Bến bờ ký ức   

Thứ sáu - 27/03/2020 20:47
Tùy văn của Lê Thị Mây
images
images

         1. Có bạn đọc hỏi các truyện trong Tuyển tập truyện ngắn, NXB Hội Nhà văn, 2017, tôi tâm huyết với truyện nào? Tôi cười giả lơ vì khó trả lời. Trong 19 truyện, có bảy truyện dài. Dù truyện ngắn hay truyện dài, mỗi truyện, tác giả phân thân, nhập thân vào nhân vật. Đấy là bấy nhiêu bến bờ  ký ức đời người, đời văn. Mỗi bến đi, về có lở, có bồi. Sóng thì vỗ vô hồi, buồn, vui mọi nỗi. Nỗi buồn, vui trung tâm của mỗi truyện, mỗi số phận, bao giờ cũng bắt đầu từ nhịp đập của nhân vật nữ, trái tim phụ nữ.
Truyện Dưới chân cây đèn biển là câu chuyện về chiến tranh và hòa bình từ góc nhìn của con trẻ mồ côi. Bé Rơm, thằng Rơm, lùn Rơm cùng lũ trẻ mồ côi của phố đổ không thể ra khỏi chiến tranh. Dưới đây là lời của bé Rơm khi đưa cô nó xuống ngôi hầm kho hậu cần đã được nó và bé Cầm biến thành Bảo tàng Mũ rơm. Những chiếc mũ rơm được nhặt nhạnh sau những trận bom. Những chiếc mũ không có đầu con trẻ:
“- Thưa cô, rồi cháu linh cảm cháu lo sợ căn hầm của bà Trầm cũng sẽ bị bom toạ độ, nên cháu đã mang những chiếc mũ đi sơ tán. Chú Thứ đã bảo cháu đưa về đây. Chú vừa cười vừa như mếu nói, hết chiến tranh chú sẽ lập viện bảo tàng mũ rơm.
- Cô nhìn xem. Rùa cũng chưa ra khỏi chiến tranh cô ạ!
Nói thế rồi Rơm cúi xuống bế chú rùa nhỏ lên, như bế một con cún con thân thiết. Lúc này người cô mới chú ý đến con vật, lòng đầy kinh ngạc, lại cũng vừa càng xót xa thương cháu. Có thể hình dung gắn cho rùa là động vật không có chiều cao, bước tiến của nó là bước lùi, sự tương đồng tương hợp gì đây? Giữa rùa và người. Giữa người lùn và rùa. Bây giờ thì rõ ràng rồi. Cháu của chị, thằng Lương suốt đời mang bộ mặt trẻ con và khó lòng đi ra khỏi cái trận đồ bát quái của tội ác mà bọn giặc lái Mỹ đã gieo vào số phận nó.”
     Bến bờ ký ức đi qua cuộc chiến tranh dày đặc tựa sao khuya khắp bầu trời suốt cả hàng nghìn đêm thức trắng, quyết giành nền độc lập từ tay các đế quốc hung tàn xâm lược.

*
       Trong ngần ấy tác phẩm được tuyển chọn cho tuyển tập truyện ngắn đều xoáy một chủ đề xuyên suốt về chiến tranh và hòa bình. Về hy sinh và quyết đánh, bám thắt lưng địch mà đánh, mà không sợ Mỹ, quyết thắng Mỹ, giành độc lập thống nhất non sông. Trong bài viết này, tôi chỉ tách riêng, nói về truyện dài Ký ức dòng sông. Truyện này tên ban đầu của nó là Bến bờ Ký ức. Khi nhà văn Trần Thanh Hà biên tập đầu sách “Huyết ngọc”, NXB Công an, 1998, đổi thành  Ký ức dòng sông. (gợi về sông Bến Hải, với con cầu Hiền Lương). Vào hè 1996 để có hích, vũ cuộc thi thơ, truyện và ký, Ban biên tập Tạp chí Cửa Việt tiếp mở một trại viết tại Cửa Tùng. Cửa Tùng là của sóng đón nguồn sông Bến Hải đổ về, hướng mặt ra Đảo Cồn Cỏ. Cồn Cỏ được Nhà nước Phong tặng Đảo Anh hùng lực lượng vũ trang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cửa Tùng thời Pháp là bãi tắm nữ hoàng, có nhà nghỉ của vua Bảo Đại. Từ Cửa Tùng, đi dọc bờ biển theo hướng nam sẽ gặp Cửa Việt. Đi về hướng bắc, cửa Nhật Lệ, cửa Gianh. Cửa Việt, cửa sóng đón nước ngã ba sông Hiếu, sông Thạch Hãn. Bờ bắc Bến Hải là huyện Vĩnh Linh. Bờ nam huyện Do Linh. Dòng sông đau thương hệt một lưỡi kiếm sắc lật ngửa, máu chảy suốt hai mươi mốt năm, Pháp-Mỹ âm mưu, đổi ngôi tiến hành chia cắt, xâm lược đất nước ta.
Thời chiến tranh, bấy giờ Đông Hà vừa được giải phóng, ta và giặc ở thế cắm cờ cài răng lược; tôi đã đi cùng với em trai, từ cửa biển Nhật Lệ vào Dốc Sỏi thì rẽ hướng đông băng về Cửa Tùng. Bên Hữu ngạn sông là đất Gio Linh. Cử ấy trăng non (7.1974), treo lơ lững từ buổi hoàng hôn. Em trai tôi lúc này theo học lớp sơ cấp sư phạm tỉnh Quảng Trị, đóng ở Do Linh. Đang con nước ròng, bờ cát bãi ngang thênh thang tựa một đại lộ lớn. Hai chị em đèo nhau bằng chiếc xe đạp, được chỉnh xích rất chuẩn để bon bánh, bánh xe không bị lún cát, tránh được đôi chỗ eo bờ bò lan dây hoa muống biển. Chiều muộn qua được sông, tối hôm sau, hai chị em ở lại ngủ với du kích Thôn Chín. Các em gái du kích kể rất nhiều chuyện. Sáng sớm, em trai tôi tìm đường cuốc bộ về trường, tôi ở lại Thôn Chín, đi theo các em du kích tìm hiểu, lấy tư liệu cho chuyến đi thực tế. Các em đưa tôi đến thăm nhà bà cụ được bà con lối xóm gọi là Mẹ chiến sĩ, nhưng cụ vừa đi vắng. Các cháu nhỏ bảo cụ vừa gánh gánh nước chè xanh lên trận địa pháo. Chúng còn bảo, trên mỗi đầu đòn gánh còn treo tòng teng hai bi đông nước chè xanh có thả mấy viên đường phèn to lắm. Là để giành cho hai chú đang lên cơn sốt muỗi vàng. Tôi ôm chầm đứa bé nhỏ nhất, mắt rớm lệ. Tóc nó bù xù, lấm bết cát vàng sau đêm mưa. Khuya đó tôi viết bài thơ Bà Mẹ cửa Việt, được in trong nửa tập thơ đầu đời, Những mùa trăng mong chờ.

Con tìm về nhà mẹ
Vườn cát đầy dấu chân
Đọt khoai bò đất cũ
Gà chiếp nắng đầy sân

Hỏi láng giềng xa gần
Mẹ vừa lên trận địa
Hương trầu say còn cay
Trong tiếng cười đồng đội

Mẹ vừa đi đấy thôi
Phơ phơ mái đầu bạc
áo dài thả mây trôi
Mẹ vừa đi đấy thôi

Con gái mẹ giặc giết
Ngày chúng càn vào thôn
Chồng mẹ đi tranh đấu
Yên nghỉ ngoài Côn Lôn

Ôi mẹ già Cửa Việt
Tám mươi tuổi chưa yên
Mẹ đi thăn con cháu
Khắp trận địa tiền duyên

Tuổi mẹ già vươn cao
Giữa ngày xuân chiến sĩ
Bên kia chốt quân thù
Súng gục quỳ trước mẹ.

1974

*
        Một hai hôm sau, sổ tay đầy nghẹt tư liệu, lúc chiều muộn tôi theo dò dọc lên Đông Hà. Đấy là một chuyến đò dọc nhớ đời. Tôi ngồi ở đầu mũi đò. Chợt phía đang lái có một giọng hò cất lên. Giọng hò của chàng trai cầm lái, hòa lẫn vào tiếng cười của các cô gái, lưng đeo lựu đạn, vai có cô khoác cây súng trường. Giọng hò, tiếng cười ám tượng mãi vào tâm khảm, hội tụ, xâu chuỗi nhiều mảnh ký ức, tư liệu chiến tranh dính kết vào nhau lan tỏa không ngưng. Nó nhào trộn vang vọng những câu hò mái nhì mái đẩy, hò khoan, hò xố, hò hợi của các miền sông nước. Những cửa Gianh, cửa Nhật Lệ, cửa Tùng, cửa Việt. Từ Cửa Tùng nhìn ra đảo Cồn Cỏ. Biển đảo Cồn Cỏ là cửa ngõ vịnh Bắc Bộ. Chuyến đò dọc ấy tôi như người ngợp trong men say hiện thực để dấn thân vào “lạ hóa” hiện thực theo hướng lãng mạn bi hùng ở nhiều cấp độ vừa bay bỗng, vừa bám sâu vào bến bờ ký ức, tư liệu lịch sử. Cảm thức “lạ hóa và bay bỗng” trong đêm viết bài thơ Bà mẹ cửa Việt bắt đầu từ một nốt nhấn giọng ca sĩ Tân Nhân hát bài Xa khơi mà tôi ngưỡng mộ. Xa khơi được phổ nhạc từ bài thơ của nhà thơ Hà Nhật.
Từ tả ngạn Cửa Tùng, nhìn sang bên hữu ngạn có một làng quê danh tiếng, thuộc đất huyện Gio Linh. Miền đất ấy là quê chôn nhau cắt rốn của nhiều giọng ca vàng, trong đó có ca sĩ Tân Nhân. Tân Nhân, một cái tên, một giọng ca hay, gợi xúc động đến đến nhói tim. Cùng với bài Xa khơi, bài Bên kia bờ Hiền Lương, Quảng Bình quê ta ơi, luôn hòa phối âm vang cùng với giọng hát, giọng ngâm thơ của chị Linh Nhâm, là chuỗi nhạc và thơ đầy chất thần thánh với riêng tôi. Bao nhiêu lệ đã rơi theo tiếng hát, giọng ca vàng từ Đài Tiếng nói Việt Nam, phát đi từ Hà Nội! Bao nhiêu bậc đá, bậc thác mòn dấu chân, dấu gậy theo tiếng hát của các chị mà hành quân ra trận.
Mỗi chiều, trong trong hai tuần lễ mở trại viết, tôi thường giành thời gian rời bàn viết, đi dọc bãi tắm Cửa Tùng, đặt chân tới đầu cửa sóng nhìn sang bờ Nam, tức bên hữu ngạn, rồi đi ngược chừng gần cây số, gặp đồn biên phòng. Đi thêm một chặng nữa là gặp các bến đò thoắt ẩn hiện. Đấy là những bến đò B. danh tiếng: hằng đêm đưa du kích và cả bộ đội huyện, tỉnh từ bờ Bắc vào đánh trận “Ăn cơm Bắc đánh giặc Nam”, chớp nhoáng, kiểu đặt công. Rạng mờ đất rút quân trở về tả ngạn Hiền Lương. Thực ra, từ đầu nguồn về đến Cửa Tùng, suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mỗi lòng dân là một bến đò liền Bắc liền Nam. Mỗi trận đánh là một bến bờ chiến tích, một bến bờ tiếng hát, giọng ngâm thơ, giọng ca vàng của các ca sĩ nghệ sĩ đầy xúc động. Một bầu trời xanh bình yên, lan tỏa khôn nguôi về tình người, tình yêu, tình thương. Nỗi yêu nước thương nòi, rất xanh màu xanh Quảng Trị, trong sắc thái cảm xúc thăng hoa của nhà thơ Tế Hanh: Trời vẫn xanh màu xanh Quảng Trị.
     Nhân vật chính, nhân vật trung tâm của truyện: Nhơn và bà Thang, hệt hai dòng sông hợp lưu nên một dòng chảy bi tráng, bi hùng. Khởi nên dòng chảy của cốt truyện, tùy ứng cảnh, xuất hiện các cụm nhân vật tiếp theo. Anh Tính, Tòng. Ông Hữu, hai cô con gái, cô Cải, cô Ngò... Sum vầy và chia ly. Dòng sông thời gian của đời người. Và cũng là dòng sông của hòa bình, bị kẻ xâm lược biến thành nỗi đau đất nước chia cắt. Bom đạn khốc liệt, chết chóc bi thương. Trên hiện thực của cuộc kháng chiến, chảy ngầm sâu trong lòng người, hồn người, đời người là dòng chảy văn hóa. Tiêu biểu, biểu tượng cho dòng chảy văn hóa ấy chính tiếng hát, giọng hò khoan nhặt theo dòng sông bình yên. Đám cưới, tiếng cười và nước mắt trầu cau. Tôm cá. Lễ hội, đua trải... Tất cả, tất cả, biết bao nhiêu bến bờ, bấy nhiêu nhân vật. Trong 19 truyện, mỗi truyện là một dòng sông ký ức. Tất cả, tất cả mọi bến bờ đều hội tụ về trung tâm tình yêu, xâu chuỗi lại thành bố cục truyện, thành chuỗi cườm tâm niệm hy sinh cho Tổ quốc quyết sinh, cho nước nhà thống nhất, Bắc Nam sum họp.

      2. Trong truyện dài Ký ức dòng sông, tình yêu của Nhơn, của Mai, tình yêu của mấy chị em cô Cải, cô Ngò, lan tỏa nhiều lớp, nhiều cung bậc cảm xúc. Mỗi sự đời, mỗi bước ngoặc số phận, từ hiện thực đời sống, nếp gia phong chảy xiết thành dòng chảy chủ đề truyện, chủ đề nhân văn  tác phẩm. Trong bấy nhiêu nhân vật của truyện, nhân vật Nhơn, là phiên bản giọng hát của ca sĩ Tân Nhân. Là phiên bản của giọng hò khoan nhặt của chị Kỷ, một giọng hò vàng của miền sông nước Kiến Giang xuôi về cửa Nhật Lệ. Chị Kỷ có bố là cụ Bơi cũng là một giọng hò nam trầm, nghiêng ngã trời đất sông nước Kiến Giang. Kiến Giang về ngã ba Quán Hàu và từ ngã ba Quán Hàu đổ về cửa biển, được gọi, trở thành sông Nhật Lệ. Bên Hữu ngạn Nhật Lệ có giọng hò mái nhì mái đẩy, hò xố hò hợi của dượng Gà và O Mùng. Đấy là một cặp giọng hò vàng trai tài gái sắc của làng Sáo, quê chôn rau cắt rốn của tôi.
      Tôi viết truyện Ký ức dòng sông,  khi đi dự trại viết  tại Đồ Sơn trước khi về nhận công tác mới, chuyển từ Quảng Trị ra Hà Nội. Bấy giờ, tôi đã bàn giao, thôi giữ chức Tổng biên tập Tạp Chí Cửa Việt. Tôi viết trong một trạng thức bàng hoàng “một ra đi khó trở về” khi tóc đổ bạc, mây trời phủ trắng triền non. Ca sĩ Tân Nhân đi từ quê với một giọng ca vàng, khi nghỉ hưu lại về tuốt trong thành phố Hồ Chí Minh. Nhà thơ Hà Nhật viết Xa khơi bên cửa sông Nhật Lệ, khi nghỉ hưu cũng định cư tại thành phố Hồ Chí Minh. Qua điện thoại, từ đầu dây bên kia, nhà văn Trần Phương Trà cho biết, phu quân của ca sĩ Tân Nhân là nhạc sĩ danh tiếng, con trai là nhà văn Châu La Việt. Anh vừa có hai bài viết, in trên tạp chí Cửa Việt: Mẹ tôi và ca sĩ Tân Nhàn, số tháng 3/2019 và Tôi yêu thơ ông suốt cả một đời, số tháng 7/2019. Tôi cảm động, đọc nhiều lần. Gấp trang tạp chí, mắt nhòe lệ...
     Tôi đau đáu hình dung Nhơn vừa phiên bản của Ca sĩ Tân Nhân, vừa là phiên bản của tác giả Lê Thị Mây? Chân trời tưởng tưởng đầy sự phiêu bồng nhưng luôn xuất phát từ căn cốt hiện thực cần phản ánh soi chiếu, băng qua ngưỡng vô lý và rất phi lý để đạt tới chân lý. Nó giúp tôi nạp năng lượng cho sự tưởng tượng, nạp năng lượng cho sức bút sáng tạo tác phẩm. 
*
       Khi cầm trong tay quyết định chuyển công tác, lên chuyến tàu S1 ra Hà Nội, tâm tư tôi bị giằng xé hai chiều. Hồn đất, hồn người qua trang tác phẩm của cuộc thi thơ, truyện và bút ký được đăng tải trên tạp chí, xiết chảy thành một dòng ngầm cộng hưởng đa chiều nỗi ghi khắc tình quê của các tác giả, vào lịch sử dư địa chí văn hóa Quảng Trị. Sau cuộc thi, các tác phẩm dự thi được tuyển chọn in thành các đầu sách, thơ, truyện và bút ký. Kinh phí cho cuộc thi và in các đầu sách có hơn phần nửa là tiền ủng hộ tài trợ cho Tạp chí từ các đơn vị, bạn đọc  yêu Cửa Việt. Đấy là thành quả lớn của cả một tập thể của cả một vùng quê “Trời vẫn xanh màu xanh Quảng Trị”.
Và đồng thời là vĩa quặn về tất cả những gì tôi làm được, cố gắng góp nhặt được, đã chợt bừng thức, cho tôi tri ân, tri ngộ, ngoái tìm những dấu chân đầy ắp tư liệu của chính tôi mà thăng hoa vào trang viết, viết nên được Ký ức dòng sông. Một truyện dài bấy nhiêu trang viết trong một tháng, liền một mạch, ít xập xóa. 
     Từ chuyến đò dọc từ cửa Tùng lên Đông Hà, một tuần sau tôi lại tiếp dò dọc lên Ba Lòng đến đơn vị Quân Đoàn2. Những ngày ở Đông Hà, tôi may mắn gặp họa sĩ Lê Duy ứng. Anh đang đứng trên thùng xe tải, xe chạy chậm vẫy tay gọi tôi tíu tít. Sao Lê Duy ứng nhận ra tôi đang đứng bên vệ phố gạch vữa đổ nát chưa dọn kịp nhỉ? Anh cầm mũ tai beo vẫy liên hồi. Rồi tình cờ tôi nghe câu chuyện của một cánh lính trẻ nói về câu chuyện tình của một thiếu nữ Hà Nội giành cho họa sĩ Lê Duy ứng, rất cảm động. Trong chiến dịch 30 tháng 4 năm sau, 1975, anh bị thương trước cửa ngõ vào Sài Gòn trong đội hình sư đoàn tăng đánh vào Dinh Thiệu-Kỳ-Hương.
Chiếc xe tải đi khuất, tôi đứng tần ngần mãi bên vệ phố, rồi tìm đường tắt đi về trại viết của Quân đoàn2 đang mở ở thôn Trà Liên có rất nhiều cây bút danh tiếng, hoặc đã có thơ in trên các tờ báo mà tôi đã đọc. Có anh Vũ Thuộc, anh Đệ, anh Huynh. Có Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Quang tính, Lý Hoài Xuân... Từ trại viết của Quân đoàn2 ở Trà Liên, tôi sẽ sang sông. Qua đò ái Tử, bên kìa là quê nội, làng An Mô, và cả quê ngoại, xóm Trà, chợ Sãi. Tôi sẽ cùng chị Hoài Nam lên tuyến chốt Chợ Sãi làm công tác binh vận. Chương trình đã chuẩn bị sẵn. Chị Hoài Nam sẽ đọc lời binh vận. Có thể sau đó tôi đọc thơ. Giọng chị Hoài Nam giọng Bắc. Tôi giọng Quảng Bình, pha giọng chợ Sãi của mẹ

     * Bị sốt, lính Trường Sơn truyền nhau ăn ớt chỉ thiên, chống rét, run rẩy bật chăn bật đá. Trong truyện Ký ức dòng sông, vườn ớt của gia đình Nhơn hiện diện, vào vai nhân vật. Vườn ớt ghen ấy, của Nhơn vừa ngữ cảnh miêu tả, ứng biến tâm trạng vừa là nhân vật ảo đỡ lưng nhân vật. Là Nhơn. Là Mai... để triển khai bố cục truyện, chuyển tải tính cách của Nhơn. Yêu và ghen. Ghen và cả nghen. Can trường, kín đáo và nhân hậu. Đối mặt chiến tranh Mỹ gieo rắc chết chóc, và hoạt kế đối nhân xử thế một cách hoàn hảo trong mọi tình huống hiểm nghèo. Nhơn và bà Thang được xây dựng cốt cách nén căng ở trong tâm thế thuốc nổ. Mỗi lời thoại, mỗi việc làm, mỗi cử chỉ hành động trung trinh, tiềm ẩn sức mạnh truyền thống. Gọi đúng đấy là sức mạnh lòng dân. Gọi đúng đấy là sức mạnh dư địa chí văn hóa của mỗi vùng đất nói chung và của riêng mỗi số phận, lòng dân yêu nước thương nòi...
      Bộc bạch nhiều, bày tỏ nhiều ở bài viết này tôi e sợ làm nhạt truyện, không chuyển tải nỗi sức nặng văn bản gốc tác phẩm. Tôi nhớ mãi cuộc trò chuyện trao đổi với một độc giả tại nhà sách Tràng An. Ông tự giới thiệu là cán bộ của Bộ Giáo Dục và đã đọc tập truyện chọn lọc Huyết Ngọc, NXBCA, 1998 của tôi. Ông thích và khen truyện Ký ức dòng sông. Hôm ấy lắng nghe ông lòng tôi vui khấp khởi. Chủ nhà sách Tràng An, anh Phúc pha thêm tuần trà cũng vui theo câu chuyện, nhận 100 cuốn Bến bờ hạnh phúc , NXB Hội Nhà văn, 2008, tôi ký gửi, nhờ phát hành. 
                                                               16.12.2018
                                                                     LTM

Nguồn tin: Trần Gia Thái

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây