửa thế kỷ. Trần Đăng Khoa sắp qua tuổi tri thiên mệnh, hẳn biết được nhiều chuyện cõi đời. Còn Hoàng Hiếu Nhân đã về cõi trời, từ cõi trời hẳn nhìn thấu được cõi thiên hạ đang phóng bút. ấy là tôi tưởng tượng mơ âm dương cân bằng, tránh những phiền toái từ bên ngoài dội đến. Xin thần đồng thơ và xin bái người cõi tiên lượng thứ. Tiếc là tôi đọc được quá ít thơ của Hoàng Hiếu Nhân. Không biết trong bấy nhiêu năm tháng trưởng thành Hoàng Hiếu Nhân đã kịp đến với bạn đọc tập thơ nào chưa? Thầy giáo của Hoàng Hiếu Nhân khi nhập tỉnh Bình Trị Thiên, anh được điều vào dạy chuyên văn trường Quốc học Huế.

Tôi nhớ nằm lòng ý thơ: căm thù giặc Mỹ đem bom gây tội ác, dấu chân chúng cần phải xúc ngay, đổ đi, cho sạch làu bóng quân xâm lược (ý thơ trong một bài thơ của Trần Đăng Khoa). Những ngày trong bom đạn khốc liệt, tôi đọc thơ của Trần Đăng Khoa trên báo Thiếu niên, hoặc báo Văn nghệ Trung ương, không dám tin sẽ có ngày được làm quen, trở nên thân, quý. Khi biết Trần Đăng Khoa vừa đi tu nghiệp dài hạn ở Nga về, trở thành cây bút, thành viên trẻ của tạp chí Văn nghệ quân đội, tôi gửi ra vài mươi cuốn thơ Du Ca cây lựu tình. Bạn thơ nào thích thì nhờ tặng, nhờ đọc cho vui. Mãi vài năm sau tôi nhận được hồi âm từ bạn yêu thơ 4 Lý Nam Đế, rằng bài viết của người viết giới thiệu tập sách nhạt. Tôi nhìn vòi vọi từ trời xanh vẫn màu xanh Quảng Trị ra Thủ đô mà im lặng, tự  biết, yêu hơn Du ca cây lựu tình. Một tập thơ, khổ lửng, chỉ ba câu, không dễ được bạn độc chấp nhận.

Trong một lần đến địa chỉ thiêng 4 Lý Nam Đế nhà văn Trung Trung Đỉnh hồ hởi nói : “Trần Đăng Khoa đồng ý cho Mây mượn chiếc máy chữ mang từ Nga về. Khoa đã có giàn máy tính rất xịn”. Tôi ngạc nhiên tưởng TTĐ đùa. Hóa ra thật. ít lâu sau Trung Trung Đỉnh lại nói: “ Trần Đăng Khoa tặng Mây đấy”. Tôi quý Trung Trung Đỉnh từ chất vui hài rất lính. “Tớ không đùa đến nhà Khoa mà xách máy về”.

Chiếc máy chữ của Trần Đăng Khoa mới, rất xinh xắn. Cuộn ruybăng nửa đỏ nửa đen, cùng với cả giấy than. Có giấy than có thể cùng một lúc có được hai bản. Một bản giữ gốc. Một bản gửi đến một báo nào đó. Thời ấy, cơ quan tôi đang sắp có có giàn vi tính, chỉ để đánh máy văn bản công vụ. Chiếc máy xinh tôi không mang về nhà mà ở phòng làm việc. Có máy chữ, đầu tiên tôi đánh máy các bài thơ vừa viết trong các chiến đi công tác: Cánh Đồng Nam Bộ, Những điệu múa bên sông Hàn, Mở đường La Lay, Anh Hùng Núp... tay lướt trên bàn phím nhẹ tênh. Hàng chục năm nay tôi vẫn giữ nếp viết bằng bút mực ở bản nháp đầu tiên, sau mới đánh máy từng bài. Chùm thơ trên, có bài tôi phá lệ một chút, đánh máy trực tiếp trên máy chữ. Các truyện ngắn thì không phá lệ được. Phải viết nháp lần một bằng bút mực đã... Hóa ra cũng vui, có những bài thơ phá lệ, viết trên máy chữ này sau được chọn đưa vào tập Thương nhớ một ngày, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, 2006, không phải khô cứng, thiếu cảm xúc. Nhưng cũng chỉ phá lệ một chút thôi, rồi trở về nếp bút mực, viết trang nháp đầu tiên của mỗi tác phẩm. Và chiếc máy chữ xinh xắn đã giúp tôi đánh máy hoàn chỉnh các truyện ngắn: Đứa con tìm về quê nội, Lá bùa... tôi lướt nhẹ mười ngón trên bàn phím. Cám ơn máy và chủ máy Trần Đăng Khoa nhé. Bấy giờ Trần Đăng Khoa sắp làm chú rễ và tôi thì đã làm cô dâu xứ Quảng.

Bài thơ Anh hùng Núp là một bài thơ được vùi cảm xúc rất sâu. Sau hai mươi năm. Bấy giờ tôi có mặt trong đoàn nhà văn miền Trung đi thực tế sáng tác lên đất Tây Nguyên. Tây Nguyên là miền quê ruột của nhà văn Trung Trung Đỉnh. Chiếc máy chữ của Trần Đăng Khoa kết nối bộ ba chúng tôi thành bộ “ba ngự lâm pháo thủ bắn chữ”. Trần Đăng Khoa với Đảo Chìm, Trung Trung Đỉnh với Lính Trận. Năm ngoái Trung Trung Đỉnh vừa xuất binh một trường ca về Đá Đồng Văn. Tôi với Thơ và Trường ca tuyển tập” đủ mặt ba binh chủng, kết hợp đồng kể cũng rôm với văn ghiệp. Gương mặt nắng gió, rất ba zan của TTĐ buột gợi tôi nhớ đốm lửa nơi điếu thuốc của Anh hùng Núp, trong đêm múa cuồng chiêng của buông làng ông đốt lửa trại đón tiếp đoàn nhà văn về thăm. Bài thơ về Anh hung Núp được ủ muồi cảm xúc từ chuyến đi thực tế sáng tác cùng các đồng nghiệp của đoàn nhà văn miền Trung trong đó có tôi lại được tôi viết giữa lòng Thủ đô, ở tầng 2, tòa biệt thự 49 Phan Đình Phùng, vào giờ nghỉ trưa. Viết nháp đến câu thơ cuối cùng, tôi vội đánh máy trực tiếp lên chiếc máy chữ, ruybăng và giấy than mới. Mặt chữ giấu một niềm hân hoan mà sâu lắng cảm xúc.

 

Anh Hùng Núp

 

Không gì ngoài đốm sáng

Nơi tẩu thuốc của ông - Anh hùng Núp

Nơi tẩu thuốc của ông bập bùng niềm khoái cảm

 

Lần ấy về thăm Tây Nguyên nơi ông sinh ra

Buông mẹ nêm chặt tiếng chiêng

Buông mẹ nêm chặt tiếng đàn đá

Buông mẹ nêm chặt bếp lửa nêm chặt đuốc

Buông mẹ nêm chặt vòng tay trong vòng tay

 

Hai mươi năm sau còn mãi trong ký ức

Đốm lửa - tẩu thuốc Anh hùng núp vẫn lập lòe bổi hổi

Không thể nào lụi tàn không thể nào đánh đổi

Núi rừng tin ông đi suốt thế kỷ hai mươi

Tẩu thuốc rít cơn giông một thời gian khổ

Râu tóc ông thanh khiết cả phần đời

Tim ông đập nhịp đại bàng nhớ tổ

 

Tôi không thể đi ra khỏi những vòng tay và lửa

Sử sách ghi đủ hết tháng ngày

Riêng chỉ thiếu tạc vào lưng thác đổ

Quầng sáng vượt thời gian tôn vinh anh hùng Núp

Trọn thế kỷ dài ông chưa rời dốc thác lõm dấu gậy Trường Sơn

Ông vượt qua đêm lạnh vượt qua họng súng kẻ thù bằng niềm tin phía trước có Bác Hồ...

 

Vào kỳ Nhà Bảo tàng của Hội Nhà văn khánh thành, tôi nhờ em Kh. cán bộ văn phòng Hội chuyển cho Bảo tàng chiếc máy chữ Trần Đăng Khoa mang về từ Nga, vì nghĩ Trần Đăng Khoa đã dùng chiếc máy chữ này đánh máy nhiều bài thơ, làm luận văn tốt nghiệp ở xứ tuyết. Những bài thơ ấy, có phải là: Qua Bôrôđinô, Đêm Nga, Trăng Matxcơva... Hoặc có thể Trần Đăng Khoa đã viết luận văn trên máy chữ bằng tiếng Việt sau mới tự chuyển sang tiếng Nga. Tôi hình dung vậy!

*

Trong một lần gặp, Trần Đăng Khoa tặng tôi Đảo Chìm. Tôi đọc ngay trong đêm vào có bài viết giới thiệu Đảo chìm trên Báo điện tử Đảng Cộng sản. Bấy giờ anh Đào Duy Quát Tổng biên tập, nhà thơ Vũ Duy Thông làm Phó Tổng biên tập, kiêm Trưởng Ban văn hóa, nhà văn Thu Hiên làm Phó Trưởng ban Văn nghệ. Tiếc rằng tôi không lưu cất được bài viết giới thiệu Đảo chìm trên máy vi tính, xem như mất trắng. Có lẽ Trần Đăng Khoa cũng chưa đọc bài này của tôi. Tôi rất lúng túng khi Trần Đăng Khoa tặng tôi tập sách thứ hai, chân dung và đối thoại (tái bản). Một cuốn sách gây dư luận sôi nổi, nhiều chiều trên văn đàn trong một thời gian dài. Vậy thần đồng thơ Trần Đăng Khoa múa được hai ba tay: Thơ, văn, và bình luận đều rất hoành tráng. 

Còn tôi chỉ nương vào cây bút cán gỗ, từ trang nháp đầu tiên. Cây bút cán gỗ ấy anh trai tôi, anh P.H. cho, lúc tôi bắt đầu vào học lớp một. Tôi vào học lớp một đã lớn tướng, chín tuổi. Anh bảo: “lưỡi bút hơi cùn, nhưng em viết chữ to mực đậm lại được em ạ. Em gắng tập viết chữ cho đẹp. Anh sẽ kiểm tra hàng ngày. Vào một buổi tối, mẹ nhìn tôi lần đầu tiên viết tên mình vào nhãn vở lớp một, mẹ cười xoa đầu, rồi lấy lược chải đầu tóc bù xù cho tôi và cả em gái nhỏ. Từ đấy, tôi gọi cây bút cán gỗ là cây bút chín tuổi, tôi giữ mãi. Nó là cây bút dẫn đường cho tôi viết được những trang thơ đầu đời của nghiệp văn. Cũng xem tôi múa một tay, một sở trường thơ. Yêu thơ, không buông bút. Luôn ở trong tâm thế cây bút tuổi học trò quê cát làng Sáo mà mơ đến được với muôn nẻo đường đời.

 12.4.2019

Nguồn tin: Bùi Việt Mỹ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây