KÝ ỨC LỜI RU và ĐÀN BÀ NÔNG NỔI - Phạm Ngọc Tâm Dung

Thứ tư - 07/07/2021 23:09
Phạm Ngọc Tâm Dung
Tranh của Hoinongdannamdinh.org.vn
Tranh của Hoinongdannamdinh.org.vn

                           

Ký ức lời ru


                                        Tản văn                            

  Ngày còn bé, tôi cứ quẩn quanh với một suy nghĩ rất buồn cười. Tôi rất hay tự hỏi:

- Có phải là các bà mẹ sinh ra em bé chỉ mục đích là được ru nó ngủ không nhỉ?     

Vì thấy rằng bà tôi, bác tôi, mẹ tôi, chị tôi và cả cô Bình, thím Thư hàng xóm đều thích bế em nằm võng mà hát ru. Đó là lúc họ thư thái nhất, sau giờ lao động, sau khi cơm nước, giặt dũ xong xuôi. Nghe lời hát khoan nhặt, dịu dàng, tha thiết, hình như không phải chỉ hát cho em bé nghe, dỗ em nín và dìu em vào giấc ngủ mà còn là tâm sự, nỗi niềm, khát vọng gửi gắm từ lòng mẹ vào đó. Hình ảnh những con người, những con vật bình dị gần gũi, những cỏ cây hoa trái xứ sở... mà suốt cả cuộc đời họ gắn bó máu thịt, thân thương đã tự nhiên gom lại để làm thành lời ca.

Hát ru em ở đâu cũng có, mỗi vùng miền có một cách thể hiện nội dung và hình thức khác nhau. Không phải ai cũng hát giống ai. Có khi, cùng một không gian, một bài hát, nhưng sự thể hiện phụ thuộc vào gia phong, vốn sống cũng như trình độ và khả năng thiên bẩm... của từng người.

Nhưng cái chung nhất của hát ru vẫn là trải lòng mình bằng câu hát yêu thương để đưa đứa trẻ vào giấc ngủ.

Cho tới bây giờ, đầu tôi đã hai thứ tóc, cuộc mưu sinh khiến tôi phải xa quê đã lâu, và trời cũng đã cho tôi làm mẹ, làm bà. Tôi lần lượt hạnh phúc ôm những núm ruột yêu thương, bé bỏng của mình trong vòng tay mà phổ lòng mình vào lời ca.

Có cả những buổi cao hứng trong lúc đọc thơ chỗ đông người, một đôi lần tôi cũng ru vận đôi câu lục bát. Và khi ấy, niềm yêu thương từ thẳm sâu của người đàn bà vẫn cứ thổn thức, thao thiết vô cùng. Cũng thú thực, dù giọng hát ru của tôi không được hay, và không còn trong trẻo như ngày xưa nữa, nhưng mà tôi cảm thấy không gian khi ấy dường như... lắng lại, những ánh mắt nhìn tôi trìu mến, thật gần gũi, thân thương.

Nhưng mà tôi chưa thấy ai hát ru thần tình như thím tôi. Tôi còn nhớ những trưa hè, trời nóng như đổ lửa, bọn trẻ con chúng tôi vạ vật dưới bóng cây na dại. Bọn con gái lấy những lá màu vàng làm “công chúa”. Bọn con trai tuốt nõn tre, câu những con công cống làm... “lợn con”, hay kẻ sợi tơ chuối câu cá cờ. Dù say mê “công việc”, nhưng tôi vẫn để tai nghe rành rẽ từng lời thím tôi ru em. Và nhất là những đêm khuya, bầu trời trăng xanh rười rượi, tiếng côn trùng rả rích ngoài vườn, con mèo vàng nhởn nhơ vồ bóng mình dưới trăng, chú tôi ngồi ken nốt mấy nan đăng để sớm mai còn thay cầu đón mùa cá vượt cạn. Tôi nằm trong lòng bà yên lặng, mơ màng, cốt để nghe thím ru em.

Thím vốn là con gái cụ đồ, ngày còn son, thím được cụ cho học hành ít nhiều nên rất thông tuệ. Tuy cũng lam lũ ruộng đồng, vườn tược nhưng lúc nào trông thím cũng rất tươm tất. Vành khăn vấn rất tròn và lọn tóc đuôi gà duyên dáng buông lơi. Khi nằm võng ru em, lọn tóc đó cứ vắt vẻo như đánh nhịp cho tiếng võng kẽo cà kẽo kẹt. Thím cất giọng à... ơi... bồng bềnh, dịu ngọt, thương đến nao lòng. Lời ca đã dẫn dụ tôi lạc về tận nơi đẩu, nơi đâu.

Nhưng cũng đã nhiều lần, nghe thím tôi ru mà tôi... thầm khóc!

Tôi thường nhẩm và thuộc lầu lời ru. Những là con bống, con tôm, cái cò, cây cà, cây cải, rau răm, cô yếm thắm.Tôi còn biết tường tận những con bống nết na biết “đi chợ Cầu Nôm”. Phần lớn chúng đều hiền dịu, xinh xẻo và chăm ngoan. Nhưng cũng có những chị bống xấu tính, tham ăn:
 

Con ăn một thì mẹ ăn hai
Con đi bốc muối thì khoai chẳng còn

Và lại có cả những cô nàng bống đáo để, đành hanh ra vẻ ta đây “cũng đòi dương vây”. Rồi nào cò, nào vạc, nào nông, nào “sáo sang sông”. Nhưng mà tôi thì tôi mê nhất là hình ảnh con cò. Tôi say những lời ru nâng cánh cho “con cò bay bổng bay cao”, để con trai, con gái cùng hát lên cho những giọt mồ hôi biến thành hạt ngọc thực:


Một đàn cò trắng bay tung
Bên nam bên nữ ta cùng hát lên

Con cò vốn là con vật hiền lành, chăm chỉ, gần gũi với người lao động. Lời ru vì thế mà thương lắm! Ơi! Những “thân cò” “lặn lội bờ sông, gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”. Ơi! Những thân cò phải bỏ con ở lại tổ nghèo mà “đi đón cơn mưa”, “đi ăn đêm”, những mong cố kiếm được chút cá dại mà đem về cho đàn con đang dài cổ há mỏ ngóng chờ....

Viết đến đây, lòng tôi như nghẹn lại.Tôi nhớ mẹ tôi, những đêm giá lạnh ngày ấy, người bỏ chúng tôi lại nơi ổ rơm với bà, lặng lẽ đi tận chợ Mèn xa lắm, mua cất cá tôm và chạy bộ mấy chục cây về trước khi trời sáng để kịp bán cho tươi.


Đêm mưa lạnh con nao nao thương nhớ
Con đường trơn lầy lội giữa mùa đông
Cầu tre gầy nối hai sườn xóm nhỏ
Bóng mẹ liêu xiêu mồ hôi đẫm lưng còng...

Tôi lại xin được trở về với mạch lời ru. Về những thân cò, vì thương con liều thân để rồi mắc nạn.Thôi thì đành phận nghèo, số vắn, nhưng lòng dạ vẫn mong:

       
       Có xáo thì xáo nước trong ...
        Chớ xáo nước đục đau lòng cò con.

Con vật nhỏ bé, quanh năm lam lũ mà nhập vào lời ru thật kín đáo, tế nhị, khôn ngoan và đáng yêu, đáng nể biết bao!

Lời ru còn mách chúng ta rằng, có cả những anh chàng cò mất nết:

 
 Con cò là con cò quăm
 Mày hay đánh vợ mày nằm với ai?

Rồi lại có cả những nàng cò  kì “ăn cơm nhà dì uống nước nhà cô

Có khi  mượn chuyện cò để nói chuyện người. Ấy là một “chú tôi” lười lao động nhưng lại mơ “cô yếm đào”. Chú ta hiện ra với những điều hay này, hay nọ nhưng toàn là những thứ “hay” tiêu cực của kẻ hay ăn, làm biếng:

     
         Con cò lặn lội bờ ao
          Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?
          Chú tôi hay tửu hay tăm
          Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa
          Ngày thì ước những ngày mưa
      Đêm thì ước những đêm thừa trống canh

Lời ru của thím đã mở lối cho chúng tôi vào tận “vườn hồng” để mà chiêm ngưỡng những ai đó tương tư; để mà biết đào mận, thuyền bến phải lòng nhau; để mà tiếc cho cây bưởi, nụ tầm xuân, miếng trầu ngày ấy sao mà... ít duyên...!

Lời ru còn nhủ ta ơn sâu, nghĩa nặng mẹ cha, nhắc ta tình làng nghĩa xóm, bạn bè thủy chung, kinh nghiệm cấy cày, sản xuất

Và lời ru như an ủi, xót xa, cảm thông, chia sẻ với bao kiếp người trên bể khổ trần gian...


Gánh cực mà đổ lên non
Co chân mà chạy cực còn chạy theo...

Dù tôi đã thuộc lòng phần lời và cả những lề luật à ơi... luyến láy, nhưng ngày nào tôi cũng... nghiền nghe thím tôi ru. Tôi chìm vào giấc ngủ trong tay bà và lả la cùng cánh cò, cánh vạc, để đi chợ Cầu Nôm cùng cái tôm, cái tép.

Cứ thế... cứ thế... lời ru ngấm dần trong chúng tôi như  mưa dầm thấm đất. Điều chắc chắn, cánh võng này là nơi khởi nguồn cho những đứa trẻ chúng tôi đến với thi ca...Và lớn thành người.

Bây giờ, cuộc đời đã nếm đủ mùi mặn ngọt, chát chua, tôi mới hiểu những thông điệp của lời ru là bắt nguồn từ trái tim người mẹ. Những khi trong lòng thảnh thơi, hạnh phúc, khúc ru trong trẻo, lên: bay bổng luyến láy, xuống: trầm lắng điệu đà, đem lại niềm hạnh phúc cho cả hai mẹ con nói riêng và cả làng quê nói chung.

Những là nhớ thương, nhắn nhủ:


Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

Những là cưng nựng yêu yêu:

 
Cái bống là cái bống bang
Khéo sảy khéo sàng cho mẹ nấu cơm...

Nhưng cũng có khi, người đàn bà bất hạnh gửi vào lời ru con nỗi xót xa ai oán, sự đắng cay, tủi nhục, lòng cam chịu của một thân phận khổ đau, oan nghiệt:


Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...

Hay khi mỏi mệt, người mẹ nghèo như muốn lả đi trong lúc con đói sữa, ngằn ngặt khóc, nhay đầu vú mẹ. Mẹ chẳng thể rút hết được ruột gan để cho bé no lòng. Mẹ cất tiếng ru uể oải, khản đặc, khê nồng để mong yên dạ cho con. Lời ru khi đó, lẫn vào tiếng võng đay cũ nát cót két mắc ngang nhà, trong hơi thở dài cùng với tiếng quạt mo đập muỗi hoa xoan của ai đó, trong chập chờn tỉnh tỉnh, mơ mơ...!

Tôi thương lắm  những lời ru!

Tôi yêu lắm những hình ảnh đẹp trong  ca từ lời hát ru!     

Tôi yêu say mê nền văn hóa ru của ông bà truyền lại.

Tôi nghĩ hát ru là loại hình nghệ thuật góp phần sáng tạo, trau chuốt và bảo tồn văn hóa dân gian của chúng ta tích cực nhất.

Khi tôi viết những dòng này là lúc đêm muộn! Tôi ước mình sẽ ngủ một giấc thật say.Và trong mơ, tôi lại được nằm khoanh trong lòng bà mà nghe:


À ơi! Cái bống mày ngủ cho ngoan
Mẹ mày đi cấy đồng quan chưa về.

Và kia! Mẹ  tôi đã trở về! Bóng mẹ liêu xiêu mồ hôi đẫm lưng còng!    

 

 

    ĐÀN BÀ NÔNG NỔI

                         
 Truyện ngắn 

 

Câu ca dao các cụ nói, đố có sai:
“Đàn ông nông nổi giếng khơi.
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”!
- Đúng là cái giống đàn bà bọt bèo nông nổi, vừa mới thơ thớ vợ vợ chồng chồng ngày nào, thế mà khi gặp nạn, nó quay mỏ lại ngay! Đồ đĩ rạc!
- Cái ông này, ông lẩm bẩm cái gì đấy, ông nói ai, con nào đĩ rạc!
- Con đĩ Xoan chứ còn ai!
- Thôi chết! Bé cái mồm thôi, tôi lạy ông... con à, không... bà ấy giờ làm cán bộ cốt cán rồi, quyền lực trong tay, lại... lại còn...
- Còn cái gì, còn làm con nỡm cho mấy thằng.... nữa chứ gì! Đồ...
Bà Mùi đang bế đứa nhỏ đỏ hỏn, đặt thốc con bé khóc thét xuống giường vừa lôi vừa van ông Hoạch chồng bà vào nhà. Không biết họ to nhỏ những gì mà ông Hoạch cầm con dao phát, hùng hục chặt phăng khóm chuối bên bờ ao, cây đổ rào rào, ngổn ngang, mặc kệ. Rồi như phát điên, mắt đỏ ngầu, ông chém mạnh lưỡi dao xuống hòn đá cầu ao, lưỡi dao quằn, tóe lửa.
Chuyện là thế này. Ở cái Làng Chủ đây, ai cũng biết Hoạch và Hữu là hai người thân nhau. Từ khi còn bé tý, hai đứa là thần đồng của Xóm Trại. Không cứ gì ông Hoạch, làng trên xóm dưới, ai cũng khinh bỉ cái nhà chị hai Xoan vợ bé cũ của ông Lý Hữu. Ngày chưa lấy làm hai ông Hữu, cô Xoan vốn xinh đẹp nhất làng. Nước da bánh mật giòn tan và đôi bầu ngực nây nẩy căng mọng, đặc biệt là cặp mắt lá răm... Bao trai làng dạm hỏi mà Xoan chẳng ưng ai. Đùng một cái, về làm vợ bé ông Hữu. Ngày Xoan về nhà chồng, mấy trai đinh tiếc ngẩn ngơ.
Hôm đó vào dịp cuối năm giá rét, bà cả Hữu đích thân mang cặp gà sống thiến và mâm xôi, cau cả trăm, cho người nhà gồng gánh đến hỏi cô Xoan cho chồng. Ông Hữu, quần chúc bâu trắng, áo the, khăn xếp đến xin làm rể. Trong nhà, bà Giáo Lâm đắp chiếu sùm sụp không sao bò dậy mà mời họ mạc được miếng trầu. Người làng đồn rằng Giáo Lâm ốm đau, kiệt quệ, phải gả con gái làm vợ bé cho Lý Hữu.
Cũng phải công nhận Lý Hữu là người biết điều. Tuy cảnh một vò hai gáo nhưng chả bao giờ thấy nhà Hữu điều tiếng gì. Việc chị, chị làm, việc em, em làm. Thật ra công việc lớn nhỏ đều đổ lên đầu cô vợ bé. Chị cả Hữu người thấp bé, có cái dáng gù lưng tôm, sòn sòn năm một. Mới ngoài ba mươi tuổi mà chín đứa con. Vừa sinh đầu năm, cuối năm đã lại lùm lùm cái bụng. Cô Xoan ngoài việc nhà cửa đồng áng, quản lý kẻ ăn người làm còn phụ việc buôn bán cho chồng. Chả là ông Hữu còn có một cửa hàng buôn xe đạp trên phố huyện. Cô Xoan lại biết chữ ít nhiều, nên việc sổ sách, tính toán cũng đỡ được phần nào. Những khi rỗi rãi, vợ chồng còn cùng nhau lên phố huyện xem gánh hát diễn tích Lưu Bình - Dương Lễ.
Ông Hữu vốn là một trai làng khỏe mạnh, thông minh lanh lợi. Ngày trước hai cụ thân sinh cũng cho theo học trường Tây. Năm Ất Dậu - 1945, cha mất được vài năm, ông một tay dắt mẹ và em gái đi bộ mấy ngày đường ra Hải Phòng kiếm sống. Cái cảnh cầu bất cầu bơ nơi đất khách quê người, làm đủ thứ nghề mạt hạng: khi thì kéo xe tay, lúc gánh nước thuê và cuối cùng do điển trai, nhanh nhẹn đã được một người cùng làng bảo lãnh làm bồi cho Tây Đoan. Chàng trai làng chân đất Hữu cũng học được vài ba mẹo kiếm ăn. Rồi qua nạn đói Ất Dậu, Hữu chững chạc về quê và giắt trong người chút lưng vốn con con. Hai vợ chồng chăm chỉ với ba mẫu ruộng mới tậu, cộng với non mẫu ông nhạc cho hồi môn, ba sào chè và cửa hàng buôn xe đạp cũ trên phố huyện đã làm nổi cơ đồ của vợ chồng anh. Và cũng không ai rõ nguồn cơn nào mà anh lại cưới được cô Xoan đẹp người đẹp nết làm vợ bé. Sau hoà bình lập lại, anh Hữu từng đi gom xe cũ ở mãi tận mạn Khu Bốn. Anh hiểu khá nhiều về nhân tình thế thái thuở giao thời giữa chiến tranh và hòa bình. Rồi một hôm, vào một đêm giá rét, cô Xoan ôm cái bị cói với vài bộ xống áo vá chằng vá đụp, chạy về nhà mẹ đẻ, vừa đi vừa gào khóc.
Thì ra tay Hữu là kẻ giở mặt.
 Sau khi chiếm được trinh tiết và sức lực của con người ta, bây giờ cô Xoan hơi ốm đau là vợ chồng gã đuổi ra khỏi nhà. Kẻ độc mồm thì chì chiết cô là loại gái bỏ đi. Người hiền lành, hiểu chuyện thì cho là cái số hồng nhan bạc phận. Bọn trai làng trước đây từng say mê cô thì được phen đá xoáy trả thù. Xoan mặt mũi hốc hác, ngơ ngác, gầy rạc như xác con ve. Gặp ai cũng kể lể về cái đận bị phụ bạc. Từ một người hiền lành, ít nói, Xoan trở nên dày dạn, nhiều lời và bất chấp.

                images
Rồi một ngày đất bằng nổi sóng. Người ta truyền tai nhau những câu chuyện long trời lở đất. Các cán bộ trong “đội” Cải cách được cấp trên cử về hiên ngang túi dết đeo hông trên ủy ban và các ngả đường. Các chức sắc của làng bị tước bỏ. Mấy lão lý trưởng, chánh tổng thét ra lửa run như cầy sấy. Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ, Nông Hội và nhiều hội khác hoạt động tưng bừng. Ai nấy mặt mày hớn hở, hân hoan, toàn nói chuyện về những nông trường Liên Xô, Trung Quốc.
Không ngày nào là không họp bàn.
Thôi thì đủ thứ: nào là “tịch thu ruộng đất của địa chủ”; Nào là bầu cốt cán; Nào là quy thành phần; Nào là chuẩn bị đấu tố... Đêm đêm tiếng chó sủa inh ỏi, tiếng gậy khua loạng quạng, và tiếng người quát tháo chát chúa. Đèn chai, đèn bão và cả đèn hoa kỳ nhập nhòa, lởn vởn như ma trơi. Những bần cố mấy đời nghèo đói, hèn mạt khố rách áo ôm; Những bố cu, mẹ đĩ, bỗng một phát lên ông lên bà, lên cốt cán. Bao nhiêu cái nghèo hèn, dốt nát ngu si suy cho cùng là do... địa chủ cường hào ráo trọi. Người ta túm năm tụm ba, bên bờ ruộng, bên mâm cơm độn khoai, trên đường đi chợ, và cả khi cửa liếp đã đóng kín...
Cô Xoan khác hẳn khi xưa. Áo cánh phin trắng giặt bằng xà phòng hẳn hòi, thơm phưng phức. Cô đi từ sớm đến tận tối khuya. Cô được chọn bầu vào ban cốt cán có thâm thù với giai cấp địa chủ. Mọi người trong ban, ai cũng thông cảm với hoàn cảnh của cô. Họ mời cô đấu tố điển hình. Sự vạch mặt chỉ tên vợ chồng tên Hữu của cô được cả bàn dân thiên hạ chứng kiến.
Đó là một buổi sáng mùa đông giá lạnh. Lý Hữu thân tiều tụy, với chiếc áo nhàu nhĩ, chiếc quần bị xé nửa ống thành ra cao thấp khác nhau; Tay bị trói giật cánh khuỷu, lê bước ra trước sân đình. Tiếng khẩu hiệu hô vang: Đả đảo địa chủ! Đả đảo tên Lý Hữu! Có khổ tố khổ, nông dân vùng lên! Lý Hữu cắn chặt môi, mắt cụp xuống, toàn thân muốn ngã. Cô Xoan nhìn gã bằng ánh mắt rất lạ, và sau nửa tích tắc, đôi mắt của Xoan như bốc lửa. Xoan thét lên:  -Thằng Hữu kia!
- Dạ!
- Mày ngẩng đầu lên, mày cắm mặt xuống, mày không mở mồm ra chào bà à?
 - Vâng! Thưa bà. Con xin chào bà!
Xoan vừa khóc vừa kể, giọng đanh lại:
- Mày có nhớ cái đận mẹ tao ốm nặng, mày cho vay nặng lãi và ép tao làm vợ bé. Mày nhớ chứ?
- Dạ nhớ ạ!
Cái đận vợ chồng mày chềnh ềnh ra ngủ, bắt bà xay thóc, không cho ăn... Không cho sinh đẻ, rồi đuổi về không một cắc với cái bị rách và vài chiếc váy đụp lau chân của vợ mày. Mày nhớ không?
Nói đến đây, cô Xoan ngất đi. Người ta khiêng cô ra, mấy chị nông hội ra sức thoa dầu, cô mới tỉnh. Chứng kiến cảnh cô Xoan đấu tố chồng cũ, các ông bà trong đội cải cách hả hê, mặt nở nang, cánh mũi phập phồng, bõ công bao ngày đêm bồi dưỡng ... tập huấn.
Cả làng Chủ tựa như đang chuyển sang một thế giới khác. Người ta phấn chấn với những món quả thực được chia. To thì nhà, ruộng, một góc trâu, bò, bé thì cái cối xay, cái mâm đồng, mớ bát đĩa hay cả cái ống nhổ cốt trầu. Có người còn cố gắng vần cả cái cối đá thủng về để chềnh ềnh ở sân nhà mình. Người ta cứ đến và tranh thủ bòn mót của cải, tranh thủ ném vào mặt bọn “địa chủ gian ác” cái nhìn...ta đây! Do hoạt động tích cực, do khéo léo quan hệ tốt với các đồng chí đội cải cách, do xinh đẹp và hình như còn do điều gì bí ẩn nữa… mà cô Xoan và vợ chồng anh họ cô, cùng hai hộ cố nông được chia toàn bộ cơ ngơi của nhà tên Lý Hữu. Nhìn vợ chồng con cái Lý Hữu lủi thủi, cung cúc ra khỏi nhà, bà cốt cán Xoan lặng lẽ quay mặt đi. Thế rồi chẳng hiểu do thu xếp, thỏa thuận thế nào mà một thời gian sau, các vị cùng được chia nhà dọn đi nơi khác, nhường lại toàn bộ cơ ngơi cho bà cốt cán Xoan.
Giờ đây “bà cốt cán” Xoan chỉ còn thân một mình trong ngôi nhà gỗ lim căn cơ nguyên vẹn. Đêm đêm nghe tiếng gà eo óc cầm canh, Xoan đã bao lần thổn thức. Chỉ những khi, một mình đối diện với chính mình, cô mới khóc. Giọt nước mắt nhớ thương, ai oán, tủi hờn. Cán bộ cải cách sau khi xong nhiệm vụ cũng đã rút đi cả. Những bà con bần cố cũng bớt rỉa rói bọn thành phần xấu. Đảng và nhà nước đã đưa ra chính sách “Sửa sai”. Nhà ông Lý Hữu cũng chỉ là cái chức lý trưởng mua, xét thấy không bóc lột ai và cũng không có tội lỗi gì nên được xuống thành phần.
Chiều ba mươi Tết năm đó, cô Xoan làm mấy mâm cơm mời họ hàng nội ngoại nhà chồng cũ, trong số khách đó, có vợ chồng nhà ông Hoạch, bà Mùi. Khi mọi người tề tựu đông đủ, ông Hữu khăn xếp áo the, run run, cầm ba nén nhang dâng lên bàn thờ tổ tiên mà lầm rầm:
-Thưa tiên tổ, thưa ông bà, sở dĩ giữ được cơ nghiệp như ngày hôm nay, là do phúc nhà còn vượng, nên mới có một nàng dâu hiếu nghĩa tài đảm, hy sinh… đó là người vợ tao khang, hiền thảo của con…
Ông quay ra phân bua với mọi người:
- Tôi và nhà tôi đã cùng nhau thực hiện kế khổ nhục, nhà tôi mang tiếng phụ bạc, oan ức khổ thân nhà tôi quá. Rồi quay sang phía cô Xoan, ông xúc động:
- Mình ơi, xin cho tôi lạy mình một lạy!

 

                                                 Hà Nội 14-10-2020. PNTD

 

 

 

                                    

 

 

Nguồn tin: HNV.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây