Phan Anh
Một ngày gió lạnh, bụi mịn của mùa đông Hà Nội, chúng tôi dậy từ rất sớm và bắt đầu hành trình đi Bắc Sơn (Lạng Sơn) thăm cái nôi của Cách mạng, đồng thời cũng ghé chơi Quỳnh Sơn, một ngôi làng cổ của người Tày, hiện đang rất “hot” trên tấm bản đồ du lịch. Xe chở chúng tôi đi qua cầu Nhật Tân, tìm vào cao tốc Hà Nội đi Thái Nguyên, rồi nối sang quốc lộ 3 và tiếp tục chuyển sang quốc lộ 1B để đi đến đích. Trên cái lộ trình ấy, chúng tôi như bước đi từ trong sương đêm mờ mịt của mùa đông với khắp nẻo phố phường còn đang rực rỡ ánh điện trên những cột đèn cao áp bên đường tỏa xuống như xé màn đêm cho xe chạy cho đến lúc bình minh ló rạng như thể xua tan những hơi sương đang còn quấn quyện, bảng lảng bên những triền núi và bản làng rẻo cao của miền Đông Bắc. Quãng đường của hành trình ngao du miền sơn cước Đông Bắc ấy chỉ dài hơn 170 cây số, không quá xa nhưng ngập tràn những cảm xúc được khơi gợi từ trong ký ức cùng cảnh vật của hiện tại; nhất là mỗi khi chúng tôi nhìn qua cửa kính thấy hiện lên những dòng chữ ghi địa danh vốn đã từng nổi tiếng, oai hùng, lừng lẫy một thời trong kháng chiến và đi vào trong thơ ca cách mạng: Đình Cả, Võ Nhai, Bắc Sơn …

Dưới gốc đa cổ thụ làng Quỳnh Sơn
“Bắc Sơn! Ðây núi rừng chiến khu!”
Đường về Bắc Sơn hôm nay thật dễ đi. Những cao tốc và quốc lộ thảm nhựa phẳng lỳ, êm như ru khiến cho người đi quên mất khoảng cách và thời gian. Chẳng mấy chốc thành phố gang thép Thái Nguyên đã lùi lại sau lưng và mở ra trước mắt chúng tôi với các cung đường uốn lượn mềm mại dưới những chân núi đá vôi xanh biếc thơ mộng của vòng cung Bắc Sơn làm cho ai nấy lại nhớ đến những vần thơ hào sảng trong bài thơ “Ta đi tới” của nhà thơ Tố Hữu ngày nào: “Đường ta rộng thênh thang tám thước/ Đường Bắc Sơn, Đình Cả, Thái nguyên/ Đường qua Tây Bắc, đường lên Điện Biên/ Đường cách mạng dài theo kháng chiến”. Nhớ lại, năm xưa, trên núi rừng cứ địa nơi đây, tiếng súng Võ Nhai đã từng gầm vang “rung động cả miền xuôi và làm cho quân địch khủng khiếp” (Võ Nguyên Giáp). Và, cũng bắt đầu từ nơi đây, những đội Cứu quốc quân đầu tiên (tiền thân của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, sau này là Quân đội nhân dân Việt Nam) của cách mạng đã ra đời để bắt đầu công cuộc gánh vác sứ mệnh cao cả của lịch sử dân tộc trao cho dưới sự lãnh đạo thần kỳ của Đảng và Bác. Theo bánh xe lăn, những phố huyện Đình Cả của xã Võ Nhai (Thái Nguyên) và trung tâm xã Bắc Sơn (Lạng Sơn) hiện ra trong mắt chúng tôi không còn heo hút như những ngày nào. Bến xe, chợ trung tâm tấp nập ngay bên quốc lộ cùng với nhà ở, cửa hàng, siêu thị … mọc lên san sát, khang trang, sầm uất suốt dọc hai bên đường làm người ta cứ ngỡ như thành phố. Ấy thế, nhưng khi đi qua những miền đất một thời máu lửa từ bên Võ Nhai qua Bắc Sơn, đằng sau những đổi thay của quê hương cách mạng, đâu đó trong sâu thẳm con tim, người ta vẫn thấy rộn lên những âm vang của lịch sử vọng về trong lòng làm cho ai nấy không khỏi trào lên bao nỗi bâng khuâng, bồi hồi, xao xuyến.
Nhìn qua cửa kính, tôi thấy nắng sớm hừng lên vàng ươm cùng với mây khói giăng mắc trên khắp lưng chừng núi gần, núi xa. Và rồi đâu đó trong tâm tưởng như nghe thấy vọng về rì rào trong gió chuyện xưa ở đại ngàn Khuôn Mánh. Bất chợt tôi lại nhớ đến sự kiện ngày 15 tháng 9 năm 1941; trong tình cảnh “giặc đến”, “giặc lùng” với hàng ngàn tên; cùng súng lớn, súng bé; đêm ngày bao vây, uy hiếp mà Đội Cứu quốc quân II vẫn cứ hiên ngang ra đời dưới sự chỉ đạo của Uỷ viên trung ương Hoàng Quốc Việt. Đội quân ấy ban đầu chỉ có 36 con người, sau phát triển lên thành 46 chiến sĩ. Vậy thôi, trong cái thủa ban đầu đầy rẫy những khó khăn, chỉ có những vũ khí thô sơ (súng kíp, lưỡi lê, giáo mác) nhưng lòng yêu nước quả cảm đã giúp họ làm lên những chiến công vô cùng hiển hách qua các trận đánh ở Đèo Bắp, Mỏ Nùng (Lâu Hạ), Suối Bùn (Tràng Xá), Lân Han, Cây đa La Hoá, châu lỵ La Hiên … Sau này, trong đội quân ấy, có một người con của tổng Lâu Thượng (nay là Võ Nhai) đã trở thành một vị tướng lừng danh và từng là nỗi khiếp đảm của giặc Pháp (Thượng tướng Chu Văn Tấn, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng đầu tiên, binh sĩ Pháp đặt biệt danh cho ông là “Hùm xám Bắc Sơn”). Thật lạ kỳ! Đất và người Võ Nhai lúc nào cũng ăm ắp cảm xúc thế đấy.
Cứ thế, miên man theo dòng ký ức, trên đường về Bắc Sơn, hiện ra trước mắt chúng tôi trong suốt dọc hành trình không chỉ có núi non trùng điệp với những bụi dã quỳ trổ hoa vàng rực, thấp thoáng bên đường hay những chòm hoa lau trắng tinh rung rinh trong gió, ở dưới chân núi cùng các bản làng nằm trên những cánh đồng và vườn cây xanh mướt, giữa những thung lũng đá vôi mà còn có cả âm vang của lịch sử bi thương, hào hùng của một thời khổ đau nhưng quật khởi trên khắp rẻo cao của quê hương cách mạng. Cho nên đến Bắc Sơn, thăm bảo tàng khởi nghĩa, ngắm nhìn tượng đài Du kích Bắc Sơn và những hình ảnh, hiện vật của cuộc nổi dậy được trưng bày ở trong bảo tàng, chúng tôi như được sống lại với những ngày gian khổ, sục sôi, bi hùng của ngày đầu tranh đấu vũ trang, cách đây tám mươi lăm năm về trước (ngày 27 tháng 9 năm 1940). Rồi lại nhớ đến vở kịch “Bắc Sơn” nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trong những ngày Vũ Lăng bừng bừng khí thế quật khởi. Như một thước phim hiện lên trong trí tưởng tượng, hình ảnh nhân dân rầm rập kéo nhau đi mít tinh; bao nhiêu thóc gạo, trâu bò đều được quyên góp, ủng hộ hết cho cách mạng. Và, tôi nhớ đến Thơm, một người phụ nữ Tày bình dị đã vượt lên trên cảnh ngộ đau thương của mình để đi theo kháng chiến, sẵn sàng xả thân vì cách mạng. Biết chồng (Ngọc) làm tay sai cho giặc, Thơm vẫn bất chấp hiểm nguy cứu hai cán bộ (Thái, Cửu) khi bị giặc đuổi và chạy nhầm vào nhà của Ngọc. Cái câu nói của Thơm: “Tôi chết thì chết, chứ tôi không báo hai ông đâu” và hình ảnh giữa đêm khuya, chị băng rừng vào trong căn cứ vừa tiếp tế vừa báo tin ngày mai Ngọc sẽ dẫn Tây đến đánh úp cho mọi người biết để kịp thời ứng phó, tôi chẳng thể nào quên. Những hình ảnh ấy cao cả biết bao! Người con gái Tày ở Bắc Sơn trong kháng chiến thật là đẹp đẽ!
Từ bảo tàng Bắc Sơn, chúng tôi tìm về dưới chân núi Nà Lay, thăm lại di tích lịch sử cầu Rá Riềng và chiêm ngưỡng toàn cảnh non xanh nước biếc hữu tình trên thung lũng Bắc Sơn. Cây cầu bây giờ không phải bằng gỗ và lợp mái lá như ngày khởi nghĩa mà được làm mới bằng bê tông; bắc qua dòng suối xanh biếc, uốn lượn trên cánh đồng làng Quỳnh Sơn một cách mềm mại như dải lụa. Cầu Rá Riềng nối hai đầu của con đường làng Quỳnh Sơn đi qua chân núi Nà Lay; một ngọn núi thơ mộng, cao khoảng hơn 600 mét, địa điểm leo núi, săn mây, chụp ảnh nổi tiếng ở Bắc Sơn. Nghe kể, trước ngày diễn ra cuộc khởi nghĩa, đội du kích ở Bắc Sơn đã mật phục và tập kích đoàn xe chở vũ khí, lương thực của thực dân Pháp khi chúng đi qua cây cầu. Du kích đã phóng hỏa, đốt cầu chặn đường đi của giặc. Tại trận tập kích này du kích quân Bắc Sơn không những đã thu được rất nhiều vũ khí của Pháp mà còn chặt đứt nguồn tiếp viện của bọn giặc để góp phần quan trọng, giúp cho nghĩa quân khởi nghĩa giành thắng lợi trong trận công đồn Mỏ Nhài, tối ngày 27 tháng 9 năm 1940. Thoạt nghe, trận đánh này tuy nhỏ nhưng xem ra ý nghĩa lại rất lớn. Sau này, theo đánh giá, người ta bảo, chiến thắng đồn Mỏ Nhài được xem là chiến thắng then chốt, có ý nghĩa mở đầu của phong trào Khởi nghĩa Bắc Sơn; cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời cũng là tiền đề quan trọng để hình thành lên những đội quân vũ trang và các căn cứ địa cách mạng sau này mà trước tiên là căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn - Võ Nhai.
Hơn tám mươi năm đã đi qua, cây cầu Rá Riềng và con đường xưa hẳn đã nhiều lần thay đổi nhưng ý nghĩa lịch sử của địa điểm trận đánh lịch sử trên cầu Rá Riềng dưới chân núi Nà Lay thì không có gì có thể thay thế được. Nó là nhân chứng của một thời kỳ lịch sử trong những ngày trứng nước của phong trào cách mạng. Đây là nơi diễn ra những trận đánh đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam. Ý nghĩa lịch sử ấy hẳn không có gì thay thế được. Ngắm nhìn cây cầu bê tông bắc qua dòng suối trong xanh, tôi ao ước con đường phục vụ giao thông sẽ được nắn lại và làm thêm một đoạn sang bên cạnh. Nơi cây cầu cũ và con đường xưa sẽ được phục dựng lại để làm điểm đến tham quan cho khách du lịch; đồng thời cũng là một nơi giáo dục truyền thống cho học sinh khi được “về nguồn”. Nghĩ như thế, trong lòng tôi bỗng lại rộn vang lên khúc ca tràn đầy khí thế hào hùng của Văn Cao về một thời oanh liệt trên đất này: “Bắc Sơn! Ðây hố sâu mồ chôn/ Rừng núi ngân tiếng hú căm hờn/ Bắc Sơn! Khi bóng trăng mờ sương/ Bắc Sơn! Không bóng người dưới thôn/ Giặc Pháp tàn ác giày xéo/ Từng xác ngập đất máu xương/ Nhà đốt, cầm giáo cầm súng/ Dân quân vùng ra sa trường/ Bắc Sơn! Nơi đó sa trường xưa/ Bắc Sơn! Ðây núi rừng chiến khu!”.
“Nhà sàn Tày soi bóng bên dòng suối”

Những nếp nhà mái ngói âm dương nép mình bên chân núi
Được bao bọc bởi bốn bề núi non trùng trùng điệp điệp, làng Quỳnh Sơn nằm trong một thung lũng khá bằng phẳng với những con suối trong mát hiền hoà, trôi nghiêng qua những cánh đồng trù phú, khiến người ta có cảm giác miền quê xứ Lạng hiên lên giống như một nàng công chúa vừa mới tỉnh giấc nồng giữa đại ngàn Đông Bắc. Tiếc rằng, về Quỳnh Sơn lần này chúng tôi bị lỗi “mùa chơi” nên không được “đã mắt” ngắm nhìn bức tranh mùa vàng trên cánh đồng Quỳnh Sơn hay được chiêm ngưỡng “tấm thổ cẩm khổng lồ” trải ra giữa mênh mông đất trời; từng làm mê mệt biết bao thợ ảnh. Tôi có anh bạn rất thích xê dịch và có kinh nghiệm “ăn chơi” ở xứ này. Có lần anh bảo tôi, đến Bắc Sơn phải đi vào mùa thu, tháng 8 thì mới thấy hết được cái thi vị của Quỳnh Sơn. Vào mùa thu, leo lên đỉnh núi Nà Lay, nhìn xuống chân núi nếu không được ngắm nhìn biển mây bồng bềnh trôi qua làng Quỳnh Sơn thì cũng được no nê con mắt bởi những bức tranh sắc màu rất đặc biệt của cánh đồng nơi đây. Trong khoảng tháng tháng 8, lúa trong thung lũng Quỳnh Sơn bắt đầu chín. Khi ấy, nếu lúa trong các ruộng chín đều thì cả cánh đồng sẽ bừng lên một sắc vàng lấp lánh, rực rỡ. Người ta gọi đấy là mùa vàng ở Quỳnh Sơn. Mùa ấy, mùi thơm và màu vàng của lúa chín tạo nên một vẻ đẹp lịm tim. Còn không, nếu lúa chín không đều, người ta sẽ thấy dòng suối trên cánh đồng Quỳnh Sơn như dát bạc uốn lượn quanh co bên các ruộng lúa. Có thửa, lúa chín đã gặt xong phơi màu đất nâu trong nắng thu; có thửa, lúa chín vàng óng ả rung rinh trong gió; có thửa, lúa đang uốn câu, vẫn còn xanh màu lá. Những thửa ruộng sắc màu như thế cùng dòng suối màu nước bạc đan xen với nhau làm người ta có cảm giác cánh đồng làng Quỳnh Sơn giống như một “tấm khăn thổ cẩm khổng lồ” trải ra giữa đất trời mênh mang. Tấm thổ cẩm ấy đẹp hút hồn, khiến người xem phải mê mải, đắm say.
Về làng Quỳnh Sơn lần này tuy hơi lỗi “mùa chơi” một chút nhưng chúng tôi vẫn thoả thuê con mắt khi được ngắm nhìn hàng trăm ngôi nhà sàn lợp ngói âm dương (còn gọi là ngói máng), nhìn rất cổ kính đang nằm nép mình dưới những chân núi hay nghiêng nghiêng soi bóng bên dòng suối xanh uốn lượn quanh co trên những cánh đồng trù phú để làm nên một nét hồn xưa xứ Lạng. Theo đó từ trên núi Nà Lay nhìn xuống, làng Quỳnh Sơn hiện lên trong tầm mắt với hàng trăm ngôi nhà nằm sát bên nhau như thể đang xếp hàng, đều tăm tắp. Những mái ngói âm dương; viên xấp, viên ngửa ngấm màu thời gian; nằm chồng lên nhau, từng hàng khin khít; nhìn như những ống máng úp ngược, thẳng tắp trên các mái nhà, chảy từ trên đỉnh nóc xuống hai mái hiên và hai bên chái. Những mái ngói phơi mình trong nắng, tắm mình trong mưa cứ lặng lẽ nghiêng mình dưới vòm trời mây trắng; trên những mái gỗ đơn sơ ấy không chỉ chắn nắng, che mưa, cản gió; làm cho tiết đông đỡ giá, mùa hè thêm mát, trời nồm bớt ẩm mà còn như chứa đựng cả linh hồn của rừng núi thân thương. Mái ngói rêu phong ấy dường như “biết kể chuyện” bản Tày ở nơi nó sinh tồn cho người mới đến. Viên ngói cong như lòng máng, ở hàng dưới, nằm ngửa mình lên trời gọi là âm; viên ngói cũng cong như máng, ở hàng trên nhưng nằm úp xuống, đè lên một nửa viên ngói nằm ngửa ở hàng dưới theo chiều dọc gọi là dương. Cách lợp ngói đè lên nhau như thế không chỉ có tác dụng gắn kết những viên ngói uốn cong, vốn tách rời nhau mà còn gửi gắm những niềm tin và mơ ước về sự sinh sôi, nhân khang, vật thịnh, no đủ bốn mùa của gia chủ những ngôi nhà sàn thân thương ấy. Ngước nhìn những mái ngói được sắp đặt nằm đè lên nhau tầng tầng, lớp lớp này người ta như thể cảm nhận được sự giao hoà của trời và đất; thấy được sự tài hoa, khéo léo của nhưng đôi bàn tay cùng tình yêu quê hương sử xở được của những con người Quỳnh Sơn ẩn chứa, gửi gắm vào từng đường cong uyển chuyển như những làn sóng gợn trên mỗi mái nhà rêu phong.
Chúng tôi đã từng đi qua rất nhiều bản Tày; đã ngủ trên không ít nhà sàn nhưng chưa thấy làng Tày nào độc đáo như ở Quỳnh Sơn. Những bản làng ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng … chưa thấy nơi nào duy nhất chỉ có một tộc (các làng thường đan xen nhiều tộc người khác nhau), chưa thấy ở đâu nhà cùng quay về một hướng (Nam), mái nhà đa phần lợp ngói âm dương như ở Quỳnh Sơn. Nhà sàn cổ của người Tày ở nhiều nơi lợp ngói âm dương cũng có nhưng đa phần chúng tôi thấy mái lợp bằng lá. Đến thăm Bắc Sơn tôi thấy người ở trong làng Quỳnh Sơn chỉ có duy nhất một tộc Tày họ Dương (cùng họ Dương nhau có các chi khác nhau: Dương Công, Dương Doãn, Dương Đình …). Những người Tày ở Quỳnh Sơn bảo nhau làm nhà lưng tựa vào núi, mặt nhìn phương Nam. Sự thống nhất ấy nói vui thì bảo là để thể hiện sự thống nhất, đoàn kết của dân làng nhưng theo phong thuỷ thì đây là hướng đắc địa. Những người họ Dương ở Quỳnh Sơn tin rằng, nhà tựa vào núi thì vững chắc, hướng Nam tránh được gió lạnh, đón được gió mát nên ấm về mùa đông, mát về mùa hè. Hơn thế, đây là hướng thu hút được nhiều tài lộc cho gia chủ. Họ bảo, các cụ truyền dạy “lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam” nên cứ học theo thôi.
Nhà ngói âm dương ở làng Quỳnh Sơn, nhiều ngôi có tuổi đời trăm năm. Bề ngoài nhìn thô mộc với các cột nhà được xẻ hình vuông hoặc đẽo hình tròn, không đồ sộ, được kê cẩn thận trên những phiến đá nhưng thực ra đó là những loại gỗ rất tốt, thuộc hàng quý hiếm của rừng của núi từ xưa như thể cây nghiến, cây lý, cây đinh, cây lim … Kiến trúc nhà sàn cổ ở đây không quá cầu kỳ. Đa số là những ngôi nhà ba gian hai chái hoặc năm gian hai chái. Thời xưa, tầng dưới nhà sàn dùng để đồ đặc và nuôi nhốt gia súc gia cầm; tầng trên có để bếp củi và cũng là không gian sinh hoạt chính của con người. Nay, vật nuôi được đưa ra xa nhà cho vệ sinh, tầng dưới nhà sàn thường là nơi để đồ dùng, xe cộ; cất giữ lương thực, chất đốt (củi) … Ở trên nhà sàn, người Tày rất chú trọng gian thờ. Thường ở gian thờ này họ trang trí rất cầu kỳ và đẹp mắt với sắc màu rực rỡ (chủ yếu màu đỏ) để thể hiện sự tôn kính thần linh, tổ tiên cũng như gửi gắm những cầu nguyện, mong ước. Theo năm tháng, cảnh vật xung quanh ngôi nhà xem ra cũng đã có ít nhiều những thay đổi. Những hàng rào xếp đá dường như chỉ còn thấp thoáng và thay vào đó là tường gạch xi măng; thẳng, đẹp, gọn gàng nhưng có vẻ còn xa lạ. Một vài nhà nghỉ, homestay … làm du lịch thoạt nhìn thấy cũng có vẻ chú ý tôn tạo cảnh quan cho gần gũi với thiên nhiên bằng những tiểu cảnh, hàng rào cây xanh, đường hoa … nhưng để ý cũng sẽ nhận ra “những cảnh sửa sang” của “hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng” kia cũng chỉ là theo kiểu “học đòi bắc chước vẻ hoang vu”; còn nhiều gượng gạo. Nhưng có lẽ, bao trùm lên tất cả, dạo khắp trên đường làng, ngõ xóm; người đến Quỳnh Sơn đều có chung cảm xúc thích thú trước những tấm lòng cởi mở, thân thiện, chất phác và rất hiếu khách, nhiệt tình của những người bản địa cùng với cái bầu không khí trong lành, yên ả, thoáng đãng đến rất dễ chịu của núi rừng nơi đây. Đến đây, người ta sẽ thấy bước đi chậm chạp của thời gian, tưởng chừng như ngưng lại. Hình như, thời gian ấy không phải do sự vận hành của đất trời mà do cái nhịp sống bình yên, thong dong của miền sơn cước. Có lẽ vì thế mà ngôi làng nhỏ bé dưới chân núi Nà Lay này đã làm cho thế giới phải ngả mũ công nhận đây là một trong những ngôi làng du lịch tốt nhất hành tinh.
Nét đặc sắc nhất của làng Quỳnh Sơn có lẽ là những ngôi nhà, đặc biệt là những mái ngói âm dương. Nó gợi lên nét đẹp rêu phong của làng Tày cổ kính xứ Lạng. Bởi thế, du khách đến Quỳnh Sơn mà không thả hồn cùng trí tưởng tượng trên những nhà sàn lợp ngói ngửa ngửa úp úp và trải nghiệm cùng với nghề làm ngói âm dương thì xem ra vẫn chưa được trọn vẹn. Bắc Sơn từng nổi tiếng nghề làm ngói âm dương. Tuy nhiên, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là vật liệu xây dựng mà nghề làm ngói này xem ra có vẻ ngày một lép vế. Ở nhiều nơi, làm nhà sàn bây giờ, người ta không đổ bê tông thì cũng dùng tấm lợp bằng kim loại hay nhiều loại ngói đất nung khác … cho nên dòng ngói âm dương lại thành thứ vật liệu ít được quan tâm. Bây giờ lợp ngói âm dương chỉ có người mang lòng hoài cổ, muốn giữ gìn bẳn sắc của quê hương, của tộc người thì mới chịu “chơi” thứ hàng “xa xỉ” này mà thôi. Có lẽ vì vậy mà nghề làm ngói máng truyền đời hàng trăm năm ở Quỳnh Sơn nghe có vẻ cũng đang ngày một ít người làm. Trên đường trở về, từ làng Quỳnh Sơn đi ra trung tâm phố núi Bắc Sơn, chúng tôi may mắn gặp được một lò sản xuất ngói âm dương. Tất nhiên, không thể bỏ qua, chúng tôi dừng lại thăm quan lò ngói ấy và thăm hỏi, tìm hiểu cái quy trình làm ngói đặc biệt này. Theo đó chúng tôi được biết, người ta dùng đất sét để làm ngói âm dương. Để làm được viên ngói, người thợ phải thực hiện qua năm quy trình. Đầu tiên là thái đất nhỏ, loại bỏ sỏi. Thứ hai là tưới nước và ủ đất (ba tuần). Thứ ba là nhào đất (dùng chân dẫm đạp, tưới nước trộn đều cho thật nhuyễn, dẻo). Thứ tư là làm thành viên ngói mộc (cho đất đã nhào vào khuôn, dùng kéo cắt đất cắt bỏ phần đất thừa, rồi nhấc ngói ra, xếp gọn lại để cho khô - phơi khoảng hơn một tháng, tuỳ theo thời tiết). Thứ năm là cho ngói vào lò và nung chín (nung liên tục trong mười ngày đêm). Chợt nhớ, dưới gốc đa bên đình làng, trước cổng trường học ở Quỳnh Sơn, tôi thấy ngói âm dương được xếp thành từng chồng, để trong lồng sắt, bày quanh gốc đa. Phải chăng với những lồng ngói này, người Quỳnh Sơn muốn làm một bảo tàng về viên ngói máng của quê hương; muốn giới thiệu với khách thập phương về một thứ “đặc sản” của quê mình. Có lẽ phải yêu những viên ngói này lắm; muốn giữ hồn cho những viên ngói âm dương lắm thì người dân mới quảng bá và giữ gìn như thế?
Chia tay Bắc Sơn, tạm biệt làng Tày với những mái nhà âm dương cổ kính dưới chân núi Nà Lay; trở về mà lòng không khỏi vấn vương hương rừng sắc núi chiến khu. Một ngày trên miền quê “sắc chàm pha màu gió” có lẽ chưa đủ nên còn hẹn lại.
P.A
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Ngày 24/11 hằng năm là NGÀY VĂN HÓA VIỆT NAM
BA BÀ CỤ Ở CUỐI XÓM
ĐỨA BÉ
ĐỌC THƠ CÙNG NHAU
Khi cái đẹp còn đang ngủ yên
GIỮA NHỮNG ĐƯỜNG BIÊN
THƯƠNG NHAU NGÀY TẾT
CHI HỘI 3 - HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI TỔNG KẾT CT NĂM 2025
CHÂN MÂY (1)
NHẠC SĨ ĐOÀN BỔNG ĐÃ ĐI VỀ DÒNG SÔNG ẤY…
CUỘC THI tìm hiểu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVIII,
Đông vui như chợ quê ngày Tết
Mẹ tôi và những vật dụng nhà nông xưa cũ
Chờ đợi
Mùa này cải đã ra hoa