Nhà nghiên cứu, phê bình Đinh Thiên Hương
Trong lịch sử nhân loại, các nhà tư tưởng, nhà văn lớn, đều vươn tới tầm vóc của nhà văn hóa - giáo dục và trong trước tác của họ luôn giầu ý nghĩa đạo đức nhân sinh, quan niệm nhân sinh. Ở phương Đông từ xa xưa, trong đó có Việt Nam, luôn sẵn có quan điểm “văn dĩ tải đạo - thi dĩ ngôn chí”, tạo nên sức mạnh ảnh hưởng, chi phối lối sống và định hướng cảm thức của các tác giả văn chương. Nguyễn Trãi (1380-1442) là anh hùng dân tộc, văn võ toàn tài - danh nhân văn hóa thế giới, cũng không nằm ngoài quy luật phổ quát ấy. Trong thơ (chữ Nôm, chữ Hán) và văn của Người, xuyên suốt một nỗi niềm canh cánh và chất chứa quan niệm về đạo làm người. Đó không chỉ là tâm niệm của một người, chuẩn mực của một thời, mà là khuôn vàng thước ngọc cho muôn mai sau.
Nói tới đạo làm người nói chung và trong thơ văn nói riêng, tức là phải nói tới thái độ ứng xử của con người ấy với không gian thiên nhiên-môi trường sinh tồn; với các mối quan hệ gia đình; quan hệ xã hội và với những suy tư nội tâm- những đối thoại với chính mình về thế thái nhân sinh.
Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi trước hết là bức tranh tuyệt tác bằng ngôn từ, luôn đan xen, gắn bó giữa cảnh và tình. Dù viết bằng chữ Hán hay Nôm, thì thơ về thiên nhiên của ông, đều nặng một lòng yêu quê hương, xứ sở. Đó là những nét bút tài hoa và hiện đại, hồn thơ phóng túng, bay bổng mà chân thực của một người cách chúng ta những 600 năm.
Hãy theo Nguyễn Trãi “Nhẹ kéo buồm thơ qua cửa Bạch Đằng”, sẽ thấy cảm xúc dâng đầy trước“quan hà hiểm yếu”, thấy “núi chia ra từng khúc, như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, như mũi qua chìm, cây kích gãy, hai bờ lớp lớp chất chồng”. Bạch Đằng không chỉ là kì quan mênh mang, cuồn cuộn của non nước, biển trời mà còn là chiến địa của bao chiến công huyền thoại, ông cha chống xâm lăng. Thiên nhiên vừa cẩm tú, tráng lệ vừa là ưu ái “do trời sắp đặt”, để “hai người địch được trăm người (…) hào kiệt lập công danh”. Lại cùng Nguyễn Trãi “Quá Thần Phù hải khẩu” (Qua cửa biển Thần Phù), “giữa đêm… sao mà gió mát trăng trong đến thế, sát bờ nghìn ngọn núi bày như búp măng mọc, giữa dòng một đường nước chạy ngoằn ngoèo như con rắn xanh”. Trí tưởng tượng phóng túng và hồn thơ bay bổng, càng khiến thi nhân vừa mừng vui khi bể yên sóng lặng (hòa bình), vừa bùi ngùi tưởng nhớ anh hùng xưa từng lưu danh nơi chiến địa này…
Trong mạch cảm xúc trước cảnh nhớ người, viết bằng chữ Hán, còn phải kể tới “Dục Thuý Sơn” (được xem là núi Bài thơ của đất Ninh Bình). Nơi ngã ba sông, xưa là cửa biển, mọc lên ngọn núi, như con chim Trả đang tắm. Nghe đã là đẹp. Nhưng Ức Trai đa tình còn nhìn nó như“non tiên, như hoa sen nổi trên mặt nước, như cảnh tiên rớt xuống trần gian, bóng tháp như chiếc trâm cài vào, mặt nước như tấm gương soi cho búi tóc biếc”. Danh thắng ấy càng khiến ông nhớ Trương Hán Siêu, từng gắn bó với nơi này và làm rạng danh non nước quê hương!
Nếu coi tình yêu thiên nhiên là một biểu hiện của tình yêu quê hương đất nước, là thái độ của đạo đức con người, thì phải xem cái cách ứng xử của con người đó với thiên nhiên. Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên bằng cả tấm lòng tự hào dân tộc, như đã nói. Đồng thời, ông cũng yêu bằng tất cả sự đa cảm, mê đắm, gắn bó, chan hòa. “Bài ca Côn Sơn” không chỉ là bức tranh kì tú: suối như đàn, đá rêu như chiếu thảm, rừng thông như chiếc lọng khổng lồ…mà còn là nơi con người ta tận thú, tận hưởng, “thỏa cái thích của mình”. Cũng là nơi tuyệt tịnh để lắng ngẫm sự thế, nhân sinh.
Nguyễn Trãi yêu cảnh quê, dệt “bức tranh quê” bằng chữ Hán. Khi dịch “Trại đầu xuân độ” (Bến đò xuân đầu trại) sang chữ quốc ngữ, dường như chẳng cần đổi từ ngữ là bao: “Cỏ xanh như khói, bến xuân tươi/Lại có mưa xuân nước vỗ trời/Quạnh quẽ đường đồng thưa vắng khách/Con đò gối bãi suốt ngày ngơi”. Chả trách, quan nhân Nguyễn Trãi từng nhắn bạn bè:“Hẹn nhau năm nào về Nhị Khê/Đội nón lá vác cuốc đi làm vụ xuân”(dịch nghĩa). Trong: “Bảo kính cảnh giới” số 43, Nguyễn Trãi không chỉ chấm bút, vẽ cảnh ngày hè đa sắc hương, bừng bừng sức sống; mà còn đa thanh âm của phiên chợ làng chài, như biểu tượng của sự trù phú, thanh bình và thiên nhiên êm đềm: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”. Bài thơ kết lại bằng cảm xúc dạt dào yêu đời và khát khao giữ đời thái bình như thời Nghiêu -Thuấn, để cho “Dân giầu đủ khắp đòi phương”. Tình yêu của thi nhân gắn với ý thức trách nhiệm của bậc anh hùng, suốt đời nuôi ý chí diệt ngoại xâm trừ tàn bạo, phấn đấu vì độc lập của nước, hạnh phúc cho dân, “làm sao cho nơi thôn cùng xóm vắng, không một tiếng hờn giận oán sầu”.
Nhà thơ say đắm với thiên nhiên như một khách đa tình. Ông thấy đọt chuối non tơ như một bức tình thư còn phong kín, chờ ngọn gió mơn man tới giở xem. Những đêm trăng thanh, như tranh của “tiên ông trong lầu ngọc”: “Nước biếc non xanh thuyền gối bãi/Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu”,“Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén”, “Quét trúc bước qua lòng suối/ Thưởng mai về đạp bóng trăng”. Đó là của kho vô tận:“Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc/Thuyền chở yên hà nặng vạy then” mà thi nhân vừa tận hưởng vừa quý trọng, nâng niu. Thiên nhiên trong thơ Ức Trai vì thế, như nhân vật trữ tình, bầu bạn và gắn bó:“Trì tham nguyệt hiện chăng (chẳng, không) buông cá/Rừng tiếc chim về ngại phát cây”,“Cò nằm, hạc lặn nên bầu bạn/Ấp ủ cùng ta làm cái con”. Bởi thế, Nguyễn Trãi từng căm ghét quân cướp nước hung tàn “tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ”. Ở phương diện này, Nguyễn Trãi xứng đáng là một nhà bảo vệ môi sinh, môi trường và thụ hưởng những giá trị mà ông đã cùng Nhân dân, đổ máu xương để giữ gìn “Ao cạn vớt bèo cấy muống/ Đìa thanh phát cỏ ương sen”...
Với những con người có đạo đức và có quan niệm đạo đức tích cực, thì gia đình luôn là nền tảng; là hạt nhân, là tế bào của xã hội. Không thể yêu Tổ quốc, đồng bào, đồng loại mà không yêu và gìn giữ gia đình.Tình cảm với gia đình trong thơ Nguyễn Trãi luôn là bài học đáng suy ngẫm.
Không ai trong đời, tự nhiên mà có. Biết ơn công sinh thành, dưỡng dục là phẩm chất tiên quyết để biết ơn đất nước, Nhân dân. Trung hiếu phải gắn bó, hòa hợp. Là người con, chữ hiếu phải đặt lên hàng đầu. Có lẽ vì thế mà trong thơ Nguyễn Trãi, khái niệm “quân thân”, “trung hiếu” luôn đau đáu song hành: “Quân thân chưa báo lòng canh cánh/Tình phụ cơm trời, áo cha”, “Bui có một lòng trung lẫn hiếu/Mài chăng khuyết nhuộm chăng đen”.Nỗi lòng như“nước triều Đông” về ơn vua- ơn cha; về nợ nước thù nhà, khiến Nguyễn Trãi tự dặn lòng và dặn người về phép tắc làm con, làm bề tôi: “Thờ cha lấy thảo làm phép/Rập chúa hằng ngay lẫn cần”.
Một ông quan liêm chính, không bon chen tham lam, tự biết “Lộc được bao nhiêu ăn bấy nhiêu”, sẵn sàng “Liệu cửa nhà xem bằng quán khách/Đem công danh đổi lấy cần câu”, sẽ không “Lẩn thẩn làm chi áng mận đào”. Một con người cả đời tu thân: “Mở của nhân chờ khách đến/Trồng cây đức để con ăn”, sẽ rất biết răn con, dạy cháu“Ao quan thả gửi đôi bè muống/Đất bụt nhờ ương mấy luống mùng”. Cái gốc của bậc thức giả là “tri túc”, sẽ biết rất rõ: chết có mang được kho đụn đi đâu. Cho nên:“Con cháu chớ hiềm sớm tối ngặt/Thi thư thực ấy báu ngàn đời”. Nguyễn Trãi đúng là bậc hiền triết lão thực, tinh anh, coi trọng việc học hành cho thế hệ mai sau; coi đạo đức là gốc rễ muôn đời; điền thổ mới là chủ nhân, còn con người chỉ là khách, đến rồi đi. Tham lam vô độ, dễ dẫn người ta đến chỗ hư thân mất nết:“Ruộng nương là chủ, người là khách/Đạo đức lành, ấy của chầy (còn mãi mãi)”.
Ức Trai tiên sinh có 2 dòng thơ thôi, mà thành lời răn, ngấm thấm muôn đời “Kết bạn mựa (chớ) quên người cố cựu (xưa cũ bền chặt)/Yên nhà nỡ phụ vợ tao khang (thuở nghèo khó)”. Giữa khi, đời đội trên đầu hai chữ lợi danh, thay nhau như đổi áo, thì chớ cho những lời thơ răn dạy này của Ức Trai tiên sinh là cổ hủ!
Quan niệm về đạo đức làm người trong thơ Nguyễn Trãi, còn được thể hiện trong các mối quan hệ xã hội. Ở đây, thấy một Nguyễn Trãi bao quát khá đủ đầy về nhiều phạm trù đạo đức. Gần thì có bạn bè; cao thì có vua-tôi; nặng gánh đường xa thì có Dân có nước. Ngay cả với kẻ thù, Nguyễn Trãi cũng chọn cách ứng xử bao dung lượng thứ khi cần thiết.
Như đã nói, Ức Trai tự dặn lòng, kết bạn chớ quên cố nhân tri kỉ. Đó là những gì của tình bạn được sàng đãi bởi thời gian. Nhưng ông cũng nhắc nên cảnh giác đề phòng trong mọi mối giao lưu:“Bởi chưng mọi chốn đều thông hết/Bui một lòng người cực hiểm thay”. Đúng thôi, bởi tâm địa là thứ ở bên trong, như người xưa đã dạy: “Họa hổ, họa bì nan họa cốt/Tri nhân tri diện bất tri tâm”. Lường gạt, tráo trở, cộng khổ chứ khó đồng cam, nghe nịnh thì dễ lọt tai, chứ “trung ngôn nghịch nhĩ”…Nguyễn Trãi từng là nạn nhân của tất cả những thói đời ấy; thậm chí bị tống ngục, bởi chính minh chủ mà mình đã “nếm mật nằm gai” phò tá, tôn thờ. Cho nên, một đúc kết của ông vừa xa xót cay đắng, vừa là bài học chuẩn xác và đắt giá: “Họa phúc hữu môi phi nhất nhật /Anh hùng di hận kỉ thiên niên” (tạm dịch nghĩa: Họa và phúc đều có nguyên cớ, không phải một ngày mà có được / Người anh hùng để lại mối hận ngàn năm). Thành ra, cốt cách thẳng ngay như tùng bách của người quân tử thì ở đâu và trong mối quan hệ nào cũng phải là “Cội rễ bền, dời chẳng động”; là “Lưng khôn uốn, lộc nên từ”,“Cúi ngửa theo đời không thể vâng”. Cái thứ bạn bè giao tiếp, theo kiểu:“Được thời thân thích chen chân đến /Thất thế hương lư ngoảnh mặt đi”, chỉ làm cho đời suy thói tệ. Cứng cỏi, rất bản lĩnh: “Chớ cậy sang mà ép nề/Lời chẳng phải vẫn không nghe”,nên Nguyễn Trãi xót xa mà triết lý: “Hoa thường hay héo, cỏ thường tươi”.
Để kết lại điều này, xin trích 2 dòng thơ về đạo nghĩa thầy và bạn trong bài “Bảo kính cảnh giới” (số 40). Ở đây có một điển tích khá dài về phép tắc làm học trò cầu thị, nhưng chung quy là răn dạy lòng tôn sư trọng đạo và tình nghĩa bạn bè sáng trong “Cửa thầy, giá nhơn nhơn lạnh/ Lòng bạn, trăng vằng vặc cao”.
Là kẻ sỹ gặp thời ly loạn, Nguyễn Trãi từng hàng chục năm phải náu mình chờ cơ hội “Góc thành Nam lều một căn/No nước uống, thiếu cơm ăn…”. Sau đó, ông tự tìm vào Lam Sơn, rồi dự hội thề cùng minh chủ, để một đời dốc lòng cứu nước an dân. Có lẽ thế mà thơ ông luôn thể hiện một niềm trung thành, một mối canh cánh âu lo, mỗi bước chân đi như còn vướng vít:“Nợ quân thần chưa báo được/Hài hoa còn bợn dặm thanh vân”;“Quân thân chưa báo lòng canh cánh/Tình phụ cơm trời áo cha”; “Bui có một niềm chăng nỡ trễ/Đạo làm con lẫn đạo làm tôi”. Bởi thế, ngay cả khi bị gièm pha, thất sủng, Ức Trai cũng vẫn một lòng trung trinh, cứng cỏi: “Vườn quỳnh dù có chim hót/ Cõi trần có trúc đứng ngăn”.
Trong lịch tư tưởng Việt Nam, có thể nói Nguyễn Trãi là người có tư tưởng và tình cảm thân dân sâu sắc nhất. Đây là mối quan hệ xã hội chi phối xuyên suốt cả trong quan niệm và hành động, trong đường lối và chính sách, trong kháng chiến và kiến quốc, nội trị và bang giao…của Nguyễn Trãi, thời khởi nghĩa Lam Sơn và đầu thời Hậu Lê.
Thân dân, thực ra đã có trong sách vở thánh hiền (Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh), trong chuyện xưa tích cũ ở bên Tầu về những kẻ “manh lệ”, “dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới”. Nhưng với một người uyên thâm, ngẫm cổ nghiệm kim như Nguyễn Trãi, thì lịch sử xa gần của nước Nam ta, mới thật là thuyết phục về chân lý muôn đời“Đẩy thuyền là dân, làm lật thuyền cũng là dân”,“Đẩy thuyền mới biết sức dân mạnh như nước”. Cho nên, nhân nghĩa của Nguyễn Trãi suy cho cùng là diệt ngoại xâm trừ tàn bạo, chiến đấu vì độc lập của nước, vì hạnh phúc của dân. “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”(lời dịch có thể chưa toàn ý), nhưng căn cốt vẫn là an dân! Khi thời cơ chín muồi, thấy cần nắm bắt để kết thúc chiến tranh, đại quân Lam Sơn sẵn sàng “mở đường hiếu sinh” cho kẻ thù, để “nhân dân nghỉ sức”. Làm như thế, chẳng những chính nghĩa của ta sáng ngời, mà lòng bao dung bác ái rất thu phục nhân tâm, mở đường cho hòa giải, hòa hiếu sau này giữa hai quốc gia, dân tộc…
Khi đất nước thanh bình, bắt tay vào dựng xây, tạo lập vận hội phát triển mới, Nguyễn Trãi dâng biểu xin Lê Thái Tổ chưa vội quan tâm đến lễ nhạc, mà chỉ dám mong “rủ lòng thương yêu muôn dân, làm sao cho nơi thôn cùng xóm vắng, không một tiếng hờn giận, oán sầu. Đó mới chính là cái gốc của Lễ nhạc vậy”. Chao ôi, thôn cùng xóm vắng, không hờn giận oán sầu, đó chẳng phải là đỉnh cao hạnh phúc của muôn dân? Nếu thế, câu văn của Ức Trai tiên sinh, đáng trở thành lời châm của bức đại tự, trân trọng treo ở chốn quyền môn…Có một lần, chắc là xã tắc an hòa, muôn dân no ấm, Nguyễn Trãi thưởng ngoạn cảnh đẹp ngày hè, mà vẫn thường trực “Bảo kính cảnh giới”(Gương báu răn mình - số 43):“Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng/ Dân giầu đủ khắp đòi phương”. Những dòng sáu tiếng đan xen trong các bài thơ Nôm tám dòng của Nguyễn Trãi, thường có vị trí rất biến hóa, mang ý nghĩa tổng quát, nhấn mạnh và chứa chất tư tưởng, cảm xúc chủ đạo. Trong bài thơ này, đó là niềm vui hân hoan cùng dân, nhưng “cái tôi” trữ tình vẫn nhắc mình về nghĩa vụ và trách nhiệm, phải giữ mãi cho dân niềm vui ấy. Đó là cái mạch ngầm, là ý tứ sâu xa của mỗi con chữ. Cũng giống như bài thơ “Tùng” (một trong những bài thơ Nôm tuyệt tác của Nguyễn Trãi – mà tiếc thay, nay nó đã hoàn toàn vắng bóng trong các sách giáo khoa dạy học trò). Vị trí các dòng thơ 6 tiếng trong các khổ thơ liên hoàn, cứ ngày một sâu hơn, như gốc rễ cây tùng cắm sâu vào lòng đất. Đến khổ thơ cuối, nó ở dòng cuối cùng và giữ vai trò chốt lại bài thơ, như một lời thề vang ngân, đanh thép về sự cống hiến, tận hiến: “Dành, còn để trợ dân này!”
Cuối cùng, quan niệm về đạo đức trong thơ Nguyễn Trãi còn thể hiện qua những vần thơ đàm tâm, độc thoại. Ở đây có một cái tôi trữ tình-chất chứa nội cảm, thể hiện chiều sâu tâm lý, tính cách và vẻ đẹp tâm hồn, thăm thẳm cõi lòng trước nhân tình thế thái và cảm khái thời thế.
Trước hết, vẫn là tâm nguyện và nỗi âu lo về bổn phận, trách nhiệm “Bui có một lòng trung lẫn hiếu/Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen”, “Bui có một lòng âu việc nước/Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung”, Bui có một niềm trung hiếu cũ/ Chẳng nằm, thức dậy néo canh ba”. Nếu giai đoạn kề vai sát cánh trong kháng chiến gian lao, Nguyễn Trãi có cơ hội khai triển được thực tài, dùng kế “tâm công…chưa đánh mà lòng người đã khuất”, thì trong hòa bình, kiến quốc, ông không mấy được tin dùng. Hạn chế lịch sử và tầm nhìn thiển cận của người đứng đầu triều đình đã thành rào cản, thậm chí đẩy Nguyễn Trãi vào nỗi đau oan sai, tù tội…Nó khiến cho thơ ông giai đoạn đó, đúng là “tiếng thơ kêu xé lòng”.
Con người ấy, không biết bao đêm đã phải “thụy bất trước”, bởi nỗi đau đời, lo đời “Bình sinh độc bão tiên ưu niệm/Tọa ủng, hàn khâm dạ bất miên”(Tạm dịch: Bình sinh vẫn thường một mình ôm mối lo trước thiên hạ/Đêm ngồi quàng tấm chăn lạnh, không ngủ được). Một người hiền tài, chuộng thực thi, hành động, có nhân cách tựa sao Khuê mà ngày càng lu mờ bởi đám cỏ dại, chuyên xóc mói, xàm tấu...Chính trường thành hý trường. Ức Trai đau lắm, nên mới thốt lên những lời oán thán: “Non cao, non thấp mây thuộc/ Cây cứng cây mềm, gió hay”, “Dễ hay ruột bể sâu cạn/ Khôn biết lòng người vắn dài/Sự thế dữ lành, ai hỏi đến/Bảo rằng ông đã điếc hai tai”.
Có hiểu tâm sự buồn đau ấy mới thấy Nguyễn Trãi mừng vui thế nào khi được Lê Thái Tông tin dùng, lại vời ra chấp chính. Ông cảm ơn nhà vua xem mình “như con ngựa già còn ham rong ruổi, coi thần như cây tùng cây bách qua năm tháng càng dạn tuyết sương”. Nỗi buồn“Hoa thường hay héo, cỏ thường tươi”, chắc được thay bằng niềm hăm hở “Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược/Có nhân có, có chí, có anh hùng”. Ông thêm một lần nữa hy vọng và tin tưởng: “Quân tử hãy lăm bền chí cũ/Chẳng âu ngặt, chẳng âu già”.Nhưng tiếc thay, thương đau thay, lần này, số phận lại đẩy người anh hùng nhân, trí, dũng ấy đến một thảm họa, để lại cho đời tiếng kêu thương xé lòng…
Đọc những câu thơ về đạo làm người của Ức Trai tiên sinh từ thuở ấy, còn thấy những đúc kết, răn dạy như tục ngữ. Có thể là chuyện học hành, nghề nghệp để thân vinh:“Nên thợ, nên thầy vì có học/No ăn, hay mặc bởi hay làm”,“Tay ai thì lại làm nuôi miệng/ Làm biếng ngồi ăn lở núi non”. Có thể là bài học về bả lợi quyền: “Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc/Cho hay đường lợi cực quanh co”.
Nguyễn Trãi có một chùm thơ Nôm, với những bài thơ tự răn rất giá trị. Qua đó thấy thêm nhiều vẻ đẹp nhân cách của thi nhân-nhà tư tưởng và học được những bài học quý báu:“Làm người thì giữa đạo trung dung”. Đấy không phải là “ba phải”, mà là cách giữ gìn để dễ “bề tiến thoái”, vì nên nhớ: “Hùm oai muông mạnh còn nằm cũi/Khiếu hót chim khôn phải ở lồng”. Bài “Giới sắc” cho biết quan niệm của nhà thơ “Sắc là giặc, đam làm chi”, bời vì: “Bại tan gia thất, đời từng thấy/Tổn hại tinh thần sự ích chi”. Lại có bài “Giới nộ”, mới hay: chẳng có lợi ích gì, vì “Giận làm chi tổn khí hòa/Nào từng có ích, nhọc mình ta”. Giận dữ nhiều phen “quên nhân nghĩa”, gây nên“nát cửa nhà”. Đúng là những lời răn cho muôn đời về về tu tâm để đối nhân xử thế…Nói đạo làm người trong thơ Nguyễn Trãi bao quát khá đầy đủ mọi vấn đề là vì thế.
Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ dùng chữ “hình ảnh của dân tộc” cho hai vĩ nhân là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nguyễn Trãi. Đó là sự lựa chọn để tôn vinh rất chính xác. Cách nhau 5 thế kỉ, chúng ta mới gặp lại những con người vừa có vẻ đẹp toàn bích của cái Tâm - cái Tầm và cái Tài, vừa có đạo đức nhân cách cao đẹp làm gương sáng cho muôn đời sau. Trong đó Nguyễn Trãi là người “đầu đội trời Việt Nam, chân đạp đất Việt Nam, tâm hồn lộng gió thời đại lúc bấy giờ”, đã nêu cao những quan niệm tích cực, rất nhân văn về đạo làm người.
Đ.T.H
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Chùm thơ của Bùi Văn Kha
Người thương binh đánh Giày
Viết nhân ngày Thương binh - liệt sĩ của các nhà thơ nữ Hà Nội
BÁC HỒ VỚI CÔNG TÁC CHÍNH SÁCH TRONG QUÂN ĐỘI
CHI HỘI 1 - HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI TỔ CHỨC GIAO LƯU TẠI CÔNG VIÊN ƯỚC
CỎ HÁT - thơ Phạm Thị Hồng Thu và lời bình
Con bò đi chiều thuận
NGƯỜI Ủ TRẤU THẮP "HUYỀN THOẠI LÀNG" trong thơ Nguyễn Văn Thích
A PA CHẢI, MỘT LẦN ĐẾN CẢ ĐỜI THƯƠNG NHỚ
Trang thơ Tháng Bảy của nhiều tác giả
Năm tác giả Thơ (10 )
Dưới bóng cây ô liu
Hương cốm - hồn của làng trong phố mãi nguyên tươi qua thơ Lê Minh Tý
Tầm cao mới của Nhà văn Nguyễn Mạnh Thắng QUA TIỂU THUYẾT “ĐƯỜNG ĐỜI VÀ SỐ PHẬN”
XU HƯỚNG ĐỊNH HÌNH THƠ HIỆN ĐẠI