Nhà văn CAO NGỌC THẮNG
Phạm Việt Tùng là người Hà Nội. Hiện gia đình ông vẫn còn ngôi nhà gốc ở phố Tây Sơn, gần chân cầu vượt Ngã tư Sở, quê ông ở đó. Ông lớn hơn tôi 15 tuổi, cầm tinh con Hổ, tính tình rất bộc trực. Mới đây thôi, đúng kỷ niệm 71 năm ngày Tiếp quản Thủ đô 10-10, Phạm Việt Tùng gọi điện cho tôi. Hai anh em quen biết từ năm 1989, khi tôi về công tác ở Tạp chí Thông tin (thuộc Bộ Thông tin mới thành lập) do ông Phan Ngọc làm Tổng biên tập. Lúc đó Phạm Việt Tùng biên chế ở Đài Truyền hình Việt Nam (quay phim), thi thoảng ghé tạp chí chơi. Đã một thời Phạm Việt Tùng từng làm “quân” của ông Phan Ngọc khi ông Phan Ngọc là Giám đốc Xưởng Phim vô tuyến truyền hình trực thuộc Tổng cục Thông tin do ông Nguyễn Minh Vỹ làm Tổng cục trưởng. Ngày ấy, tôi chỉ biết sơ sơ về Phạm Việt Tùng - một quay phim chính của nhiều phim tài liệu đã đoạt các giải trong nước và quốc tế. Bẵng đi thời gian khá dài hai anh em ít gặp nhau. Cho đến cuối năm 1995, từ báo Văn hóa (thuộc Bộ Văn hóa-Thông tin-Thể thao-Du lịch) tôi chuyển về Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội, hai anh em mới có dịp liên hệ thường xuyên và mở ra hướng cộng tác cụ thể. Đó là cơ duyên để tôi hiểu nhiều về Phạm Việt Tùng và cùng ông thực hiện một số phim, như Truyền hình Việt Nam – Mùa xuân khởi đầu ấy (tài liệu), Những chiến sĩ xe tăng 390 (phóng sự), Người đánh B52 (tài liệu)…
Gọi điện cho tôi, “cú” thoại vừa nói ở trên, Phạm Việt Tùng ôn chuyện hai anh em hợp tác làm bộ phim tài liệu, khi hoàn thành phim mang tên: Truyền hình Việt Nam - Mùa xuân khởi đầu ấy, thời lượng 21 phút 15 giây, do Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội sản xuất và phát sóng tháng 1 năm 2000. Xen vào những kỷ niệm vui, ông đánh thức nỗi buồn tưởng đã chìm vào quên lãng trong tôi - bộ phim tài liệu lịch sử mà hai anh em dày công xây dựng và tổ chức sản xuất, khi hoàn thành đã được phát sóng đúng vào thời điểm kỷ niệm 32 năm thành lập Xưởng Phim vô tuyến truyền hình - đơn vị đầu tiên của ngành truyền hình, song không hiểu vì lý do gì mà chỉ phát được một lần duy nhất, sau khi phát sóng thì Đài Truyền hình Việt Nam có công văn do Chánh Văn phòng Đỗ Viết Kháng ký, ghi rõ Đài Phát thanh và Truyền hình các tỉnh thành trong cả nước không phát lại phim Truyền hình Việt Nam – Mùa xuân khởi đầu ấy do Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội sản xuất (?)…
*
Cuối năm 1999. Những ngày tháng này nhà Đài đang khẩn trương sản xuất chương trình đón Tết dương lịch và Tết Nguyên đán, nên rất bận rộn. Phạm Việt Tùng xuất hiện đúng thời điểm đó, không chỉ một đôi lần. Trong đầu ông chật căng ý niệm cho một dự án phim, mà theo ông không thể trù chừ vì tính thời điểm và thời cơ. Phạm Việt Tùng nói với tôi: chú phải thu xếp công việc để cùng làm với tôi. Xem ra tôi không thể từ chối, nhưng vẫn phân trần với ông rằng, tôi mới chuyển sang làm truyền hình nên không mấy am hiểu về lịch sử của ngành. Chưa giãi bày hết, ông đã xua tay: yên tâm, đâu đã có đó. Tôi bất ngờ hỏi ông một câu đáng ra không nên hỏi: sao anh không làm bên VTV? Ông cũng bất ngờ đổi cách xưng hô: tao về hưu rồi, giờ phải làm cho Hà Nội chứ, chú mày cũng là người Hà Nội cơ mà… Tôi đành chịu, song vẫn thấy có cái gì chưa ổn đằng sau câu trả lời của ông. Ông và tôi bắt tay xây dựng kịch bản. Kịch bản được phê duyệt, do ông Đào Quang Thép - Phó Giám đốc, Phó Tổng biên tập kiêm Trưởng ban biên tập Chương trình - ký.
*
Không khí Hà Nội trong những ngày cuối năm vừa rộn ràng vừa tất bật. Phố phường nhộn nhịp trong cái rét se sắt giữa nắng trời rực rỡ. Thời tiết và cảnh sắc Thủ đô rất thuận lợi cho công việc làm phim. Kíp làm phim chúng tôi máy móc lỉnh kỉnh chen giữa đô hội, không kịp ngắm sắc màu hàng hóa bày bán chật ních các cửa hàng, cửa hiệu dọc các con đường xe cộ nối đuôi nhau, để đến một số điểm trong nội đô và cả ở ngoại thành để ghi hình.
Trong kịch bản, chúng tôi sẽ ghi hình và phỏng vấn một số nhân vật lúc này đã trở thành nhân chứng của lịch sử ra đời và phát triển ngành truyền hình Việt Nam. Đó là các cụ: Nguyễn Thế Đoàn, Nguyễn Minh Vỹ, Hoàng Tùng, các ông Phan Ngọc và Nguyễn Anh Dũng, các bà Nguyễn Thị Xuân Phượng và Bích Ngọc. Tại Hà Nội, ê kíp chỉ có thể ghi hình và phỏng vấn một số nhân vật, các nhân vật khác đã có trong tư liệu phim của Phạm Việt Tùng hoặc ông Việt Tùng nhờ đồng nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh ghi giúp. Qua các phỏng vấn đó những nhân vật liên quan được nhắc tới một cách trân trọng và tri ân.

Bác Hồ và Joris Ivens (bên trái)


Người được nhắc tới nhiều là đạo diễn phim tài liệu lừng danh người Hà Lan Joris Ivens, một nhân vật khả kính. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã gặp và kết bạn với Joris Ivens khi nhà đạo diễn chưa nổi tiếng rộng rãi, cũng như thời đó Người đã từng kết bạn với các nghệ sĩ, trong đó có họa sĩ người Tây Ban Nha Pablo Picasso (1881-1973) tại Pháp, hay với nhà điện ảnh người Anh Charlie Chaplin (1889-1977) trên một chuyến tàu thủy từ châu Âu sang Mỹ. Sau khi xem bộ phim tài liệu Tư bản và Tôn giáo do Joris Ivens sản xuất, tháng 6 năm 1922 Nguyễn Ái Quốc viết bài bình luận đăng trên báo Nhân đạo (L’Humanité). Tình bạn thắm thiết và thủy chung với Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã thúc giục nhà làm phim tài liệu lừng danh Joris Ivens và vợ đến với Việt Nam nhiều lần. Lần đầu tiên là vào tháng 6 năm 1964, khi Mỹ lên kế hoạch ném bom ra miền Bắc, và một năm sau, tháng 6 năm 1965, ông trở lại và được Chủ tịch Hồ Chí Minh đón tiếp. Từ 1965 đến 1970, ông Joris Ivens đã làm 4 phim về Việt Nam, gồm: Bầu trời và mặt đất (1965), Việt Nam xa xôi (1967), Vĩ tuyến 17 – Chiến tranh nhân dân (1968), Đàm thoại với Chủ tịch Hồ Chí Minh (1970). Những bộ phim tài liệu do Joris Ivens sản xuất được phát sóng rộng rãi trên nhiều kênh truyền hình của các quốc gia, đã gây chấn động dư luận thế giới, thức tỉnh nhân dân yêu chuộng hòa bình về cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ và ý chí quật cường của nhân dân Việt Nam quyết dành độc lập tự do cho dân tộc mình.
Bà Nguyễn Thị Xuân Phượng, nguyên là một bác sĩ được phân công chăm sóc sức khỏe và phiên dịch (tiếng Pháp) cho Joris Ivens khi ông sang Việt Nam (năm 1968) thực hiện bộ phim tài liệu Vĩ tuyến 17 – Chiến tranh nhân dân. Bà nhớ lại, trong buổi Chủ tịch Hồ Chí Minh đón tiếp vợ chồng Joris Ivens (tháng 6 năm 1967, Người nói: “Bác giới thiệu với các cháu đây là hai người bạn thân thiết của Bác, là những nhà điện ảnh cách mạng nổi tiếng trên thế giới.” Trước khi đoàn làm phim lên đường vào khu giới tuyến tạm thời, Bác Hồ căn dặn đoàn rất cẩn thận: “Đồng chí Ivens là bạn của Bác, là một chiến sĩ điện ảnh cách mạng quốc tế, rất có uy tín trên thế giới. Bằng mọi giá phải bảo vệ đồng chí ấy. Những thước phim của Ivens sẽ có giá trị to lớn đối với quốc tế khi nói về cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc ta” Bà Xuân Phượng nhớ lại: “Năm đó là năm 68, nghe tin sẽ thành lập truyền hình, tôi là một trong những người hiếm hoi xung phong từ lĩnh vực y tế đi qua làm truyền hình. Sau một thời gian làm phim với ông Ivens thì ông Ivens có đem hai cái máy, hồi đó rất quý, là hai cái Baia Bolex. Ông có nói với tôi thế này, tôi đem sang đây rồi, tôi muốn biếu lại cho Việt Nam, thì ý của cô nên biếu cho ai. Tôi nghĩ rằng truyền hình là ngành mới mẻ nên tốt nhất là biếu cho truyền hình. Đó là hai cái máy mà anh em chúng ta ngày đó [đón nhận] như ngày hội, vô cùng vui vẻ, vô cùng mừng rỡ.
Người thứ hai được mọi người nhắc đến nhiều là cụ Nguyễn Thế Đoàn, một nhân vật đặc biệt của ngành truyền hình Việt Nam. Đặc biệt bởi, từ trong kháng chiến chống Pháp, cụ Nguyễn Thế Đoàn là người khai sinh ra điện ảnh Nam bộ, đồng thời là người Việt Nam đầu tiên thực hiện những thước phim lịch sử về Bác Hồ. Xuất thân trong một gia đình nhân sĩ yêu nước, tộc họ Nguyễn lâu đời ở huyện Chợ Mới, An Giang, tên thật là Nguyễn Thế Nghiệp, vốn có năng khiếu hội họa lại say mê nhiếp ảnh, tự học hỏi và trở thành thợ ảnh, tự mày mò dùng máy ảnh để quay hình và rửa tráng phim trong buồng tối do ông tự thiết kế. Nguyễn Thế Đoàn được vinh dự dự Đại hội Đảng II (năm 1951, tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang); sau đó được ở lại chiến khu sống và làm việc bên cạnh Bác Hồ cùng với họa sĩ Diệp Minh Châu, nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định. Nguyễn Thế Đoàn đã quay được những thước phim tư liệu vô cùng quý giá, đặc biệt là những cảnh quay Bác Hồ đi thăm dân công, thăm nông dân, cưỡi ngựa đi công tác, tắm suối, dạy võ, lội suối, băng rừng, luyện võ, chơi bóng chuyền... Những thước phim của Nguyễn Thế Đoàn được sử dụng trong phim Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và nhiều phim trong nước và ngoài nước. Cụ Nguyễn Thế Đoàn từng hướng dẫn in tráng phim cho các thành viên thế hệ đầu tiên của Xưởng Phim vô tuyến truyền hình Việt Nam. Khi ghi hình và phỏng vấn cho phim Truyền hình Việt Nam – Mùa xuân khởi đầu ấy, cụ Nguyễn Tiến Đoàn đã 89 tuổi. Cụ mất ngày 12 tháng 8 năm 2009, thọ 98 tuổi.
*
Chúng tôi đến ngôi nhà trên đường Trần Nhật Duật, nằm trong đê dọc sông Hồng, thuộc khu phố cổ. Trong căn phòng không mấy rộng, một cụ già đang ngồi chờ đón chúng tôi. Năm đó, cụ Nguyễn Minh Vỹ 85 tuổi, vóc người nhỏ bé, sức khỏe đã yếu. Cụ nghe chăm chú những người có mặt ôn lại những kỷ niệm những ngày đầu tiên của truyền hình Việt Nam, mà việc thành lập Xưởng Phim vô tuyến truyền hình, theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị ký ngày 4 tháng 1 năm 1968, trực thuộc Tổng cục Thông tin do cụ làm Tổng cục trưởng, trở thành mốc lịch sử của ngành truyên hình Việt Nam. Cụ Nguyễn Minh Vỹ tên thật là Tôn Thất Vỹ, sinh năm 1914 trong một gia đình quan lại Hoàng tộc thuộc triều đình Huế. Nguyễn Minh Vỹ đến với cách mạng từ rất sớm. Cụ đã từng là Vụ trưởng Vụ Quan hệ Bắc Nam, Chủ nhiệm báo Thống nhất, rồi Tổng cục trưởng Tổng cục Thông tin và là Phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương. Cụ là đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hoà từ khoá I năm 1946. Cụ Minh Vỹ còn là một nhà ngoại giao nổi tiếng. Cụ tham gia Đoàn đại biểu của Chính phủ ta trong Hội nghị bốn bên đàm phán để đi đến ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam tại Paris. Đoàn do Bộ trưởng Xuân Thuỷ làm Trưởng đoàn, Nguyễn Minh Vỹ làm Phó trưởng đoàn. Trong suốt 4 năm 8 tháng 20 ngày diễn ra Hội nghị, thành phần lãnh đạo của Đoàn Việt Nam không hề thay đổi (trong khi phía Mỹ thay đổi nhân sự đến 5 lần). Hội nghị Paris đi đến ký Hiệp định vào ngày 27 tháng 1 năm 1973. Biết chúng tôi đang thực hiện ghi hình cho bộ phim về thời kỳ khai sinh ngành truyền hình nước nhà, cụ Minh Vỹ tỏ ra rất vui và động viên chúng tôi cố gắng làm tốt.
Cuộc ghi hình và phỏng vấn cụ Hoàng Tùng tại nhà riêng ở phố Đường Thành, cũng thuộc khu phố cổ của Hà Nội. Năm đó cụ Hoàng Tùng 79 tuổi, vóc người nhỏ nhưng còn rất minh mẫn. Cụ Hoàng Tùng tên thật là Trần Khánh Thọ, sinh ngày 14 tháng 1 năm 1920, quê quán xã Nhân Hòa, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Cụ từng đảm nhiệm các chức vụ quan trọng trong Đảng: Tổng Biên tập Báo Nhân dân, Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương, Giám đốc Nhà xuất bản Sự thật, Đại biểu Quốc hội các khóa III, IV, V, VI, VII. Cụ Hoàng Tùng nói: “Lúc đó tôi là Ủy viên dự khuyết Trung ương, Phó trưởng ban Tuyên huấn Trung ương, phụ trách khu vực thông tin, báo chí. Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo muốn có một xưởng truyền hình. Mục đích là quay những cuốn phim gửi ra truyền hình các nước anh em, trước hết là Liên Xô để phát. Cho nên mới có quyết định để Tổng cục Thông tin do đồng chí Minh Vỹ đứng đầu thực hiện việc này. May mắn là có người bạn của Bác Hồ - ông đạo diễn Joris Ivens cho hai cái máy khi ông đến Việt Nam làm phim về cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Ông Joris Ivens là tác giả phim Tư bản và Tôn giáo mà Bác Hồ đã viết bài bình luận trên báo Nhân đạo Pháp tháng 6 năm 1922”.
Với giọng nói chậm rãi nhưng chắc nịch, cụ Hoàng Tùng nói tiếp: “Chuyển sang giai đoan thứ hai là phải phát sóng trong nước, thực tế là ở Hà Nội cũng ở phạm vi hẹp, trên một chiếc xe ô tô. Việc này cũng được thực hiện thành công”.
“Giai đoạn thứ ba là đến Giảng Võ thì làm được toàn bộ với dạng thô sơ mà cũng phát trong phạm vi Hà Nội và xung quanh. Việc chúng ta bắt đầu như thế và ra đời trong quá trình chiến đấu gian khổ như thế, khó khăn như thế, làm việc cả ngày lẫn đêm dưới bom đạn mà xây dựng được sự nghiệp từ hai tay không, tôi cho đó là một sự việc hiếm có trong thế giới của chúng ta. Những người làm truyền hình hiện nay và những người Việt Nam nói chung rất cần phải quý trọng cái sự bắt đầu của sự nghiệp truyền hình chúng ta”, cụ Hoàng Tùng nói tiếp.
Như lời cụ Hoàng Tùng, sự phát triển truyền hình Việt Nam đã trải qua ba giai đoạn: giai đoạn đầu, thành lập Xưởng Phim vô tuyến truyền hình có nhiệm vụ làm phim để gửi ra các nước anh em phát sóng nhằm tuyên truyền rộng rãi trên thế giới về cuộc chiến tranh cứu nước đầy gian khổ và ý chí sắt đá của nhân dân Việt Nam quyết tâm giải phóng miền Nam tiến tới thống nhất đất nước; giai đoạn hai tiến thêm một bước là chủ động phát sóng trong nước, trước hết trong phạm vi hẹp; giai đoạn ba là xây dựng cơ sở hoạt động độc lập, tiến tới hình thành Đài Truyền hình Việt Nam. Cả ba giai đoạn đều diễn ra trong điều kiện và hoàn cảnh nước nhà bị chia cắt tạm thời và chiến tranh lan rộng khắp đất nước. Từ hai bàn tay trắng, những người làm công tác truyền hình, từ thế hệ đầu tiên, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó, thực hiện lòng mong mỏi của Bác Hồ. Trong sứ mệnh của mình, truyền hình Việt Nam được sự giúp đỡ chí tình của bạn bầu quốc tế trong học tập cũng như trang bị máy móc, phát sóng đưa hình ảnh Việt Nam tới nhân dân thế giới.
*
Bộ phim tài liệu Truyền hình Việt Nam – Mùa xuân khởi đầu ấy hoàn thành là nhờ sự quan tâm của lãnh đạo Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội và các cộng sự. Rất mừng là phim phát trên sóng của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội tháng 1 năm 2000, đúng thời điểm kỷ niệm 32 năm Truyền hình Việt Nam ra đời dưới cái tên vô cùng giản dị “Xưởng Phim vô tuyến truyền hình” mà đầy ắp các sự kiện và con người đã đi vào lịch sử của ngành truyền hình nước nhà.
C.N.T
Nguồn tin: Nguồn: Tạp chí Văn hiến Việt Nam
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
GIAO LƯU VĂN HỌC CHI HỘI
Nhà thơ NGUYỄN ĐỨC MẬU - Màu hoa đỏ đã mây bay
TRỞ THÀNH NHÀ VĂN TỪ NGHỀ LÀM BÁO
TÔI XIN THỀ LẠI LỜI KHÔNG MUỐN THỀ - Câu thần chú bỏ quên của người Kẻ Chợ trong thơ Nguyễn Thành
PHÙNG VĂN KHAI VỚI THƠ TỰ VẤN NGHIỆT NGÃ XỐI XẢ
MỘT THOÁNG VỚI NGHỆ NHÂN ƯU TÚ TRẦN THỊ LIỄU
Trang thơ Tháng Tư của nhiều tác giả
ĐIỆU TÂM HỒN
TRẠNG BÙNG PHÙNG KHẮC KHOAN - Bậc đại trí thức nho gia và mối lương duyên sâu nặng với đạo Phật
Nhân duyên’ - cõi thơ thiền của một người lính
Năm tác giả thơ (9)
CUỘC THI VIẾT về gương điển hình tiên tiến, người tốt việc tốt… trong phong trào thi đua yêu nước… năm 2026
QUÊ MẸ - Trường ca của Phùng Trung Tập
Chiến tranh và chiến tranh(*) - Tiếng kêu thương thảm khốc!- Tiểu thuyết của Krasznahorkai László - Nobel văn học - 2025.
Hoài niệm Tháng Ba - Thơ nhiều tác giả