KHI MÙA XUÂN TRỞ LẠI - Đặng Trung Lạc

Chủ nhật - 01/11/2020 21:21
Truyện ngắn của Đặng Trung Lạc
KHI MÙA XUÂN TRỞ LẠI -  Đặng Trung Lạc
     Một dòng máu đỏ thắm xối xả phun ra từ cái cổ vừa bị mảnh bom lia đứt của tiểu đoàn trưởng Trọng Mại. Anh gục ngã, thân thể người chỉ huy bị băm ra, chẳng còn chỗ nào được nguyên vẹn. Cậu trợ lý tác chiến hốt hoảng gào lên:
Thủ trưởng … Thủ trưởng
Vẫn dòng âm thanh hỗn loạn hoang dã. Đất đá, mảnh bom và khói bụi văng ra tung toé. Sau trận mưa hỏa lực, bọn địch lại cố sống, cố chết nhào lên. Đồng đội anh bị thương, hy sinh gần hết. Những xác người trong bộ quần áo xanh màu rừng nằm dưới lòng hào tơi tả. Bao xe đựng đạn, dây lưng móc lựu đạn cũng theo người mà nằm rải rác hố cá nhân đào vội. Hận thù như ngọn lửa cháy bùng lên dữ dội. Anh nhào đi, nhào lại, anh vừa chửi thề vừa gom tất cả những gì mà đồng đội chưa kịp sử dụng để trên bờ chiến hào. Anh nghiến răng quét từng loạt tiểu liên AK 47, ném từng chùm hai trái lựu đạn da láng về phía những cái bóng rằn ri đang lao tới …
Bóng đêm trùm xuống. Bọn địch đã chiếm được trận địa. Trên đỉnh 1045 ngổn ngang xác quân ta, quân địch. Từng chuyến trực thăng HU 1A đáp xuống rồi lại bay lên mang theo những thằng thủy quân lục chiến Mỹ chết, bị thương về căn cứ. Vài chuyến bay sau cùng, chúng gom xác những người lính giải phóng lại rồi bay đi đổ xuống đâu đó trên những khu rừng nguyên sinh bên tây dải Trường Sơn …
Nhá nhem tối, Hồ Niêng nghe có tiếng nhiều cái máy bay trực thăng lượn đi, lượn lại trên khu rừng đầu bản.Hẳn người ác nó lại cho quân càn vào rồi Hồ Niêng nghĩ, từ đấy cô không tài nào nhắm hai cái mắt lại được …Khi tiếng chim Từ Quy vừa dứt thì Niêng chồm dậy, chạy ngay qua nhà già Coóng:
Già bản à! Có càn không?
Ồ! Hồ Niêng địch không có càn vào bản đâu.
Vậy cái tiếng máy bay buổi đêm đó …
Già không biết mà. Mọi người về nhà hết rồi.
Nghe vậy cô yên tâm vào rừng tìm nấm. Vừa ngược lên con dốc được một đoạn đã thấy Niêng chạy bổ xuống, mặt tái xanh như lá cây môn thục mọc bên suối. Vừa chạy Niêng vừa kêu lên thất thanh:
Già bản à! Cái bộ đội giải phóng nó chết trên rừng nhiều lắm…
Già chạy vội xuống cầu thang. Cả bản chạy túa theo người già vào rừng.
Hơi ấm từ khuôn ngực nở nang của cô gái làm Thà tỉnh lại. Cái đau dữ dội từ đôi chân hất ngược lên đỉnh đầu rồi lại từ đỉnh đầu tràn xuống làm tâm trí anh hoảng loạn. Cảm giác ớn lạnh, co cứng lại đến để rồi anh  xỉu đi trong tiếng lay gọi hối thúc của người con gái trẻ.
Tỉnh đi bộ đội! tỉnh đi nào, mày đừng có chết mà, đừng có chết …
Âm thanh lơ lớ ấy loang ra, lẩn vào màn sương nhờ nhợ trên đỉnh núi rồi bị hất ngược trở lại đặc sánh chìm trong ngôi nhà sàn bé bỏng. Anh lại nghe tiếng xào xạc của lá, tiếng lảnh lót của bày vượn chuyền cành, hái quả trong màu xanh bạt ngàn hoang lạnh của rừng. Anh từ từ mở mắt. Cô gái! Không! Thêm hai người đàn ông trung niên ngồi bên cạnh. Họ đang trao đổi với nhau bằng thứ ngôn ngữ mà … chỉ có trời mới hiểu. Nén đau, anh nhìn xuống chân mình: Chỗ đó bùng nhùng vải rách, thịt và xương hồng lòi ra. Cái quần lính màu xanh lá cây ám khói, bùn đất, bị đạn nhọn khoan những cái lỗ chi chít trên đó.
Trời ơi! Anh đang ở đâu thế này? Cô gái kia là ai? Hai người đàn ông ở trần vận khố bên ta hay bên địch… Nghẹt thở, anh rên lên khe khẽ rồi chìm nghỉm vào cái khoảng không gian đen đúa, đặc quánh mùi tanh của máu. Thứ ngôn ngữ “có trời mới hiểu” kia lại như từ một nơi xa ngái vọng về. Cả tiếng bổ, tiếng chẻ, tiếng vót gì đó dội vào, loang ra trong cái đàu lúc mê, lúc tỉnh của anh. Vật vã, giằng xé, quặn thắt, mong manh giữa nằn gianh sinh tử, cuối cùng anh đã tỉnh hẳn. Cô gái mỉm cười, hai người đàn ông mỉm cười với những khuôn mặt hốc hác sau nhiều đêm mất ngủ. Họ, ba người ấy đã giữ lại được mạng sống cho anh. Thật kỳ diệu, những bài thuốc lá bí truyền của người dân tộc thiểu số giúp anh mau chóng bình phục, nhưng mà đôi chân… đôi chân ấy tồn tại cho đủ bộ thôi chứ nó không giúp anh đứng được, đi được. Bao nhiêu ngày đã qua: Cũng có thể là một tháng, hay một năm, trong ngôi nhà sàn nhỏ, cạnh con dốc cũng nhỏ, anh nhìn qua kẽ tấm phên nứa được ngăn làm vách. Ngoài kia dưới khoảng không bao la là bạt ngàn rừng, là thanh âm hoang hoải của chim, vượn, gió và con suối nhỏ tưng tửng chảy. Điều tệ hại nhất do vết thương ở vùng vùng đỉnh thái dương đã làm anh không nói được. Mỗi lần mở miệng lưỡi anh ngắn lại, cứng đơ. Trong cổ họng âm thanh ơ ớ phát ra. Những lúc như vậy anh lại bắt gặp đôi mắt Hồ Niêng ngân ngấn nước. Cô thương anh nhiều lắm …
Hoàng hôn, khi mà ông mặt trời mệt mỏi chiếu những tia nắng cuối cùng xuống chốn thâm sơn cùng cốc này, khi mà các vết thương trên cơ thể anh đã gần lành miệng. Anh chợt nhận ra đôi mắt huyền nhìn anh âu yếm. Ngày ngày cô nhẹ nhàng đỡ anh ngồi dậy bằng bàn tay nhỏ nhắn run run. Cô bón cho anh từng thìa cháo, hạt bắp, lát mì. Một bữa anh hồi hộp dùng tay để cố biểu đạt những điều anh muốn nói:
Cho bộ đội tờ giấy với cái bút …
Đôi mi dài cong như cái lá ngô ngoài rẫy khẽ nhướng lên rồi lại buông xuống. Một nét buồn ngơ ngác.
Thử lần nữa:
Ba, mẹ đâu hả em?
Nét buồn mênh mang hơn. May quá  cô gái đã hiểu:
Ba là người xuôi, lên đây ba cùng, dạy cho đồng bào làm cách mạng, ba bị người ác nó bắt đem lên nương  bắn chết rồi. Mẹ buồn lắm, ốm lâu lâu rồi cũng đi theo ba luôn. Còn một mình thôi,
Thà sững người, vội lấy tay che miệng ý chừng như muốn nói: Anh xin lỗi, anh không biết …
Lại ra hiệu:
Lầm sao mà bộ đội (chỉ vào ngực) ở đây?
Không trả lời ngay, Hồ Niêng cho thêm củi vào bếp. Đợi ngọn lửa cháy bùng trở lại cô mới chậm dãi:
Tối đó nghe nhiều tiếng máy bay, cái bụng nghĩ: người ác lại đổ quân càn vào bản rồi. Già với trẻ nít chạy lên núi. Mình và thanh niên ở lại. Sáng sớm không thấy chi mới vào rừng tìm cái nấm thì …
- Sao anh còn sống hả? (ra hiệu)
Bộ đội nằm vắt trên trên đống dây leo đó. Mình sờ thấy còn ấm mới kêu mọi người đưa về nhà mà.
À ra vậy! chỗ này là nơi nào?
Mình không biết, cái người lớn nó cũng không cho mình biết …
Thà bâng khuâng, thảo nào, nơi đèo heo hút gió này, nơi tộc người nhỏ bé có màu da nâu sáng lại sinh ra một thiếu nữ trắng trẻo, mịn màng đến vậy. Khuôn mặt đầy đặn, sống mũi cao nằm cân đối giữa hai bầu má hồng hào, rực rỡ như đóa hoa rừng đang kỳ khoe sắc. Cái nhìn lúc nào cũng ấm áp, thánh thiện làm xao xuyến chàng chiến sĩ xa nhà.
Lâu rồi Thà không còn nghe tiếng bành bạch của lũ máy bay trực thăng, tiếng gầm rú điên loạn của lũ F5, AD6 bổ nhào cất bom, tiếng pháo mồ côi, pháo bầy bắn cầm canh cho cuộc chiến tưởng như không có hồi kết thúc. Rừng vẫn bộn bề mưa nắng. Thoảng có người trong bản qua chơi, anh ra hiệu hỏi về mặt trận để rồi nhận lại những cái lắc đầu kèm theo nụ cười ngây ngô như con trẻ. Ngày lại ngày Hồ Niêng lên rẫy trồng cái lúa, cái bắp, cái rau để nuôi sống hai người. Ánh nhìn của chị dành cho anh ngày càng ấm áp trìu mến thân thương. Phải chăng có cái gì đó được định hình rồi theo thời gian nó cứ đầy mãi lên …
Một mình trong ngôi nhà quạnh vắng, Đôi khi ký ức cứ lao xao vọng về nỗi nhớ da diết quê hương làm Thà nghẹt thở. Ngoài Bắc, trong ngôi nhà ba gian hai chái lợp rạ ở một ngôi làng cổ ven sông, hẳn bố mẹ anh đã nhận được tờ giất báo tử nghiệt ngã. Buồn đau, thương nhớ, bất lực, Thà chìm vào trong cô đơn vô vọng.
Những trận mưa dầm dề, lúc thưa, lúc mau kéo theo hơi lạnh từ đỉnh núi tràn xuống. Cây rừng rũ lá, mọng nước, buồn thiu. Mùa này Hồ Niêng không đi nương được. Bao lần mùa khô, mùa mưa đi qua cô không còn nhớ nữa. Cô chỉ biết được chăm sóc anh, gần gũi anh đã như một món quà mà Giàng ban tặng. Mỗi lần tắm rửa thay quần áo cho anh, chị ngượng chín cả người. Đôi má bầu bĩnh của Niêng hồng lên rạo rực. Chị vội quay mặt đi chỗ khác. Nhưng mà than ôi ! quay đi như thế thì làm sao có thể kỳ cọ cho anh được. Chị lại phải tiếp tục trong lâng lâng khó tả. Bữa nay, không thể kiềm chế nổi bản năng muôn thủa của giống người. Đôi môi chin mọng của em mấp máy:
Bộ đội à! …
Đắm đuối và buông thả, anh hiểu nỗi lòng cô gái. Anh hiểu nỗi lòng của mình. Nhưng mà cái thằng người tàn tạ này đâu có xứng với em. Em muốn anh làm chồng việc ấy đồng nghĩa với rước lấy đau khổ suốt đời. Bằng tất cả tình thương yêu dồn nén, người con gái của núi rung, người con mang trong mình cả hai dòng máu Kinh Thượng ôm chặt lấy anh. Chị nắm đôi bàn tay giá lạnh của người con trai xứ Bắc đặt lên khuôn ngực trinh nguyên, nõn nà của mình, trong ấy một trái tim nhân hậu đang thậm thịch:
Bộ đội à… bộ đội…
Khao khát hiếng dâng, đam mê đón nhận đến cháy bỏng, hai thân hình quyện vào nhau trong ánh lửa bập bùng đêm mưa lạnh.
Mùa khô, vòm trời hơi vồng lên, thăm thẳm màu xanh muôn thủa. Con suối trước nhà co lại nhỏ thó chỉ còn xăm xắp nước, vừa đủ cho lũ cua đá có cái mai mốc thếch sinh tồn. Đất rừng rắn lại. Lá khô, cành khô rơi thành đống dưới gốc chỉ cần một tia lửa nhỏ, một tàn thuốc lá  cũng đủ gây lên thảm họa cháy rừng. Ba người đàn ông lầm lũi bước. Trên lưng họ chiếc ba lô con cóc nhà binh chằng buộc lỉnh kỉnh đủ thứ đồ đạc: dây thừng, móc sắt, dao quắm, lại còn cả xoong nồi, bát đũa đủ cho những chuyến đi dài ngày. Cứ xem cách trang bị của họ mà đoán thì đây chắc chắn là dân săn kỳ nam, trầm hương. Hơn nửa tháng nay ba anh em mò mẫm, sục sạo ngó nghiêng hết cánh rừng nọ đến vạt rừng kia trong nỗi ngán ngẩm tột cùng. Mắm muối, gạo, thực phẩm khô mang theo đã gần cạn. Họ quyết định tìm vào một bản người dân tộc nào đó để bổ xung lương thực rồi bỏ cuộc, tìm đường về quê. Mặt trời xuống nhanh hơn cả những cánh chim đang bươn bả về tổ. Ánh đèn dầu nhỏ hắt ra từ ngôi nhà sàn đầu bản thổi bùng lên trong họ niềm hy vọng. Xốc lại ba lô, họ xăm xăm theo lối mòn dẫn tới chân cầu thang. Nhinh (người đàn ông đi đầu) đặt vội đồ đạc xuống rồi gọi với lên:
Trên nhà có ai không?
Yên lặng!
Nhà có ai không? Mình là người miền xuôi. Trời tối rồi, muốn xin đồng bào cái chỗ để ngủ …
Sau tiếng đàn ông ú ớ, lấp ló khuôn mặt thiếu nữ với mớ tóc mun buông xõa xuống bờ vai trần trắng ngần hiện ra trên khung cửa
Ồ! được mà …
Hồ Niêng nhìn xuống : Ba đứa à …
Trong nhập nhoạng tối sáng, bên khuôn cửa sổ nhỏ, người đàn ông ở trần, vận khố ngồi yên lặng. Vẻ căng thẳng hiện ra trên gương mặt xanh mái. Hồ Niêng hướng ánh mắt về phía ấy rồi nhỏ nhẹ:
Nó là chồng mình, bộ đội đó
Nhiêu (người thứ hai trong nhóm) hỏi lại: Ảnh người mô vậy.
Nó người xuôi, không nói được …
Vẻ mặt Thà đã dịu lai. Anh ra hiệu cho ba người mới đến ngồi xuống bên cạnh rồi ra dấu:
Có giấy, có bút không?
Hiệu (người thứ ba) mừng rỡ reo lên:
Dạ! Em hiểu! Em có đây.
Anh mở túi sau ba lô lấy ra mẩu bút chì và quyển lịch mang theo để đánh dấu ngày tháng. Cuộc trò chuyện cùng ba người tìm trầm đã dễ dàng hơn rất nhiều. Anh cho họ biết; Anh là ai, quê quán, bố mẹ, anh em. Hoàn cảnh nào đã đưa anh tới đây. Vv… Qua họ anh mới biết cuộc chiến đã lùi xa mấy năm rồi. Hiện tại đất nước đã hòa bình, thống nhất, giang sơn thu về một mối. Thà nhìn họ rưng rưng!
Thì ra vậy! trời ơi …
Sớm, khi mà đàn vượn ngoài rừng chưa kịp cất tiếng hót chào bình minh. Con chim chích chòe lửa chưa xòe đôi cánh màu đỏ rực rỡ tắm mình trong ánh nắng sớm mai, vợ anh đã dạy nhóm bếp, chuẩn bị đồ ăn cho tốp thợ lỡ độ đường. Mùi nếp nương được đồ kĩ tỏa hương thơm ngọt lịm gợi nhớ về cái tết đồng bằng. Cẩn thận hơn Hồ Niêng còn nhét vào ba lô của họ một ít thịt trâu khô, vài bắp ngô mẩy hạt, và ít xâu ớt, xâu mang đặc sản của rừng. Họ xuống núi…
Họ đợi chờ…
Tháng ba, mùa lên nương, lên rẫy. Hạt thóc, hạt bắp đã được tra xuống lỗ. Những trùm nấm mối cũng theo mùa mà đội đất chui lên. Tháng ba, muôn loài chúng sinh hối hả tiếp nối cái nghĩa vụ thiêng liêng cao cả mà thiên nhiên đã ban tặng: Sinh sôi, nảy nở. Sẩm tối Hồ Niêng đang lui cui nhóm lửa, chợt thà chợt nghe có tiếng gọi gấp gáp:
Anh Thà à!
Chị Hồ Niêng à…
Vừa gọi mấy người vừa bước lên cầu thang rồi vào nhà: Cả nhóm đã quay lại. Thêm người thứ tư ngơ ngác ngó xung quanh. Trong cái mù mờ sau làn khói bếp, Thà chăm chắm nhìn người đàn ông trung tuổi, tầm thước, bất giác anh hét lên… Thà ôm đầu, vẻ như vừa có cái chi đó va mạnh vào làm nó nhức nhối, tê buốt. Hai hàng nước mắt ứa ra cùng với tiếng “Anh” méo mó.
Bốn người đứng lặng.
Hồ Niêng sững người đứng lặng.
Ông trung niên quỳ xuống, ôm chặt lấy thân hình gầy guộc đang cố chống tay định đứng dậy.
Trời ơi! Em tôi… Thà ơi!
Đất trời đứng lặng, cây rừng, suối nước ngưng rì rầm, xao xác. Chỉ còn tiếng thậm thịch của bao trái tim đang thổn thức. Những giọt nước mắt đàn ông đùng đục rơi vào đêm nức nở. Hai con người đã đi qua chiến tranh, hai anh em ruột thịt họ, đã tìm thấy nhau. Hồ Niêng ngồi xuống cạnh họ, chị nắm chặt tay Thà. Đôi mắt đẹp như mắt con nai rừng khẽ chớp chớp…
Anh!
Tiếng gọi ngọt ngào, tha thiết yêu thương của người phụ nữ kéo anh về thực tại. Anh đưa mắt ngơ ngác nhìn xung quanh:
Mọi người đâu rồi em?
Người nào ạ!
Anh Thật, anh ruột của anh vừa mới ở đây mà…
Ồ!...
Xa xa tiếng cồng chiêng ngân nga trong đại lễ đâm trâu tế thần vọng tới. Mùa xuân vừa trở lại…

                                                                                                                      Làng Tiên Hội tháng 1.2019. ĐTL

Nguồn tin: ,bài: HNV:::

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây