Lê Xuân Đức với bốn câu thơ đề từ Ngục trung nhật ký của Bác

Thứ bảy - 30/05/2020 08:44
Trương Sĩ Hùng
Lê Xuân Đức với bốn câu thơ đề từ Ngục trung nhật ký của Bác

 

 

Tìm và hiểu thơ Hồ Chí Minh là một nhu cầu đòi hỏi nội tâm của mỗi người Việt Nam, bởi Người không chỉ là lãnh tụ cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, mà sinh thời Người còn là một nhà thơ lớn. “Một Con Người gồm kim cổ Tây Đông / Giầu quốc tế đậm Việt Nam từng nét” như Xuân Thủy đã từng ca ngợi. Dùng danh từ riêng để gọi tính danh Hồ Chí Minh là theo nguyên tắc ngữ pháp tiếng Việt, theo quy ước sư phạm. Song, người Việt Nam dường như muốn giữ lại ở Người một danh từ chung gắn với thuộc tính họ tộc, gắn với một cụm từ ghép thể hiện danh xưng, vừa gần gũi vừa thực nghĩa với quán ngữ phổ biến của người Việt, nên ai cũng muốn gọi Người là Bác Hồ. Nhằm thử nghiệm sức mình, Lê Xuân Đức đã dành hơn ba mươi năm viết, suy ngẫm và bình phẩm về thơ văn Bác Hồ.

Thời gian đã trải dài như thế nhưng chưa khi nào người đọc thấy anh bộc lộ một chút uể oải hoặc dễ dãi với chính mình. Đã từng trải nghiệp nhà giáo, giảng dạy, phân tích, đánh giá, ghi nhận những giá trị thẩm mỹ từ thơ Bác; đã từng trải công tác xã hội trên lĩnh vực văn hóa xã hội khi anh là đại biểu quốc hội (khóa VIII); nên thơ văn Hồ Chí Minh đã trở thành nguồn nguyên liệu vô tận, luôn thường trực trong trái tim khối óc Lê Xuân Đức. Nguồn nguyên liệu ấy có phép màu thần diệu, tự đốt cháy mình rạo rực, rồi lại tự hồi sinh để tạo ra động lực khiến anh định hướng vươn tới và vững bước đi xa; đi xa có chuẩn mực và hướng tới có mục đích, giúp người đọc ở mọi tầng lớp giai cấp, mọi lứa tuổi, mọi thế hệ đã, đang và sẽ tiếp nhận những di sản văn hóa tinh thần vô giá về tư tưởng sáng tạo cách mạng, sáng ngời về đạo đức làm người của chủ tịch Hồ Chí Minh trong thế kỷ XX.

Cũng như một số nhà nghiên cứu lý luận nhận thức trước đây, đến lượt anh viết lời bình bốn câu thơ đề từ trên bìa bản gốc Ngục trung nhật ký (ẩitẰ11111 fB) của Bác:

Thân thể tại ngục trung

Tinh thần tại ngục ngoại

Dục thành đại sự nghiệp

Tinh thần cánh yếu đại

 

Lê Xuân Đức viết: “Có lẽ bốn câu thơ này Bác Hồ coi như lời đề từ cho tập thơ. Bốn câu thơ không đánh số như các bài thơ khác trong tập thơ và cũng không có đầu đề. Nhà xuất bản Văn hóa xuất bản lần đầu tiên (1960) tập thơ Ngục trung nhật ký đã lấy đầu đề tập thơ làm đầu đề bài thơ. Nhà xuất bản Văn học in Ngục trung nhật ký lần thứ ba (1983) đã theo nguyên bản không có đầu đề.

     Bốn câu thơ có ý nghĩa đề từ mang tinh thần cảm hứng của cả tập thơ.

Bài thơ bốn câu, mỗi câu năm từ, lời ít mà ý nhiều.” [1]

Đe rút ra những cảm nhận của riêng mình, khi viết lời bình bốn câu thơ đề từ của Hồ Chí Minh, tác giả tiến hành chia nhận xét của mình làm ba ý nhỏ:

1- Hai câu thơ đầu “xuất phát từ đối sự thật đối ngược, cái cách ngăn, phân chia ngục trung và ngục ngoại, thân thế và tinh thần” trong “một hoàn cảnh, một con người. Hoàn cảnh thì đen tối nặng nề. Con người thì muốn thoát hoàn cảnh, vượt tình thế.” Và: “Hai mối quan hệ được đặt ra từ hai câu thơ: quan hệ giữa nhà tù và người tù; quan hệ giữa thân thế và tinh thần trong bản thân người tù (...) về bề ngoài, về danh nghĩa, người tù đã bị tù, nhưng chỉ là bị tù thân thể, còn thực chất người tù đã vượt tù. Kiểu vượt tù tinh thần ấy, Ngục trung nhật ký có nhiều.

Người bị tù nhưng chính người tù ấy lại tự giải phóng tinh thần mình khỏi nhà tù. Tinh thần người tù vẫn tự do, không giam hãm được. Bác Hồ của chúng ta là thế. Các chiến sĩ cách mạng do người đào luyện cũng thế.” Dần chứng của tác giả chỉ nêu ba nhà thơ chiến sĩ điển hình là Hoàng Văn Thụ, Xuân Thủy và Tố Hữu - những người được Hồ Chí Minh trực tiếp huấn luyện và đào tạo.

  1. Bị Quốc dân Đảng Trung Quốc bắt giam, nhưng “cái đầu tiên Bác quan tâm không phải là nhà tù. Lao lung, đày đọa đang ập đến, Bác không hề để ý. Cái choán hết tâm trí Bác là đại sự nghiệp.”
  2. Đúng ra tác giả phải chuyển dịch ý (3) ở trang sau lên trước câu này: “Bốn câu thơ như đúc thành một khối chắc nịch, một phương châm hành động, một ứng xử vạn năng, một tuyên ngôn. Lời ít, ý rõ, dõng dạc dứt khoát, vần trắc với ba thanh trắc, đặc biệt là ba dấu nặng ( ngoại ỹl" , nghiệp n, đại ýz) ở ba câu thơ 2, 3, 4 như chiếc cọc đóng sâu vững chắc. Ở bản dịch tiếng Việt cái thế này bị đảo ngược trở lên thanh thoát nhẹ nhàng bởi vần bằng với ba thanh bằng cao không dấu (lao, lao, cao) và một thanh trắc cao dấu sắc (lớn).” Với tầm văn hóa sâu rộng thì viết như thế là tiệm cận ngôn từ. Song nếu để cho bài viết có đối tượng bạn đọc rộng hơn là học sinh phổ thông trung học chẳng hạn, khi các em chưa được trang bị kiến thức ngôn ngữ học đại cương và thể loại văn học thì bốn từ tác giả chú thích trong ngoặc đơn nên viết rõ hơn. Có thể là: (1 - lao trong “ở trong lao”, 2 - lao trong “ở ngoài lao”, cao trong “càng phải cao”) và (lớn trong “càng phải cao”). Câu văn dài hơn một chút, nhưng người đọc dễ nắm bắt ý tưởng phân tích của Lê Xuân Đức được nhanh hơn, mạch lạc hơn. Cuối đoạn văn nói về ý thứ ba này, tác giả có dẫn một ý kiến ngắn: “Phan Nhuận khi dịch bài thơ ra tiếng Pháp, đã phải dịch bằng 13 cách mà chẳng cách nào vừa lòng cả. Ông có cảm nghĩ, bài thơ đó đáng khắc vào bia đá.”

Hơn hai trang sau vẫn là dẫn chứng cho sự rèn luyện ý chí của người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc. Ở đây tác giả muốn nêu một nhân vật dạng anh hùng hảo hán của thế kỷ XVIII - Nguyễn Hữu Cầu “Phá vòng vây làm bạn với kim ô / Giang sơn khách diệp chi hồ”, có thể tạm hiểu nghĩa là:

Cung kiếm tung hoành với núi sông Giang sơn ai biết chỉ anh hùng.

Hình ảnh người hùng xưa ấy trong thơ, đúng là còn mang đậm dấu ấn hiệp sĩ thời cận đại Á đông. Sử dụng tư liệu bổ trợ này, tác giả Lê Xuân Đức ngầm có ý so sánh hào khí câu thơ của hai tác giả sống ở hai thế kỷ khác nhau; song rõ ràng là ngôn từ, câu chữ thơ Hồ Chí Minh chứa đựng một phong cách khác, một cái nhìn biện chứng, lạc quan hơn nhiều, bởi nhân sinh quan cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc đang cần có một người dẫn dắt vào những năm đầu thế kỷ XX. Người đó không phải ai khác, chính Người là Hồ Chí Minh mà sứ mệnh lịch sử dân tộc đã trao gửi.

Báo Nhân dân ngày 21 tháng lnăm 1962, đăng bài của Axtơrôginđô Pêrêira - Tổng bí thư Đảng cộng sản Braxin - người đồng tuế (1890) với chủ tịch Hồ Chí Minh có viết: “Lịch sử đã xác nhận những lý do lạc quan, tin tưởng và hy vọng của nhà thơ hoàn toàn đúng. Năm 1944 (?) nhà thơ thoát khỏi nhà tù và lại về nước. Và từ đó, người chiến sĩ cộng sản, vị lãnh tụ của Đảng, vị chỉ huy các đội quân cách mạng đã lấy gươm thay cho cây bút. Nhưng nhà thơ đâu có vì thế mà mờ đi, trái lại, tác giả sắp viết lên bài thơ đẹp nhất của mình, một bản hùng ca, một bài thơ sống. Con người hành động, tạo nên bản hùng ca giải phóng nhân dân.”

Roger Denux, tác giả người Pháp, trong bài đăng tạp chí Europe, số 458, tháng 6 năm 1967 cũng ghi nhận: “Dù có phân tích cho đầy đủ, cho khéo léo đến mấy đi chăng nữa, cũng không làm nổi bật lên được hồn thơ. Bóc cánh hoa hồng ra, dù cho nhẹ tay đến đâu, cũng chưa dễ đã tìm thấy bí quyết hương thơm của nó. Thưởng thức một bài thơ khác nào ngửi một bông hoa. Thơ đúng là thơ thì nói lên một cái gì và không nói dối; nó ít cần đến bình luận. Xuất phát từ tâm hồn và đi thẳng vào tâm hồn. Thơ cụ Hồ Chí Minh chẳng nhờ vả gì đến kỹ thuật vận dụng các lối phiêu dương, hô hào, hùng biện, thóa mạ. Gắn chặt với bản tính điềm đạm của nhà thơ, với bóng tối trong xà lim nơi Người viết lên trên giấy màu xanh nhạt, thơ Hồ Chí Minh nói ít mà gợi nhiều” Với góc độ là con cháu của Người, là nhà văn nhà giáo Việt Nam đương đại, Lê Xuân Đức đã nhiều lần, nhiều lần tự giác nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh, cốt sao cùng bạn, giúp trò ngày càng thấm hiểu hơn ý nghĩa sâu xa những vần thơ của Bác Hồ, coi đó là một di sản văn hóa xuất sắc tối thượng trong văn học Việt Nam thế kỷ XX. Đúng như anh đã viết: “Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Ngục trung nhật ký tinh thần tại ngục ngoại lại toát ra từ nhiều bài thơ. Và cũng không phải ngẫu nhiên, trong một tập thơ Bác nói đến 13 lần chữ tự do: tự do nhân, tự do cảnh, tự do nhật, tự do thiên, tự do thì, tự do lãm thưởng v.v...

Tự do đã khiến người tù chủ động vượt tù về tinh thần. Tinh thần người tù ở ngoài nhà tù...

Con người có hoài bão lớn, phấn đấu cho một sự nghiệp lớn phải có tinh thần cao; có tinh thần cao sẽ tạo ra sức mạnh phi thường, sức mạnh cấp số nhân. Đó là chìa khóa tinh thần của vĩ nhân.

Bài thơ đề từ, bài thơ ý chí, bài thơ của tự do, bài thơ của một tinh thần. Tinh thần tại ngục ngoại và Tinh thần cánh yếu đại là cảm hứng chủ đạo của tập thơ.” Nhận định trên của Lê Xuân Đức cũng không phải là chợt hứng hay sáng tạo đặc biệt mà là kết quả cụ thể của một quá trình học tập và tìm hiểu thơ Bác Hồ. Từ giữa những năm đầu của thế kỷ XX, các bậc thầy của anh ở khoa Ngữ văn, đại Tổng Hợp Hà Nội cũng đã có một số giáo trình chuyên đề để dạy cho sinh viên năm thứ tư như Tìm hiểu thơ Hồ Chủ tịch (1974) của giáo sư Hoàng Xuân Nhị đã khẳng định: “Bác với Đảng anh hùng của chúng ta là một, Bác vừa là Con vĩ đại, vừa là “Cha già” vô vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam anh hùng ngày nay (“Cha già”, theo cách nghĩ và cách gọi đặc biệt giàu tình cảm của đồng bào Nam Bộ), đồng thời cũng là một trong những lãnh tụ kính mến, có uy tín nhất của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Thơ Bác rất quý vì lẽ đó.

Điều cần khẳng định, là trong thơ Bác có những bài rất hay, vĩnh viễn đứng ở đỉnh cao của thi ca dân tộc và thi ca nhân loại.

Ví dụ bài thơ ngay ở trang đầu tập Nhật ký trong tù.” [2] Và “lịch sử biến hóa không cùng”, phát triển cách mạng không ngừng, biến cái vô tận của cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc, hiện tượng hùng vĩ, bão táp tốt lành nhất nhất trpng lịch sử loài người, thành cái vô tận hùng vĩ, tuyệt diệu của tâm hồn mình, từ đó mà có sự nỗ lực cống hiến và cống hiến phi thường vì lợi ích cao cả của dân tộc và nhân loại (...) Chúng tôi không phủ nhận cái cao thượng trong quá khứ, nhưng gắn nó rất nghiêm ngặt với nhân dân hoặc với tính nhân dân, và phản đối mọi tư tưởng sùng bái vua chúa, và “anh hùng” kiểu cá nhân “siêu quần”, mọi khuynh hướng duy tâm, tôn giáo hoặc nhiều hoặc ít khi bàn về cái cao thượng (...)

Rõ ràng trong thơ Bác có cái cao thượng, và phạm trù này gắn mật thiết với cái anh hùng, với chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cần nắm tốt lý luận về hai phạm trù ấy và kết hợp chúng với nhau một cách uyển chuyển, tinh vi, có vậy mới hy vọng thấu hiểu, phân tích tốt thơ Bác được.[3] Năm 1979, chuyên đề Chủ tịch Hồ Chỉ Minh nhà thơ lớn của dân tộc[4] của giáo sư Hà Minh Đức được ấn hành. Những ý tưởng của thày trước khi có bản in về thơ Hồ Chí Minh cũng đã được lồng vào các bài giảng lý luận văn học cho rất nhiều thế hệ sinh viên trong đó có anh. Tuy nhiên, do yêu cầu khái quát cao, vấn đề đặt ra rộng như một dạng gợi mở các đề tài nghiên cứu cho sinh viên, nên tác giả không có điểm nhấn đề cập đến bài thơ đề từ.

Có thể lúc Lê Xuân Đức còn là sinh viên khoa Ngữ Văn, trường đại học Tổng Hợp Hà Nội, thì cả hai giáo trình chuyên đề của hai thầy về thơ Hồ Chí Minh chưa in thành sách, nhưng chắc hẳn anh đã được các thầy giảng bài và có thi cử cả. Dĩ nhiên, duyên may trong cuộc đời được làm học trò các thầy đã là quý hóa vô cùng, nhưng khi tung cánh vào đời, đã ổn định nghề nghiệp, nhất là nghề làm báo, viết văn thì không người trò vô lễ nào lại cứ cứ lẳng lặng chép lại sách của thầy để lòe bịp thiên hạ. Hiểu và nắm bắt bản chất lao động sáng tạo nghệ thuật như vậy, Lê Xuân Đức đã lao thân khổ tứ vào công việc “chẻ sợi tóc làm tư” trong nghệ thuật thưởng thức thi ca, đặng tìm cho được một tiếng nói nghệ thuật, nhiều khi quá sức mình.

Trước Lê Xuân Đức cũng đã có hàng trăm bài viết, hàng chục cuốn sách nghiên cứu, học tập và viết về thơ Bác Hồ nói chung và Ngục trung nhật ký nói riêng. Ngắn gọn hơn nữa ở đây là việc tìm hiểu bốn câu thơ đề từ ngay ở bìa bản gốc chữ Hán của tác phẩm. Song thành tựu thực tiễn nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh trong khoảng hơn 50 năm qua cho thấy, không phải bất cứ nhà lý luận phê bình nào khi đặt vấn đề tìm hiểu và học tập thơ Bác, cũng có được những trang viết tâm huyết, xúc tích của mình trước giá trị vô song và tư tưởng vĩ đại của một bài thơ có ý nghĩa chủ đề cho cả tập thơ.

Các tác giả Trần Hữu Thung - Trần Hữu Dinh - Nguyễn Thế Nữu khi sưu tập tư liệu cho công trình Từ điển Ngục trung nhật ký[5]có trích lại ý kiến của giáo sư Lê Trí Viễn và ghi nhận sự đóng góp khá mới của nhà văn Lê Xuân Đức khi nghiên cứu bài thơ trên: “Bản dịch phổ biến hiện nay là bản dịch của Nam Trân, nhưng Lê Trí Viễn cho là chưa đạt: Thử đọc lại bài thơ chữ Hán rồi đọc bài dịch mà nghe. Có phải âm điệu khác nhau khá xa không ? Một bên như có gì khó chịu, bực bội, nếu không thì cũng như đang bị ngăn cản, bó buộc. Đây là bài thơ mở đầu một giai đoạn trớ trêu, đày đọa. Phải thắng cái trớ trêu đày đọa này. Cho nên cả sức mạnh con người dồn vào bên trong. Bài thơ vang ngân mà rất kín. Như rắn lại đúc lại. Phần lớn điều này thể hiện ở vần trắc, mà dấu nặng. Trong khi đó bài dịch dùng vần bằng. Bài thơ thành ra mở, thoáng, chừng nào đó thanh thản. Cái thế bài thoe cơ hồ đổ mất và sức mạnh giảm đi một phần. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với nhận xét của Lê Trí Viễn và Lê Xuân Đức, và cũng dịch lại bài thơ theo gợi ý đó.”

Như vậy, những thành tựu của Lê Xuân Đức trên những chặng đường tìm hiểu thơ Bác Hồ là có đóng góp mới, là tiếng nói khoa học được giới cầm bút quan tâm, vận dụng và thúc đẩy một quá trình sáng tạo mới.

 

Trong thuyết lý của đạo giáo có nói rằng, con người là một tiểu vũ trụ hoàn hảo tinh vi nhất, một khi do khiếm khuyết nét chấm phá nào đó do bẩm sinh, hoặc do tác động ngoại cảnh thì cơ chế tâm lý hoặc các bộ phận vật chất cấu thành cơ thể sẽ bị đau yếu. Các mô sinh sẽ tự biến đổi như cơ chế hoạt động lý hóa học hiện đại nhằm thích ứng với môi trường, tác động với hoàn cảnh nên con người có sự đau yếu, thay đổi tình trạng thể lực. Giữa hai yếu tố đó, yếu tố tinh thần được nuôi dưỡng thường xuyên bằng tác động tâm lý nghiên cứu khoa học có tác dụng quan trọng hơn hẳn.

Nghe nói Lê Xuân Đức đã chuyên tâm hơn vào việc nghiên cứu và học tập thơ Hồ Chí Minh từ năm 60 tuổi đến nay, và thành tựu có nhiều hơn, mà tôi chưa có duyên được tiếp xúc. Giữa độ tuổi “ đà tám mươi” đang vận hành khỏe mạnh với người thầy giáo năm xưa, với hương vị đậm đà của nhà văn từng trải, với tinh thần cách mạng triệt để của nguyên vị đại biểu quốc hội, những mong anh có nhiều đóng góp mới trong việc nghiên cứu, bình luận thơ Hồ Chí Minh.

 

 

[1] Tất cả những câu văn, đoạn văn của Nguyễn Xuân Đức trong bài viết này, đêu trích dẫn từ nguồn: - Lê Xuân Đức, Nhật ky trong tù và những lời bình, Nhà xuât bản Văn học, H, 2013.

[2] Hoàng Xuân Nhị, Tìm hiểu thơ Hồ Chủ tịch, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H, 1975- trang 47.

[3]   Hoàng Xuân Nhị, Tìm hiểu thơ... Sdd - trang 214.

[4]   Hà Minh Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhà thơ lớn của dân tộc, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, H, 1974.

[5] Trần Hữu Thung - Trần Hữu Dinh - Nguyễn Thế Nữu, Từ điển Ngục trung nhật ký, Nhà xuất bản Nghệ An, Vinh, 2007.

Nguồn tin: BVM

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây