CHIẾC KHÈN H’MÔNG

Chủ nhật - 21/02/2021 23:00
Đinh Đức Cần


         
         
 Khi nói tới văn hóa H’Mông ta nhớ ngay tới chiếc khèn. Trong lễ hội, cuộc vui, giao lưu văn hóa, biểu diễn nghệ thuật dân tộc không thể thiếu chiếc khèn H’Mông.Trong nhận thức của nhiều người, chiếc khèn H’Mông dường như là phương tiện âm nhạc chỉ để chuyển tải đề tài tình yêu đôi lứa.Trong khi chiếc khèn còn có nhiều chức năng khác mà đa số chưa biết tới. Do đặc thù truyền thống của xã hội H’Mông là sống khép kín theo dòng họ ( Xênh), ít bộc lộ ra ngoài nên nhiều chuyện chỉ trong dòng họ mới biết, mới hiểu.Vì thế sự hiểu biết phiến diện, lệch lạc về chiếc khèn Mông cũng là đương nhiên. Chiếc khèn Mông ra đời như thế nào? Nó dùng làm gì? Vai trò vị trí ra sao? là những câu hỏi tới nay vẫn cần được làm sáng tỏ để mọi gười có hiểu biết đunga đắn. Tác giả của bài viết này có mong muốn góp phần trả lời những những băn khoăn đó

 

                                          SỰ  RA  ĐỜI

 

Trong di sản văn hóa của dân tộc H’Mông còn lại không nhiều, do bị người Hán truy diệt họ phải lánh nạn, di chuyển suốt hơn 3 thiên kỷ ( từ thời Chu Thương 16.000 trước Công nguyên tới thời Mãn Thanh thế kỷ XIX sau Công nguyên) bị mất mát, đốt phá, tiêu hủy văn sách phi vật thể thể...nên hầu hết được truyền khẩu, giữ gìn qua nhiều thế hệ. Ở nước ta trong thời Pháp thuộc và những năm đầu thế kỷ XX, một số được sưu tầm in ấn thành sách theo chữ H’Mông hiện nay trên cơ sở mẫu tự la tinh. Nhiều truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ còn lưu hành gìn giữ bởi phương thức truyền miệng ở những người lớn tuổi chưa được sưu tầm, giới thiệu trước công chúng. Truyền thuyết về chiếc khèn Mông là một trong số đó.

Chuyện kể rằng: “Từ rất xa xưa khi người H’Mông còn sống trong buổi hồng hoang mông muội. Khi có người chết họ mang ra ném ở bìa rừng, khe suối, mỏm đá cho lũ muông thú xâu xé. Không ai còn nhớ tục lệ đó kéo dài bao lâu…cho tới một ngày kia gia đình nọ có người cha qua đời. Sáu người con khóc lóc thảm thiết. Thương cha, họ không nỡ ném xác cha ra ngoài trời cho loài muông thú nên uyết định để xác cha trong nhà đến khi nào rữa nát hết da thịt mới đưa ra khe, suối để vùi lấp tránh lũ sói diều dòm ngó.

Họ khóc lóc thảm thiết đến khản cả giọng, mất cả tiếng mà xác vẫn chưa rữa hết da thịt. Mấy anh em bèn nảy ra ý nghĩ mỗi người cắt một ống trúc nhỏ cùng thổi cho đỡ mệt. Âm thanh khác nhau của 6 ống trúc to nhỏ, dài ngắn khác nhau tạo nên hòa âm thể hiện tình cảm riêng của 6 anh em, Nhưng tai họa chưa buông tha họ. Do quá đau buồn người  mẹ và một người em cũng theo cha về nơi “trời lạnh, đất tối” nơi sinh tụ của tổ tiên (TU). Giờ đây chỉ còn 5 anh em. Hòa âm của 5 ống trúc không giống hòa âm của 6 ống trúc, cũng không đại diện cho tấm lòng thương cha, xót mẹ của 6 người con. Họ cũng đã kiệt sức không thể thổi liên tục được nên nảy ra sáng kiến lấy chiếc vỏ quả bầu khô khoét lỗ cắm một đoạn trúc nhỏ và ngắn làm nơi dẫn hơi vào lòng vỏ bầu, khoét lỗ cắm 6 ống trúc của 6 anh em vào để thay nhau thổi. Lạ thay, âm thanh phát ra một hòa âm y như hòa âm 6 anh em cùng thổi”.

 

Chuyện kể tiếp rằng: “Dân tộc H’Mông có nguồn gốc ban đầu là bộ tộc Miêu tử do người hán đặt cho (chữ miêu trong văn tự hán có bộ thảo đặt trên bộ điền để chỉ tộc người làm nghề nông - khi phiên âm ra tiếng việt đọc trệch Miêu thành Mèo).Vua của Vương quốc mèo là Si Vưu đã lãnh đạo người Mèo chống lại sự xâm lăng của người Hán do vua hán là Hiền Viêm cầm đầu nhằm đoạt vùng đất màu mỡ ở lưu vực sông Hoàng Hà - chiếc nôi văn mimh của Trung Hoa cổ đại. Bị thua trận, người Mèo phiêu dạt mất hết sách vở, di sản văn hóa bằng chữ viết…và luôn trong tình trạng bị người Hán truy đuổi nhằm xóa sổ dân tộc họ.

Để bảo tồn nền văn hóa dân tộc mình, bấy giờ có một quan lễ nhạc rất tài giỏi        tên là T’Xơ Nghia. Ông đã lảm ra một nhạc khí và thổi cho vua nghe. Khi âm thanh cất

lên biểu hiện được đầy đủ các cung bậc tình cảm vui, buồn, đau thương, căm thù, hờn giận…cảm hóa lòng người. Nhạc khí đó chính là công cụ mà ông dựa trên chiếc vỏ bầu có 6 ống trúc của những người con tạo ra để thay việc khóc cha mẹ trong quá khứ. Ông đã sáng tạo cài thêm trong ống thổi hơi vào vỏ bầu cộng hưởng một miếng đồng nhỏ cực mỏng làm cho âm thanh huyền diệu và giàu âm sắc hơn rất nhiều. Ông tiếp tục biên soạn nhiều bản nhạc có lời và không lời biểu hiện tư tưởng tình cảm phong phú của dân tộc mình để phổ nhạc. Sắp xếp các lớp lang, phân loại một cách khoa học để dễ sử dụng. Đồng thời có công đào tạo, huấn luyện các lớp nhạc công sử dụng thành thạo nhạc khí đó. Nó chính là chiếc khèn Mông ngày nay.

Để ghi nhớ công ơn của những người tiền bối, ông đặt tên 6 ống khèn mang tên 6 anh em nhà nọ .Cho đến nay tên các ống vẫn không thay đổi. Thứ tự từ trên xuông dưới, từ phải qua trái có tên như sau:

Luar (lua), Luar K’răz (lua krăz), N’tal (Ntan), P’lung (Plông), Pux

(puk), Túk (tức). Khí cụ này đọc là B’hêl K’rênh - đọc tắt là K’rênh, mà chúng ta đọc theo tiếng việt là Khèn.

 

                             TÍNH NĂNG  CHIẾC  KHÈN

 

Như vậy chiếc K’rềnh (Sau đây gọi là Khèn cho thông dụng, quen gọi) buổi ban đầu dùng để thổi trong đám ma, thổ lộ buồn đau của con người. Qua sáng tạo của T’xơ Nghia đã thực sự thành khí cụ độc đáo có nhiều công dụng. Tuy nhiên chức năng ban đầu không mất đi mà càng được củng cố, bổ xung thành bài bản hoàn thiện và phong phú hơn. Trong suốt thời gian đám ma chiếc Khèn không phút nghỉ ngơi. Nó thổi lên bài oán trách, căm giận chúa Ngọc hoàng (Nhúx váx) sao đổ chết chóc xuống trần gian, rủa bọn ngoại tộc (tức người Hán) sao không chết đi lại để người hiền lành,vô tội phải chết. Tiếng Khèn cầm trịch cho tiếng trống đám ma, cho tiếng trống trận đánh theo để mô tả cuộc chiến đấu của tộc H’Mông: Được một nhóm người mỗi người đại diện cho một đội quân, vũ điệu, động tác tiến lui rất sinh động thể hiện trận đánh. Nhiều bài kể, ôn lại lịch sử dân tộc để mọi người ghi nhớ, khắc sâu vào tâm can của mình…

Một trong những bài rất quan  trọng trong đám ma là bài hát “Chỉ đường” cho người chết về với “ nơi trời lạnh, đất tối” của tổ tiên ( TU). Bài hát có vần điệu kể về sự hình thành của vũ trụ, sự ra đời, nguồn gốc của người H’Mông và cuộc chiến đấu anh dũng của họ chống lại Chúa Ngọc hoàng để dân tộc mông tồn tại và phát triển (trong văn hóa H’Mông Chúa Ngọc Hoàng là kẻ thù của người H’Mông). Khi thổi xong bài chỉ đường, tiếng khèn dặn dò người chết những lời như sau: “Tao đã hát xong rồi, mày hãy tự đi lấy nhé. Khi về tới nơi tổ tiên, nếu có người hỏi ai đưa đường cho mày về đây thì mày trả lời rằng: Tôi không biết tên, họ nó. Chỉ biết mắt nó to bằng chén uống nước, tai to bằng cái quạt, mũi to bằng chiếc chày, mặt to như chiếc thớt lớn. Nó đưa tôi đến đây bằng đường bộ. Lúc về nó đi bằng đường thủy. Nó đi nhanh lắm, phi ngựa cũng không đuổi kịp, phi thuyền cũng không đuổi tới…Khi đến nơi nó nói: Thôi! Vĩnh biệt mày nhé!”( Bài chỉ đường này liên quan tới nhiều câu chuyện khác mà người H’Mông không bao giờ cho người Hán – kẻ thù truyền kiếp của người H’Mông biết nơi sinh tụ của Tổ tiên)

                                                    ***

Chiếc Khèn được sử dụng rất đa dạng theo từng bối cảnh cụ thể: bài về nghi lễ, phong tục, ngoại giao đón khách, chúc mừng cưới xin, nhà mới, tả cảnh tả tình, tôn vinh ca ngợi người có công với dân tộc, nguồn gốc, sự kiện như bài “Ai tìm ra giống cây trồng”. Có bài thổi để  bắt nhịp cho các động tác múa võ, tập luyện chiến đấu…người xem, người nghe ngoài dân tộc H’Mông khó biết được lời nội dung các bài Khèn đang thể hiện.

dụ như trai gái, bạn tình, vợ chồng khi ngồi nghỉ trên lưng núi. Người vợ, bạn gái ngồi cạnh che ô cho người con trai thổi Khèn. Nhiều người nghĩ ngay rằng chàngtrai đang tỏ tình qua tiếng Khèn? Đó là sự võ đoán theo cảm nhận. Thực ra người con trai đang thổi bài về gốc tích các giống cây trồng theo yêu cầu của người con gái để cô ta nhớ lại vì cô đã quên một số đoạn. Cũng có thể đang thổi về một bài hát, nội dung, đề tài nào đó mà cả hai đều thích.

Trong đời sống tinh thần, tình cảm của người H’Mông không thể thiếu tiếng khèn. Nhưng tiếng Khèn không phải là nhạc khí chủ yếu để thể hiện tình yêu đôi lứa - nội dung, đề tài tình yêu chỉ chiếm phần trong chức năng của chiếc Khèn.

Nhạc cụ gắn bó nhiều nhất và chủ yếu thể hiện tình yêu là chiếc Đàn môi và Kèn lá. Đàn môi có 2 dạng: Đàn dạng máng có gờ nhỏ gọi là L’hnja đáz; đàn dạng vuông gi là T’laiv-plày. Khi người con trai Mông thấy người con gái mà mình có cảm tình từ xa hay bên kia bờ suối chàng bứt một chiếc lá bất kỳ thổi lên để gọi bạn. Nếu người con gái cũng mến người con trai, hoặc hai bên đã có tình ý với nhau thì người con gái khắc đến với người con trai. Khi họ đã ở bên nhau, người con trai rút chiếc đàn môi trong ống ra gẩy để thổ lộ tình cảm, tâm tư, ước vọng của mình. Đàn môi tuy đơn giản chỉ lá lá đồng cực mỏng, có khe là lưỡi gà nhỏ - nhưng với sự khéo léo của người sử dụng dùng ngón tay để gảy tạo nên độ rung, âm sắc đủ để biểu cảm các cung bậc tình cảm của tình yêu.

 

                          VAI  TRÒ  VỊ  TRÍ  CHIẾC  KHÈN

 

Chiếc Khèn được gìn giữ qua nhiều đời cùng các giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc H’Mông. Từ ban đầu có giá trị tâm linh dần mở rộng ra lĩnh vực văn hóa. Sự ra đời của chiếc Khèn đánh dấu sự chuyển đổi quan trọng từ xã hội nguyên thủy mông muội sang xã hội văn minh hơn. Từ chỗ man dã ném người chết ra môi trường tự nhiên đến chỗ biết chôn người chết hàm chứa giá trị nhân văn sâu sắc. Ngoài ra nó còn mang giá trị lịch sử, là mốc thời gian báo hiệu con người đã bước sang thời kỳ lịch sử mới - từ đồ đá mới sang đồ đồng. Minh chứng là chiếc lưỡi gà bằng lá đồng nhỏ rất mỏng đặt trong chiếc Khèn.

Tiếng khèn ôn lại lịch sử đấu tranh của dân tộc Mông chống lại các thế lực thiên nhiên, siêu nhiên, các thế lực xâm lăng. Ca ngợi các anh hùng, nghĩa sỹ đã ngã xuống bi tráng, oanh liệt vì sự trường tồn của dân tộc.Trong các lễ hội, cưới xin, cúng ma…tiếng khèn là nhịp cầu kết nối các DĐCdòng họ H’mông, tập hợp lực lượng khi có kẻ thù xâm lược, chia sẻ niềm vui chiến thắng…

Đặc biệt, tiếng Khèn là công cụ thông tin, gửi thông điệp, liên lạc với thế giới của tổ tiên để hỏi, xin, cầu kiến về mọi công việc trong thế giới của người đang sống mang ý nghĩa tâm linh không thể thiếu. Chiếc khèn H’mông là một hiện tượng văn hóa vẫn đang ẩn chứa những vấn đề chưa được làm sáng tỏ cần có nhiều ý kiến dưới ánh sáng khoa học lịch sử, văn hóa, chia sẻ thông tin dưới nhiều góc cạnh khác nhau và giới thiệu ra cộng đồng xã hội và quốc tế. Từ đó để các dân tộc xích lại gần nhau, hiểu nhau hơn, cảm thông, chấp nhận những khác biệt về sắc thái văn hóa giũa các quốc gia, dân tộc. Góp phần tránh những đụng độ, xung đột về văn hóa, sắc tộc do thiếu hiểu biết, nâng cao ý thức tôn trọng và bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Không có văn hóa dân tộc cao hay thấp, lớn hay nhỏ, giá trị hay không giá trị. Cũng không có một dân tộc nào có thể áp đặt, làm thay văn hóa cho một dân tộc khác. Nghiên cứu văn hóa dân tộc thiểu số là trách nhiệm của quốc gia, cần chung tay, góp sức của các nhà khoa học.

ĐĐC

Nguồn tin: HNV:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây