Sáng tác của Nhà thơ Lê Thị Mây

Thứ năm - 18/06/2020 10:13
Lê Thị Mây
Sáng tác của Nhà thơ Lê Thị Mây

Trích: Trường ca Bác Hồ nhạc trưởng

                 Chương 3.

YÊU CÂY LÚA NHƯ CON
 
1.
Thưa Bác, yêu cây lúa, Bác thường nhắc nhở
Bác nhạc trưởng – Bản Di chúc - Hùng văn
Năm mươi năm Ánh mắt Bác nghiêm trang
Bác thoáng cười trong niềm nhớ Bác
Sông cho phù sa, mây trời tóc bạc
Gạn cho trong những vướng bận đuối lòng
Gạn cho lắng xô bồ bèo bọt
Cây ra rễ, con Chim biết hót
Ngửa mặt với trong Xanh dưỡng khí lực hòa bình
Mỗi người dân Tự hỏi làm được gì ao ước
Để Bác vui, tụ Hội niềm tin.
 
2.
Đất nước Dặm đường dài Năm mươi mùa xuân
Gương mẫu, đảng viên đi trước
Gương mẫu, không lùi bước
Thời nao nức cơ hội thành công
Nao nức con trẻ học đường
Nao Nức xây đắp khát vọng.
 
Đồng đất phù sa triều Nước nổi Cửu Long
Cây “lúa ma” lên ngôi, Tích ứng, Lãng mạn
Điều kỳ diệu thế nào, bắt Đầu từ đâu
“Rằng lúa tôi được thuần Chủng chịu mặn
Hạt cơm mền cơm dẻo thơm ngon
Dưỡng chất quý cho tuổi già con trẻ
Chẽn nặng rung rinh: Tôi được gọi “OM4900.”
 
Một làn mây quệt qua Những tàu dừa cọ lá
Một thiếu nữ xinh tươi Cất giọng hát Bến Tre
Đấy hình bóng tuổi trẻ vị Giáo sư danh tiếng
“yÊu đất yêu đồng yêu cây Lúa như con”
Học tấm gương Bác Hai Lúa Thần tình(1)
Ba mươi năm tạo thành công một trăm giống mới.
 
Tích ứng chịu mặn, chịu phèn, cao sản
Giống lúa ngon cơm, cơm mềm đều
Giống lúa chịu mặn nhiều vượt trội
Lúa Thái Lan, Ấn Độ có điểm Sao bằng
OM 4900 ăn phù sa chín Cửa Cửu Long
Mang thương hiệu, tiết khí nước nổi
Đã xuất đi mười lăm nước gieo trồng.
 
Lúa cúi chẽn trỗ đồng rì rào lên tiếng
Thưa cùng người con gái xứ dừa
Thưa mẹ, chúng con mang ơn nặng hân hoan
Thiếu ngọt, chịu mặn, thích ứng, Tấc ruộng tấc vàng
Chúng con yêu mẹ bàn chân nẻ gót
Sục bùn chăm sóc tạo giống cần chuyên
Thưa mẹ, thích nghi là vượt trội, Thêm lần
Đồng đất phì nhiêu tỏa hương sen Đồng Tháp.
 
Ôi Bến Tre dáng ai đứng như cây dừa
Kháng chiến, thủy chung nên đôi lứa
Phì nhiêu đồng bằng sông chín cửa
Quê hương tiết khí đội quân tóc dài
Quê hương nữ tướng Nguyễn Thị Định
Nay mỡ màu thuần chủng “lúa ma” .
 
Hạt giống trong lòng tay mạ bén bùn non
Mồ hôi tưới tắm mùa vàng cúi chẽn
Đã xuất đi mười lăm nước anh em
Cây lúa chịu mặn xen nuôi loài tôm búng gió
Cây dừa bồng trái hời ru vầng dương rực rỡ
Làm chủ, thích nghi, Ứng Nghiệm xôn xao
Thì con gái lúa cúi đồng mắc cỡ
Năng suất hàng đầu mỗi hạt mẩy một vì sao.
 
Ngôi sao trên bầu trời nhìn cười về trái đất
Thấy hình dáng vai thon thiếu nữ xứ dừa
Quốc huy hàm giáo sư, tuổi xuân má đỏ
Lũ tôm sú búng rêu cười ghẹo vội thưa
Lũ búng càng cười trêu làn nước
Lũ búng càng cười ngông tanh tách
Lão tướng tôm hùm búng sóng cười say
Cái điệu cười mang tiết khí nhiệt đới
Cái điệu cười làm chủ biển dâng
Cái điệu cười thích nghi, sống hay là chết?
 
Lũ búng càng ha ha sôi nổi
Cất điệu cười trìu mến người con gái eo thon
Cất điệu cười trìu mến vị hôn phu trẻ tuổi
Họ yêu nhau, yêu đồng đất Còn rỗ hố bom
Lũ tôm búng trăng vậy mà Được việc.
 
Lũ búng hài, giáo sư trẻ thừa biết
Chúng cũng yêu nhau yêu Nhau
Mang bụng trứng búng mưa Tanh tách cười
Búng lùi mắn đẻ ha ha Nắng mới
Lũ sú đực rằn ri ngôi thời trang phấn khởi
Thương “Bà mẹ Lúa” khăn rằn vắt vai
Thức một mắt nghề nông bán mặt cho đất
Thức một mắt nghề nông lưng Cõng chân Trời.
 
Lũ búng càng cười ha ha sung sướng
Cái điệu cười mang tiết khí nhiệt đới
Cái điệu cười làm chủ biển dâng
Cái điệu cười thích nghi là trước hết
Thủ tướng ta gánh trên Vai trách nhiệm
Thổi bùng to, lửa mùa Vàng cây lúa nước
Năm Bính Thân không bán bản quyền cho Hà Lan
Giữ OM4900 dựng thương hiệu lúa Việt Nam cao sản.
 
Giống loài hải sản quyết trọng mùa thương hiệu
Được hân hoan sáng giá, được xuất siêu
Lũ búng càng vuốt râu tuy sợ thân bị đưa lên giàn lửa
Giàn lửa châu Âu chuộng ăn lành, Ăn thơm
Giàn lửa khắp năm châu bốn biển
Chuộng ăn lành, ăn sạch, ăn ngon
Thương hiệu hàng đầu, Thương Hiệu trẻ son
Giống loài búng càng đành búng cười trêu sóng bạc
Không sợ lửa - trọng xuất siêu chính nghạch.
 
Chính phủ toan tính giữ an sinh, tăng trưởng
Thủ tướng năng động, hiểu dân, thương dân
Điểm huyệt, điểm trúng
Mỗi miền quê một thương hiệu ấm lòng
Yêu lửa - không sợ lửa - Giống Loài bong gió khổ công
Luyện điệu cười mang tiết khí nhiệt đới
Cái điệu cười chủ động, làm chủ biển dâng
Cái điệu cười thích nghi trước hết.
 
Nhảy tanh tách chúng nháy Mắt bảo nhau
Chúng đồng tâm chịu cháy Râu
Một hy sinh của giống Loài yêu nước nặm
Là ức triệu hy sinh của Dân nghèo nhịn miệng
Tiền khách hậu chủ -
Lão tướng tôm hùm cười Sóng rất yêu, rất lâu.
 
Mọi giống loài cùng chịu cháy râu
Được nõn nà được múa cong lưng
Nhận cháy râu mà cong lưng phấn khởi
Mà phơi lưng trên đĩa nhân gian phơi phới
Mà phơi lưng trên đĩa hải hà.
 
Cảm ơn giáo sư trẻ má đỏ tuổi 22
Nhân giống, dưỡng giống lẵn mình, Rất mực
Cảm ơn thi nhân Nguyễn Xuân Sanh siêu thực
Cho nhìn bầu trời đồng thanh
Đáy mùa đi nhịp hải hà, nhịp phồn sinh
Đáy đĩa nhân gian chuộng thơm yểu điệu
Lão tướng tôm hùm càng Gai cả cười
Nhịp đời đi đĩa hải hà thương hiệu
Giữ Ăn sạch, yêu con người.
Giữ ăn ngon, ăn lành không ô nhiễm yêu trái đất.
 
Nữ giáo sư Lang ngắm chồng thoáng hiểu
Rất sành điệu, trữ tình và kỳ diệu
Trên đồng đất Bến Tre Ăn phù sa Cửu Long
Cây dừa Bồng trái mà yêu đon mạ
Cây dừa bồng trái đon mạ eo thon
Nương bóng thở bên nhau, Nên Chị nên em
Lập trình khoa học lắm điều như phép lạ
Chuyển thâm canh trăm giống cây ăn quả.
 
Lũ sầu riêng thơm riêng đáo để
Thơm tiết khí nhiệt đới, châu thổ phù sa
Thơm trĩu cành loòng boong thánh lễ
Măng cụt, mít tố nữ, hạt điều, chanh leo, siro
Thơm xoài tượng, chôm chôm, vải Thanh Hà
Thơm nhãn lồng Hưng Yên, thơm gấC quyến luyến
Thơm cam xã Đoài, cam Vinh, bưởi Diễn
Thơm Phan Thiết mát giọng thanh long
Thơm sen hồng hoa hồ Gươm, Quốc hoa đồng Tháp...…
Mỗi người dân xoay rubích nong, nia, dần, sàng
Làm lưng rùa thần cõng bia Văn Miếu
Mỗi người dân một khoa bảng đầu trần
Trái, quả trĩu lòng, siêu Chế biến
Gương sáng đảng viên đón sức nước sức Dân.
 
Giống loài búng càng vậy mà được việc
Chúng chịu cháy râu, xuất Siêu, chứng kiến
Mỗi đồng hành - họ trìu Mến bên nhau
Giáo sư Lang giáo sư Bửu danh tiếng
Đức tin khoa học nên đức Tin trữ tình
Trăm giống lúa rì rào ăn Phù sa rồng chín cửa
Chịu mặn, thích nghi, làm Chủ biển dâng
Cây dừa ẩn dáng cây đàn Tài tử được vinh danh
Cây đàn tài tử ẩn dáng Đám mây ca nương tình sử.
 
Lũ búng càng hân hoan Xuất hành
Đồng lòng, đồng thanh cùng các bà, các mẹ
Đồng lòng, đồng thanh cùng các em, các chị
Gọi giáo sư Lang “Bà mẹ Lúa” Cửu Long
ĂN dầm nằm dề Ba mươi năm
Trên cánh đồng yêu cây Lúa như con
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lang
Nhà khoa học nữ đầu tiên vinh dự
Bà được vinh danh, nhận giải thưởng Trần Đại Nghĩa(1).
 
Bà ra sinh trong gia đình đông con
Gia đình bà có bảy người con tiến sĩ
Lũ tôm sú tanh tách cười Vuốt râu ngưỡng mộ
Xoay dần, sàng, nông, nia
Làm lưng rùa cõng sức dân khoa bảng
Yêu cây lúa, ứng Đồng khởi cách mạng
Yêu cây lúa và tin yêu tình chị tình em
Cái sần, cái sàng, cái cối gạo lắc lư ngụ ngôn
Loài búng càng tanh tách thế mà được việc.
 
Lũ  Búng càng Tanh tách thân thiết
Chúng chứng kiến tấm lòng, nhiệt huyết
Rất khoa học, Sâu đậm Trữ tình
Nữ giáo sư sớm khuya áp tai gốc lúa
Nghe sấm chớp lo lũ sớm trăng già
Cưng nựng trên tay hạt giống nhen nhóm Lửa
Rễ bén bùn chịu mặn, có lời ru cưng nựng
Hạt giống cười thương dần nhớ sàng
Lũ búng càng hân hoan căng bụng trứng
Kể về truyền thuyết tự ngàn xưa
Cái sần, cái sàng, cái thúng, cái nia
Khắp nông, nia, sần, sàng không đủ
Làm lưng rùa cõng bia khoa bảng sức dân
Chân lấm bùn tay lem mực dấn thân.
 
Mỗi người dân một búp sen nổ lực
Giữ thơm tự sức vóc, Lặng Nỗi yêu thương
Nghe được Bác Hồ rõ từng lời Di chúc
Mỗi tấm lòng trọn niềm tin khởi nghiệp
Kiến tạo tương lai tuổi Trẻ học đường.
 
Giống loài búng càng cười Tanh tách
Cười phấn khích
Cười linh đình 
ĂN lành, ăn Ngon, ăn sạch
Ba sáu điệu cười, điệu cười thương hiệu
Ba sáu điệu cười, điệu cười lòng tin
Ba sáu điệu cười, khởi nghiệp Lòng Thấu hiểu
Một điệu cười thu về ức triệu lãi nhân tâm
Giáo sư Lang cùng chồng “ý Ngầm sưng sướng”
“Ăn dầm nằm dề” đọ sức thêm mười năm
Cho lũ búng càng no căng bụng trứng
Chúng phát điệu cười gọi chị gọi em
Trăm giống lúa sây bông đồng thanh ứng đáp.
 
4
Thưa Bác – Bác nhạc trưởng Quốc ca
Thưa Bác – Bác nhạc trưởng Quốc tế ca
Tư tưởng Người bình dị nhân văn tỏa sáng
Di chúc Năm mươi năm mãi Ấm lòng dân.
 
Di chúc Bác hàm ẩn Biểu tượng nguyện ước
Di chúc Bác hàm ẩn Tôn vinh.
Đoàn kết, gương sáng Đảng viên đi trước.
 
Thế nước mỗi ngày Giữ Sáng niềm Tin
Di chúc Bác thấm sâu Nếp Đời chân lý
Mỗi mặt chữ ấm lòng đồng bào đồng chí
Mỗi mặt chữ ứng nghiệm đường dài
Dòng chảy âm lượng sóng sông Lam dòng sữa
Đồng hành khát vọng quê hương
Quấn quýt “Bà mẹ Lúa” mến thương
Biết cưng nựng phù sa sông chín cửa
Lũ sú rằn ri, lão tướng Tôm hùm có chút vu vơ
Cùng reo điệu cười làm nũng
Cùng hiểu “Bà mẹ Lúa” kiến tạo duyên cơ
Dưỡng loài búng càng mang căng bụng trứng.
 
Trong trời đất được sinh được linh ứng
Mọi giống loài được tương ái tương sinh
Thích nghi trước hết, cốt cách không gì sánh
Đồng đất Bến Tre, người con gái xứa dừa
Nặng tâm tư mong dân giàu Nước mạnh
Mỗi tấc đất giữ khí lực Mùa màng
Mỗi giống lúa đứng thương hiệu Việt Nam lãng mạn.
 
Mỗi lương dân xoay rubích dần, sàng
Mỗi lương dân xoay rubích thúng, mủng
Làm lưng rùa rước vinh quy khoa bảng
Làm lưng rùa rước vinh quy chân ruộng cánh cò
Làm chủ ăn lành, ăn ngon, ăn sạch
Mỗi vùng quê một thương hiệu ấm lòng
Giữ trọn đức yêu đất yêu Đồng 
Giữ trọn đức vượt qua thử thách
Giữ trọn đức dưỡng Cội thương Cây Mồ hôi mặn nụ cười.
 
Khoa học, trữ tình, thức Một mắt
Yêu cây bán lưng cõng Chân trời
Yêu cây lúa mặt gửi vào Hồn đất
Giáo sư Lang giáo cùng chồng sắt son
Thức một mắt yêu cây lúa Như con
Dốc vốn dấn thân
Mười năm nữa mong góp thành tựu mới!
 
-------
(1) Nhà nông học Hai Lúa...
(2) GS.TS Nguyễn Thị Lang là nhà khoa học nữ đầu tiên được vinh danh trong Giải thưởng TRần Đại Nghĩa cho công trình đặc biệt về nghiên cứu giống lúa chịu mặn, chịu Hạn, thích ứng với khi hậu của đồng bằng sông Cửu Long.
 
 
 
Chương 5.
ĐẢO DƯA HẤU MAI AN TIÊM
 
1.
Sóng thời gian vỗ trắng chân trời
Sóng thời gian vỗ yên vách đảo
Đảo xa nhấp nhô, Canh chừng mắt bão    
Câu chuyện xưa mãi được lưu truyền
Dưa hấu đỏ vừng dương lăn qua núi
Dưa hấu đỏ vừng dương lên mỗi sớm.
 
Tự nghìn xưa đảo trồng dưa hấu Đỏ
Bánh chưng bánh dày
Hoàng tử Mai An Tiêm dâng Vua cha hiếu để
Biển Đông giữ lễ nghi trời Nam.
 
Mỗi tấc nước tấc bờ cổ tích
Sếu cổ đỏ từ núi bay về, kêu đỏ bình minh
Mang mật thư gìn giữ hòa bình
Mang khát vọng làm giàu từ biển
Vòng tay mẹ Ôm ru, tận Hiến
Biển, bờ dài trọn hình dáng quê hương.
 
Đảo chìm bầy cá rạng tung tăng
Bảy sắc san hô vầng dương khúc xạ
Đuốc lửa giếng dầu
Đuốc lửa Thuyền Chài, Tiên Nữ...
Đảo dập dìu Vành Khăn, Núi De, Len Đao Muôn vẻ
Gà trống đảo xa cất tiếng gáy trữ Tình.
 
2.
Nhấp nháy sao, lòng người thức
Hải lưu nóng vọng triều nước sinh
Sao Khuê sOI thăng hoa Phóng bút
Bức thư pháp mang cánh én hừng đông.
 
Bức thư pháp biển trời mênh mông
Sếu cổ đỏ mang tính điều giữ nước
Mũ tai bèo, vai súng thuở hành quân
Chuyện hôm qua, hôm nay thêm điều ước.
 
Chuyện hôm qua, hôm nay sóng vệ tinh
Chuyện hôm qua, hôm nay nguyên chứng thực
Mỗi đảo - Một giọt mực
Quầng đảo - Vệt mực - trang biển Đông
Mực học trò - và ấn Triều Nối dòng thế hệ 
Linh thiêng Bài vị Hùng binh.
 
Con thu, con hồng, con nghéo, con măng
Cá đuôi cờ phất cờ, ngừ đại dương chúa tể
Mở biển vươn khơi trời nước mênh mông
Trường Sa Hoàng Sa tôm cá triều Dâng.
 
Chuyện hôm nay, sao vàng cờ đỏ
Quấn đỏ thân thắp lửa đấu tranh
Quấn đỏ hừng đông sông núi
Giữ chủ quyền, giữ luật dưới trời xanh.
 
Dưới trời xanh giấc mơ yên lành
Mà giông lốc ập dồn không ngủ Được
Thơ, máu chảy trong thân
Thơ khắc vách đảo chí dân sức nước.
 
Tay lái, cờ hiệu Việt Nam rực rỡ lộng, khơi
Điệp điệp Trường Sơn dấu chân lớp lớp
Trang biển Đông đuốc lửa sóng khuya dào dạt.
 
Tài nguyên biển ấm tấc lòng yêu Biển
Con cá cày cày gió mới đại dương
Con cá chim bay lặng triều cường
Cá ngừ chúa tể ngài cá Ong cứu độ ngư thuyền danh Tiếng
Đảo ta chủ quyền di chỉ gốm sứ Hoàng Sa, Trường Sa
Đảo ta chủ quyền không tranh cải
Quảng Nam, Bình Thuận, Ninh Thận, Khánh hòa...
 
Huyện đảo Trường Sa Vệt Mực thư pháp
ẤN triều, vệt mực thư pháp Tung Dạt dào
Huyện đảo Hoàng sa, vệt mực thư pháp
ẤN triều, vệt mực thư pháp tung dạt dào
Muôn trùng khơi cát mịn tươi hoàng bào  
Bài vị Binh phu đuốc trời thế kỷ
Ngực tàu chiến sĩ tàu HQ 505 Chuyển rung
Kê ngực lên bãi đá làm lô cốt Nguyện Trấn giữ.
 
Mắt Trường Sơn - mắt rừng điệp Rừng
Tay gác trán, nghìn trùng chân lý
Điệp trùng cát vàng gốm sành dấu chân Giao Chỉ
Mắt Trường Sơn, mắt em gái rưng rưng!
 
3.
Đánh ngoại xâm chuyện mãi lưu truyền
Vân Đồn ưu binh thao lược
Binh thuyền Trần Khánh Dư dậy vang
Trần Khánh Dư dẹp tan tác Nguyên Mông.
 
Gìn giữ hòa bình, tĩnh, động tự tâm.
Giữ Trăng treo Đầu súng(*)
Nửa vầng trăng tình vợ thương chồng
Nửa vầng trăng tình chồng nhớ vợ
Xương cốt Hùng binh, chiêu hồn, bái lễ.
 
Giữ Trăng treo Đầu súng
Nửa vầng trăng ru võng Con Bế con bồng
Nửa vầng trăng mẹ già Bái lòng Muôn hướng
Vuốt mặt, ngực đảo đẫm mồ hôi
Quốc thái dân an giữ thanh cao tính ngưỡng
Uy minh hòa tiết khí đất trời
Sóng trào bật lời thề tuổi trẻ
Tấc nước Tấc Bờ tôm cá đua bơi
Đối thoại - con triều ngoại giao dâng nhịp thở.
 
Mắt đảo Đón Đèn mắt ngư thuyền 
Mắt ngàn sao rọi câu chuyện kể
Mắt chiến sĩ nâng cánh én, hải âu
Tóc lão tướng Diên Hồng trắng Tinh Cầu
Con ốc gió chong tai Thâu Thâu
Cua đá bò quanh cảnh vệ.
 
Mặt trời nóng ran ngực đá, đá trẻ
Đá Nam, Đá Bắc, Đá Đông, Đá Tây
Nhịp tim cẩu đá thư pháp Cuồn Cuộn gió Mây.
 
Nhịp tim nhuốm sắc san hô trào dâng khí lực
Mũ hải quân Phơi phới thắp bình minh
Đá Thị, Tốc Tan, Len Đao, Côn Linh...
Mắt đá, vân đá muôn trùng xao xuyến
Kéo vầng dương mọc trước biển Đông.
 
4.
Hội xuân mở biển Nghi lễ phướn cờ
Thả thuyền hoa đăng bài vị Binh phu
Cầu bái ngài cá Ong phù hộ
Chèo cạn múa bông đèn thắp Bến Đợi người chờ
Ngực lão ngư rộp căng muối mặn
Mắt cua đá xua giông lốc từ xa
Loài vích đào cát đẻ trứng
Chạm các tầng di chỉ Hoàng Sa, Trường Sa.
 
Mỗi dấu chân bếp lửa tự cát vàng Tươi
Vàng tươi từ ruột đất liền óng Ả Thiết tha.
 
Đảo nối vòng tay múa rực san hô
Lớp lớp hoa văn văn hiến bấy nghìn năm xưa
Bấy trăm năm cat ấm hoàng  Bào
Bài vị Binh phu thuyền hoa đăng vọng dội
Cát vàng ta ghi tên lên bảng đồ Thế giới
Biển trời ta tươi Đẹp mở dịch vụ âu thuyền
Giữ chính luật Hiến chương Liên Hiệp Quốc.
 
Sếu cổ đỏ mang câu chuyện lưu Truyền
Sếu đồng đội lớp lớp người hòa Giọng nói
Đêm tuần tra, Đêm giữ đảo, đêm nhớ đất liền
Cá đầy khoang vầng dương Lên Chói lọi.
 
Mỗi tấc nước tấc bờ sóng gọi
Mỗi cửa sông đưa nước từ nguồn
Lòng trời, lòng dân cháy bỏng
Ngón tay gió không đặt lên cò súng
Mẹ ta chăm vườn cà ru Thánh Gióng giữ bình yên...
 
5.
Động, tĩnh tự tâm, sóng lặng
Li ti mắt cát mắt thuyền mênH Mông
Trời xanh nhởn nhơ mây trắng
Mỗi hạt cát vàng ánh dương bừng sáng
Mỗi hạt cát làm ngọc trong tim
Qua Lốc dữ, lòng dân tỏ tường sự thật
Qua Lốc dữ, không lẽ nào đánh mất
Tình giao thương ấm lửa đỏ đèn
Núi cụng đầu, giữ đường biên, sông liền Sông thịnh cường
Mắt sao trời, phù điêu Trần Khánh Dư lừng lẫy
Âu vàng nghìn thuở Tổ quốc ta.
 
Gà trống đảo xa làm chiến sĩ Hào hoa
Vỗ cánh cất tiếng gáy
Cõng đảo chìm kéo đảo nhô sóng long danh
Trồng bàng vuông trồng rau xanh
Mây thủy thủ, em gái hát khúc nhạc lòng Sôi nổi.
 
Gà trống hoàng Tử Mai An Tiêm làm chiến sĩ mới
Kéo đảo chìm
Cõng hệ nhà Giàn lộng lẫy Bình minh
Mỗi tia nắng đóng cọc lim cổ sử
Mắt đèn chiếu rọi ánh tâm linh.
 
6.
Gà trống Cổ Tích Làm chiến sĩ tiên phong
Cất tiếng gáy vững Lòng
Cất tiếng gáy linh báo mắt bão
Cất tiếng gáy đánh thức các đảo
Trường Sa Lớn, Trường Sa Đông, Cỏ Mây, Suối ngà
Nam Yết, An Bang, Song Tử Tây, Sơn Ca...…
Phan Vinh... Đảo Mang tên người uy hùng, chân lý
Thuyền no buồm trời biển của ta.
 
Gà trống cổ tích Cất tiếng Gáy thế kỷ
Cờ đỏ sao vào tung bay
ÁNh sáng chủ quyền thềm lục địa
Ta giữ cho muôn sau Tự hôm nay.
 
Gà trống hào hoa Cất tiếng Gáy
Gáy rất to báo ông mặt trời thức dậy
Cho lũ rau xanh tốt tươi
Giàn bí giàn bầu chị em bồng trái
Lợn hoa ủn ỉn lũ gà con chíp chíp
Chạy vòng quanh đám cua càng cảnh Vệ
Chạy vòng quanh tiểu đội Cún vàng Lặng lẽ
Đã tập tành thức trắng đêm.
 
Gà trống Hào Hoa Cất tiếng gáy trữ tình
Ông mặt trời đã vươn lên rực rỡ
Cho lão tướng bàng vuông xôn xao Tiếng cười
Cho lũ rau xanh đâm chồi nảy lá Tốt tươi
Cho lớp học tùng tùng trống giục
Bảng chữ cái che mồm cười khúc khích
Ông mõ nhà chùa Áo nâu Cũng vào lớp học phụng thờ
Xâu chuỗi chữ cái làm tràng hạt nam mô
Cầu quốc thái dân an biển bờ ca hát.
 
Ba nghìn đảo, các huyện đảo điểm danh
Huyện đảo Hoàng Sa nghiêm đáp -
Muôn lòng dân có mặt
Huyện đảo Trường Sa nghiêm đáp -
Muôn trai trẻ binh Thuyền có mặt
Biển trời ta tôm cá Đua bơi
Lẽ phải - giữ bình yên sóng reo dào dạt
Lẽ phải – buồm căng lộng, khơi
Tù và rúc hăm hở
Nghìn thuở, đảo nối ruột đất liền lòng Mẹ bồi hồi
Gà trống Đảo xa Cất Tiếng gáy lễ nghi bái tổ.
 
Gà trống cổ tích đội vầng dương
Gà trống Hào Hoa - chiến sĩ Tiên Phong qUàng khăn đỏ
Đảo đội vầng dương - vầng dương chói rực cờ Tổ quốc.
 
Động, tĩnh tự tâm
Lòng trời thanh ứng
Sông núi giao hòa
Ngửa mặt trăng sao tụ về muôn lẽ.
 
Gà trống Đảo xa đảo gần Gáy vang...
Gáy vang
Gọi thức làng nước
Gọi thức ngư thuyền
Báo thức vũ trụ luân chuyển Ngân hà gặp Cơ duyên
Rất trữ tình...  Cùng rất lẫm liệt!
 
7.
Ấn triều Quang Trung chói đỏ
Châu bản ấn triều lòng dân hồn quê
Bài vị Binh phu chuyện còn tỏ rõ
Một đi không hẹn về
Chiêu hồn, chiêu mộ vong lễ phướn cờ      
Đảo Lý Sơn vọng chân trời chiêu tập.
 
Đảo Lý Sơn dựng chân trời thuyền bè tấp nập
Ngư dân, ngư trường dâng khát Vọng tình yêu.
 
Dân vì nước nước vì dân vững bền Phát triển
Ngư đội biển
Làm cá Voi, cá ONg, Kình ngư
Cứu dân giữ chủ quyền là trước Hết
Một thuyền đánh cá ngư dân Khánh Hòa
Bị săn đuổi, giông dữ, đâm chìm.
 
Năm ngư dân trên một chiếc xuồng thúng
Trôi dạt, Uất khí, mịt mù...
Ngư dân Bình Định thuộc lòng chính sử
Chiêu binh thần tốc thần lực Quang Trung.
 
Cấp báo. Khẩn cấp. Tìm cứu năm ngư dân
Tìm kéo con thuyền chìm
Ngư đội biển - làm cá Voi, cá ONg, Kình ngư
Cứu dân là trước hết.
 
Vết thương sóng ngậm
Gà trống An Tiêm chiến sĩ tiên phong gáy vang!
Các lão ngư lưng trắng muối đầu trần...
Hòa nhịp sÓNg Nhịp tim ngân vọng
Hòa bình là lẽ sống
Con mắt thuyền cay sóng, bến nhân gian!
 
8.
Bác - Lãnh tụ Hồ Chí Minh cha già dân tộc
Tuổi thơ Người Vượt đèo Ngang cùng Phụ thân
Từ đỉnh đèo nhìn biển Đông
Người thốt: ao nhà
Biển Đông ao nhà
Biển Đông hữu tình hữu cảnh!
 
Biển Đông, thưa Bác
Bác căn dặn, lòng dân dào dạt
Trước ta có đêm, có rừng
Nay có ngày, có đất, có trời, có Biển
Biển bờ ta dài tươi đẹp phải Dốc Tâm đâị đoàn kết Giữ gìn.
 
Biển Đông nhấp nhô đảo dưa hấu An Tiêm
Sóng nghi lễ dâng vua cha Diệu Huyền
Bánh trời tròn đất vuông thơm thảo
Biển Đông - hòn non bộ nối ruột đất liền
Giữ bình yên, giữ chủ quyền tôm Cá tung tăng!
 
Bấy nghìn năm trôi qua một thế kỷ Trôi qua
Lời Người dội vang, vầng dương Rực rỡ
Tôm cá tung tăng nghi lễ trời Nam
Tình dân yêu đảo buồm căng no gió
Vốc biển mặn rạng gương mặt Hùng binh
Mỗi gương mặt một ấn triều chính pháp
Đẩy lùi giông đen, Xây dựng Lòng tin.
 
Thưa Bác - Lãnh tụ Hồ Chí Minh cha già dân tộc
Đảo nhấp nhô biển Đông
Tổ Quốc ta liềm một giải non sông
Tổ quốc ta phải giàu lên từ đảo, kiêu hãnh
Đảo nổi, đảo chìm, rạng san hô, hệ nhà giàn
Mỗi ngư thuyền lòng dân là thần thánh.
 
Biển Đông ao nhà Tổ quốc ta
Ngư đội hải quân- làm cá Voi, cá ONg, Kình ngư
Bảo hộ dân, mỗi âu thuyền giao thương phiên chợ...
Nay ta có đất, có trời, có biển bờ dài đẹp Tươi
Lòng dân cố kết giữ chủ quyền trong từng Hơi thở
Lòng dân cố kết tôn vinh Hiến chương Liên Hiệp quốc
Yêu hòa bình mở biển cá Đầy Khoang...
 
Cảng biển ta - các chàng trai đại dương
Cảng biển ta - các tiên nữ đại dương
Các âu thuyền mở dịch vụ chợ phiên tập Nập
Mang khúc ca Tàu không số đường mòn Hồ Chí Minh trên biển bất khuất..
 
 
Chương 6.
KHÚC CA MỞ BIỂN
 
1.
Thưa Bác lời Bác dặn dò
Nước nhà thống nhất còn nhiều gian khó
Biển bờ dài tung tăng tôm cá
Con mắt thuyền cay sóng âu lo.
 
Lý Sơn con tàu quàng khăn đỏ
Lý Sơn con tàu đứng đầu sóng ngọn gió
Lý Sơn con tàu nhấp nháy sao xa
Lý Sơn con tàu làm giàu từ biển
Lý Sơn con tàu đón du khách danh Tiếng
Lý Sơn con tàu gọi Đón sóng Hoàng Sa
Lý Sơn con tàu con tàu trọn Chín thương mười nhớ
Lý Sơn con tàu chiêu binh Binh Phu
ẤN triều Quang Trung sâu nhịp thở
Mở biển mừng xuân tôm cá tung Tăng
Mở biển mắt thuyền ngời mắt nhân Gian.
 
Trước ta có rừng... Nay Ta có đất có trời có biển
Biển bờ dài óng vàng cát mịn, trăng vàng
À Ru à ru, lưng võng, Ba Lô hành trang
Xe pháo ngủ sao trời thức
Đông Trường Sơn xe pháo ngủ sao trời thức
Mắt lá mắt rừng thức cả Ngàn năm.
 
À Ru à ru lưng cua đá, Lưng rùa biển...
Tao ru chạm vách đảo Trường Sa Hoàng sa
Tao ru chạm vách  Đảo Hoàng Sa Trường sa
Mỗi ru đẩy một thời khắc non nước
Mỗi ru đẩy tung tăng thêm điều ước
Cá đầy khoang lòng dân nở hoa.
 
*
Bầy em nhỏ tung tăng khăn quàng đỏ
Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn Thiếu niên Nhi đồng
Mắt đảo mắt trẻ thơ Quấn quýt
Rùa biển đẻ trứng Lăn hừng đông
Bầy em nhỏ lớn lên từ đảo
Chăm học hành kính yêu cô giáo
ÁO thủy thủy Thả diỀu ứng bầu trời Chiêm bao
Lũ cá biết bay diều bay cao
Lũ cá biết bay hân hoan dào dạt
Xếp đội hình làm chiến sĩ hải quân.
 
Nay ta có đất có trời có biển
Quảng Nam
Quảng Ngãi
Bình Định
Nha Trang
Phan Rang ...
Năm Căn... Cuối trời Tổ quốc
Bao nhiêu sông... Mở lòng linh diệu
Cảng Ba Son thủy thủ trẻ măng
Cảng nước sâu, cảng Liên Chiểu
Cảng Hải phòng vịnh Bắc Bộ xanh
Cửa vịnh Bắc Bộ mở xanh ý tưởng
Tự đảo thiêng Cồn Cỏ lòng dân.
 
À Ru à ru
À Ru à ru
Con cá mòi, cá hồng, con cá chòe, cá phướn
Con cá thu là con cá khơi
Con cá dìa, cá hanh tung tăng cá rạng
Rạng san hô rạng đá đổ mòi
Con cá ngừ con cá heo chúa tể
Chúa tể biển Đông loài cá quý cá hiền.
 
2.
Đếm đảo từ nhớ, gọi từ thương cho đủ
Mỗi ngư thuyền canh giữ bình yên
Mỗi lão ngư đầu hội cờ hồng
Mỗi trai biển nhịp tim reo hát
Giàu tương thân rừng vàng biển bạc
Giàu hai bàn tay, lòng yêu nước mênh mông.
À Ru à ru nhịp Hời ru kỳ vọng
Con trẻ lớn nhanh
Vai chạm ức thuyền, nâng bỗng thuyền mắc cạn
Mắt ẩn vào mắt thuyền xa bờ nghiêng nếp trán
Nửa chân trời vách đảo trời xanh
Lễ hội thành đinh trao khăn quàng đỏ
Cho bầy em ca hát chăm chỉ học hành
Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng.
 
Các ca sĩ ca nương Quan Họ liền chị liền em
Các doanh nhân các nhà khoa học
Các văn nhân, cây cọ bảy màu
Bản nhạc, kịch trường nào đâu
Boong tàu chiến hạm sóng thần nội Lực, tốc lực
Cốt giữ bình yên tránh mọi nỗi Đau
Cốt giữ đa phương giao thương chính trực
Hòa bình là lẽ sống, Sống thanh cao
Niềm xa nước nhớ nước về thương nước
Niềm xa nước nhớ nước lòng ao ước
Được vươn khơi được thăm đảo, tự hào
Mỗi bàn tay năm ngón rực cờ sao.
 
*
Mỗi bàn tay giữ ấm Vòng tay ôm lấy biển
Mỗi bàn tay giữ ấm Vòng tay ôm lấy biển
Mỗi tên đảo – gọi Nên làng nước xôn xao...…
Bầy em nhỏ lớn lên từ đảo bơi như cá
ÁO hải quân mũ Thủy thủ mây bay
Lý Sơn đảo ngày mới sớm nay
Mới tâm tư thơm cội rau ngọn lá
Cát mịn tươi vàng lòng thốt GọiVạn lý Hoàng Sa
Yêu đảo thương non nước quê nhà
Yêu đảo bưng bát cơm mưa chan Sóng lả chả
Mà lòng khôn nguôi giữ ngư trường tôm cá tung tăng.
 
Cảng biển ta –
Các chàng trai đại dương Mai An Tiêm
Cảng biển ta –
Các tiên nữ đại dương dâng dưa hấu đỏ 
Cảng Hải Phòng, Chân Mây, Quy Nhơn...
Cảng Sài Gòn... Dâng trào nhịp thở
Ngũ Quảng, Dung Quất, Phan Ran, Phan Rí
Cát vàng, cát đỏ mênh mông
Mở cảng chung góp đá chung quà nhớ đảo
Nâng đảo
Hệ nhà giàn mắt sóng anh minh
Cắm cọc vào lòng đại dương bằng sức nóng Con tim.
 
Con mực nang
Con mực ống
Ngọn nồm bông
Con nhạn bay
Con trích, con chuồn bay
Con cá chim bay mà không có cánh
Con ruốc vào bờ đỏ rựng hừng đông
Yêu biển làm giàu từ biển
Yêu đảo làm giàu từ đảo
Bờ biển dài mở đại lộ từ Móng Cái vào Cà Mau
Con cá cày cày tư duy, cờ Búa Liềm đón gió
Giữ luật phù sinh phù thủy dưỡng Muôn loài
Dưỡng rạng san hô dưỡng nuôi ngọc đỏ.
 
Vịnh Nha Trang vịnh xanh Bắc Bộ
Đảo Cái Bầu, Cô Tô, Vân Đồn, Bạch Long Vĩ
Đảo ngàn xưa dưa hấu đỏ An Tiêm...
Cồn Cỏ, cù lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý
Côn Đảo, Hòn Khoai, Thổ Chu, Nam Du, Phú Quốc kỳ vĩ...
Gọi Phú Lâm, Linh Côn, Bông Bay, Tri Tôn
Kể theo nhớ, gọi theo thương cho đủ
Đảo gần đảo xa thềm lục địa Việt Nam
Bác Hồ dặn giữ gìn non sông thống nhất
Ta có đất, có biển, có bầu trời trọn vẹn giang san
Bác Hồ dặn không có gì quý hơn độc lập
Biển bờ dài nặm mồ hôi của toàn dân tộc
Dân phải giàu từ biển vươn khơi, biển bạc rừng vàng
Mỗi quầng đảo - vệt mực - chuỗi huân chương cho Tổ Quốc.
 
Cảnh sát biển đội kình ngư chỗ tựa
Cảnh sát biển đội kình ngư cứu hộ
Cảnh sát biển đội kình ngư làm theo lời Bác
Ngư thuyền ta no gió cá đầy khoang
Đảo Lý Sơn chiến hạm lòng dân dào dạt.
 
Giữa trùng khơi trấn chốt mở âu thuyền
Âu thuyền kiến tạo âu thuyền chợ phiên
Âu thuyền kỳ tích
Dịch vụ hòa bình gìn giữ bình yên
Chuỗi nhà giàn trụ sóng trung kiên.
 
Bờ biển dài hơn 1.650 km chim bay đổi kỳ Mưa rét
Đường thiên lý quốc gia từ Lũng Cú đến Rạch Tàu
Bờ biển phần đất hơn 3.600 km sóng thức Bạc đầu
Thềm lục địa hơn 30 triệu Km2 Biển giàu biển đẹp
Mắt mẹ đất liền vời vợi trông Ra
Mắt mẹ đất liền trọn vòng tay ôm đảo gọi tỪNg nhà.
 
Nỗi lòng vợ nhớ chồng Chớp mắt đèn
Nỗi lòng con nhớ cha chớp Mắt đèn gió
Nỗi lòng ông nhớ cháu Chớp mắt đèn cờ đỏ
Nỗi lòng anh nhớ em chớp Mắt đèn trăng
Nỗi lòng bầu bạn đua Ghanh chớp mắt đèn đội ngũ
Hẹn sớm ngày ra đảo, Canh đảo, vô danh tuổi tên.
 
Mỗi ngóng trông làng nước Chớp mắt đèn biển cả
Mắt đèn biển cõng sóng Nhà giàn
Mắt nhà giàn, mắt đảo đá
Mắt san hô, mắt tôm cá, Mắt thuyền
Biển bờ thao Thức, con mắt thuyền xao xuyến
Thềm lục Địa trọn kinh tuyến vĩ tuyến
Bác Hồ dặn – Di chúc Bác – Hùng - văn
Giữ gìn non Sông tươi đẹp, luôn bắt đầu từ biển
Bằng tấm lòng bằng đức cao cả hy sinh.
 
Di chúc Bác hàm ẩn khí Lực tôn vinh
Cơ trời Ứng Hiến chương Liên hiệp Quốc.
 
Nghìn chữ treo đèn chủ Quyền độc lập
Nghìn Chữ treo đèn mắt nhà Phật Trúc Lâm.
Giông dữ sóng thần, kiên Cường tận hiến
Mỗi chiến sĩ tim cũng thắp đèn biển.
 
Thưa với Bác
Tư tưởng phong cách Bác tụ hội tỏa sáng bao trùm
Mỗi chiến sĩ hứa làm tròn bổn phận
Mỗi chiến sĩ bám đảo đầu đội trời
Để Bác vui để Bác thanh thản mỉm cười
Để Bác vui Bác trao Huân chương chiến sĩ
Để Bác vui Bác trao Huân chương giữ nước
Cho mẹ già
Cho vợ trẻ
Con thơ.
 
Chuỗi huân chương treo lên mỗi nhà Giàn
Chuỗi huân chương trên lên từng cây đèn biển
Như vầng dương
Như vầng trăng rạng rỡ ngày đêm
Biển bờ dài
Dân cường
Nước thịnh
Tâm nguyện Bác hôm nay
Tâm nguyện Bác thế kỷ này
Tâm nguyện Bác soi lòng Tay rạng tỏ
Chuỗi huân chương Bác mãi còn trao.
 
Thưa Bác, lời Bác dặn dò thanh cao
ẤM lòng dân Dân giàu từ biển
Mỗi mặt chữ Chữ nghìn Tay nghìn mắt văn hiến
Tâm tưởng Phật đài
Quốc thái dân an
Muôn mặt đảo hướng về núi Tổ
Chuỗi huân chương sáng giá Bác trao
Cho mẹ già
Vợ trẻ
Con thơ
Lòng chiến sĩ cùng dân cố kết
Một tình yêu thương nhớ đảo vô bờ.
 
Đảo và cảng
Cảng và đảo
Quân và dân cá nước
Mũ hải quân bay cánh diều mùa diều say Yêu đảo
Các chàng trai đại dương
Các tiên nữ đai Dương
Cảng và đảo thời đại Hồ Chí Minh
Dân yêu đảo chung lòng thương nhớ đảo
Vời vợi mắt đèn từ cảng bật sáng tự tim
Con trẻ tung tăng, trống trường vào lớp Học...
 
Phan Rí
Phan Ran
Lý Sơn
Hòn Khoai
Đảo Ngọc
Vân Đồn
Hai Bà Trưng
Ngô Quyền
Khai quốc nền Độc Lập
Lê Đại Hành
Quốc công Trần Quốc Tuấn
Bạch Đằng giang cọc nhọn lưu truyền
Di chúc Bác nghìn chữ tỏ lòng dân triều xanh khoáng Đạt.
 
Thưa Bác –  Bác Nhạc Trưởng Quốc ca
Thưa Bác – Bác Nhạc trưởng Quốc tế ca
Tư tưởng Người hội tụ nhân văn tỏa sáng
Di chúc Bác Hồ Hàm ẩn khí Lực cHữ ấm lòng dân.
 
Di chúc Bác Hồ sang trang chữ lặng Tôn vinh
Lòng dân vỗ về yêu đảo, say nhịp hò lãng mạn.

9/2020
 

Đôi lời về thơ lục bát

                                                                                Lê Thị Mây

           Lê Thị Mây, Tác phẩm chọn lọc. Tuyển tập thơ chọn lọc, ở bài viết này tôi chỉ nói riêng về thể lục bát. Lục bát, thể thơ truyền thống khó viết, dễ vấp câu, chữ sáo mòn. Lục bát đông thi, với nhiều mạch chủ đề ở từng bài thơ, hình thành nên các tập: Ca dao mùa thu, Lục bát đông thi và, trích lục bát từ trường ca Lửa mùa hong áo là những tác phẩm chọn lọc. Đấy một hành trình dài của một đời thơ, mà tôi vốn là một người thơ rất yêu thể thơ lục bát.

Bài thơ Mẹ, bài lục bát đầu tiên, nằm trong chùm thơ gồm: Mẹ, Chiếc nón Trường Sơn, Cát làng tôi...; viết từ trong bom đạn, những năm đầu 1970. Từ bấy giờ cho đến bây giờ, thường, trước trang giấy, tôi không chủ định viết thơ tự do hay thể lục bát. Cảm xúc thế nào ra vần điệu, tạng thức thế ấy. Tuy nhiên, trong quá trình viết, trải nghiệm “kỷ năng” thể loại hình thành dần, thành nếp rung tình cảm của trái tim.

ở tập thơ Giấc mơ thiếu phụ, nhà xuất bản quân đội nhân dân, 1996, gồm nguyên tập thơ Một mình, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1990 và có thêm trên dưới 20 bài lục bát bổ sung. Đầu sách này nhà văn Nguyễn Bình Phương biên tập, có lẽ anh cũng có nhiều ngạc nhiên về mạch thơ “Một Mình” cùng với 20 bài lục bát hình thành nên tập thơ “Giấc mơ thiếu phụ”. Khi làm tuyển Thơ và Trường ca tuyển tập, NXBHNV, 2017, tôi ghép tên của hai tập thơ thành: Một Mình và giấc mơ thiếu phụ”. Mạch thơ lục bát của tôi thường thiên về tình cảm, sâu về tình mẹ, tình lứa đôi tôi viết ở Huế, vào những ngày tháng khóc mẹ; một mạch cảm xúc phân thân, từ tình mẫu tử, liên tưởng cảm hứng “làm dâu” dẫn dắt, bồi đắp sự thiếu vắng mẹ ngóng chờ đầu ngõ.

Mẹ già như chuối ba hương

Thơm xôi nếp mật thơm đường mía lau

Lời xưa thương suốt mai sau

Tóc tiên mẹ chải trắng màu nước non

(Mẹ)

 

Trong trời đất có bao nhiêu tuổi phúc

Lời mẹ lay ngọn cỏ đổi heo may

Tấm khăn xô che mặt mỗi ngày

Tóc con chải rối hồn trên răng lược

 

Miếng trầu cay bát canh bầu còn ngọ

Chỗ mẹ ngồi bậu cửa mẹ đứng lên

Chân giường xô lệch gối đêm

áo mẹ gặt phơi một dây gió thổi

 

Mẹ hỡi mẹ cây sứ vàng hoe nắng

Con nhặt hoa lời mẹ những vun trồng

Đã ba năm không thao áo đổi hồng

Giờ sững lại giao thừa cay khói pháo

 

Bao nỗi nhớ riêng trên đời nhớ mẹ

Con như cây bứt lá trải mùa đông

(Nhớ mẹ)

 

Bông lau thắp nén u hoài

Trà Am mỏ đổ sương ngoài dặm thông

Viếng cha hương khói tự lòng

Gộc trầm mưa nắng đục trong bên trời

Suối xa vàng dưới chân đồi

ặt trời hoe đỏ một đời khóc cha

 

(Chiều thăm mộ cha)

 

Trở mùa mưa gió sau lưng

Rừng thông nhòe bóng trập trùng thiên thu

 

Một năm là một tháng tư

Vành tang cuộn cả sương mù quanh năm

 

Ngự Bình núi cũng động tâm

Trước tròn sau méo cùng trăng lệ ròng

(Bên mộ cha)

 

 

Thơ lục bát cho tình yêu lứa đôi có các bài: Trăng cây rơm, Ca dao mùa thu, Đám cỏ xanh, Bữa cơm, Vết thương, Em đến có muộn không, Từ thương đến nhớ, Cây hoa gạo, Mời cày, Nắng chiêm, Trăng non đầu ngõ, Người đi qua phố...

 

Ruộng người cuốc bẫm cày sâu

Một đôi đon mạ thắt bầu lưng ong

 

Ruộng em lo cưới chửa xong

Một bồ thóc giống một nong con tằm

 

Trai làng áo lính về thăm

Cây rơm treo một khuôn rằm cầu hôn.

 

(Trăng cây rơm)

 

Ta chơi với cỏ chiều nay

Khóc đàn châu chấu vội bay về trời

 

Nhờ trăng tìm cỏ hoa tai

Duyên ta đeo cỏ đi hài lá sen

 

Xé mây một giải thắt lưng

ió bay hoa lý rưng rưng nhớ người

 

Buồm đem ra ngõ ta phơi

Cho người nhìn thấy đôi lời người quên.

 

(Ca dao mùa thu)

Thơ lục bát trữ tình công dân: Cát làng tôi, Chiếc nón Trường Sơn, Tiếng cười, Trước mộ chị út Tịch, Bùn non mũi đước, Vượt sông Ta Lê, Thương nhớ một ngày, Về đề (II), Nôi tre. Bài thơ Nôi tre, được nhạc sĩ phổ nhạc về chủ đề tình yêu biển đảo.

 

Trăng tròn ru với nôi tre

Tuổi thơ tựa giọt nắng hè xa xôi

Đêm mưa bà ủ tiếng cười

ầu ơ Thánh Gióng cũng nôi tre làng

 

Quả cà bốn phía nhân gian

Giặc xong mấy trận gian nan bạc đầu

Tao ru lời mẹ còn đau

Vết thương lành đất mai sau tạc lòng

 

Quê nghèo thiếu chiếu thừa nong

Mẹ già ủ trấu sao chong ngọn đèn

Tao ru chạm lối người quen

Đến thì lúa trỗ đất phèn còn chua

 

ầu ơ sấm khản cơn mưa

au về tưới đất mát trưa bóng tròn

Lòng người yêu cỏ cỏ non

Bà ru từ thuở mẹ còn ấu thơ

 

Mẹ ru ẵm nựng giấc mơ

Tuổi trai vỡ giọng cậy nhờ nôi tre

Bây giờ áo lính xa quê

Tao ru chạm đến chân đê nhớ làng

 

(Nôi tre)

    Ở trường ca Lửa mùa hong áo, 2003, trong 17 chương có chương thể lục bát: chương 12 - Thư. Chương 16 - Chị ơi. Và nhiều khúc, đoạn xen giữa các: Chương 7 - Giấc mơ ban ngày. Chương 8 - Lửa phà miền Trung. Chương 13 -Đếm bom. Chương 15 - Tóc... Vốn đang mạch thể tự do, bật sang lục bát rất tự nhiên. Đấy là tạng thức cảm xúc thốt lên tự lòng được ủ muồi hàng chục năm trước. Từ ngày còn ở rừng Lim, tự ngày cầm được lệnh nhập quân đi Thanh niên xung phong. Đúng là vậy. Một hành trình thơ, chi tiết đầy ắp, thanh vận dư dật, biến dịch, ẩn phép nhiệm mầu của hiện thực trên các nẻo đường Trường Sơn, theo dấu chân, dấu gậy người lính.

Trang thơ lục bát tuyển chọn, chính tôi cũng rất ngạc nhiên về mạch sâu, nội tâm tình cảm của bản thân. Với chùm thơ lục bát đầu đời và các chùm thơ lục bát khác viết thời ở Quảng Bình, cùng các bài thơ Chiều thăm mộ cha, Nhớ mẹ.., là mạch cảm xúc thể lục bát ảnh hưởng lời ru của mẹ, của dì và hồn bảng lảng của ca dao tục ngữ lưu truyền trong đời sống dân gian ngấm vào tình cảm tự tuổi nhỏ. Thời chưa ra khỏi nách áo mẹ, chưa có linh tính về con đường thơ dẫn dụ số phận. Rồi có một giây khắc, tôi chợt giật mình hiểu ra, cái mạch ngầm lục bát ấy cũng đã có chút hơi hướng ảnh hưởng lục bát Nguyễn Du, do mê Truyện Kiều. Thời ở xứ núi Rừng Lim huyện Bố tôi đã có ý thức tập tễnh viết lục bát. Cảm xúc này hệt những giọt nước rơi từ mái tranh, tôi hứng ngấm vào hồn như một cung trầm, kéo vệt dấu lặng của giàn giao hưởng các thể loại thơ: thơ lục bát, thơ tự do, thơ văn xuôi. Có đồng nghiệp thơ nhận xét: “ Theo tôi, chưa ngọt trong lục bát nhưng với thể tự do Lê Thị Mây thoải mái biến hóa”. Có thể có phần thế thật. Nhưng không vì thế mà mạch thơ lục bát của tôi đuối! Với tôi lục bát là mạch chìm, một trữ lượng chìm.

Trong giàn đồng ca lục bát hiện nay có nhiều nhà thơ gặt hái được thành công. Nhà thơ Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ, nhà thơ Anh Chi. Các nhà thơ quê hương Bình Trị Thiên: nhà thơ Xuân Hoàng, Hải Bằng, Hải Kỳ... Các anh là những cây lục bát tâm huyết. Về tứ và hồn lục bát ở mỗi tác phẩm của các anh đã gieo nhiều dư vang vào lòng bạn đọc yêu mến thể thơ này. Nhà thơ Anh Chi có hai câu lục bát “rất yêu” trong bài Thuyền than lại đậu bến Than:

Con sào cảm động cong cong

Cũng vít vổng và cũng mong lên bờ

Tôi nhớ, nhà thơ Anh Chi đã từng nói với bạn thơ trong lớp (lớp Viết văn khóaI, Khoa viết văn Nguyễn Du), đại ý, mà tôi hiểu, luận thêm: Viết mới lục bát, phải mới từ từ tâm, khơi lẩy cảm xúc. Mới ở chỗ gợi cho độc giả nghĩ qua chi tiết, văn cảnh, để câu lục bát không bị trôi tuột. Thơ lục bát của nhà thơ Anh Chi thoạt đọc: ngỡ trúc trắc”, lạ, mà cuốn hút. Chi tiết thơ gấp nếp vào cảm xúc, khó trôi tuột. Đấy là một sự đổi mới, làm mới lục bát, luyện tự tâm, rất ý thức về cách diễn đạt chủ đề của tứ thơ ứng ngữ cảnh, đời sống hiện thực, ẩn thân phận nhân trữ tình. “Con sào cảm động cong cong?/ Cũng vít vổng và cũng mong lên bờ” là chi tiết, được nhân cách hóa Con sào cảm động cong cong là ngôn ngữ thơ mang lời của trái tim tác giả. Tôi thiển nghĩ vậy.

Các thế hệ nhà thơ lão thành, đếm đầy hai bàn tay giọng lục bát tôi yêu mến, ngưỡng mộ, thuộc nhiều bài từ thời trẻ. Chất giọng lục bát Tảng Đà, Tố Hũu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Bính, chị Xuân Quỳnh... Riêng chất giọng lục bát của Bùi Giáng, cảm được cái hay, khó bình giải hay thế nào, đúng với khí chất tiên sinh? Tiếc, tôi chỉ được đọc thơ Bùi Giáng thoảng hoặc in trên các báo.

Tôi ngưỡng mộ các thi sĩ nhiều thế hệ đã viết thể thơ lục bát thành công và tin thể thơ lục bát trường tồn trong hành trình ngôn ngữ của dân tộc. Tôi cũng nuôi mơ ước, hy vọng có đóng góp nhỏ trong thể lục bát, dễ làm mà khó hay. Trong vỉa mạch thơ lục bát được tuyển chọn có một vệt thơ lục bát, mỗi bài chỉc 14 câu. Điều này dù sao cũng là một điều vui. Nó là vỉa chìm, trữ lượng chìm, tôi nghĩ và tin vậy.

Mạch lục bát, mỗi bài chỉ 14 câu, là bởi tôi yêu thể sonne, thơ 14 của Wilam Shakespare. Từ yêu kịch và thể thơ sonne của Wilam Shakespare, qua ngẩm ngợi, về bố cục, thể thức 14 câu: gồm 3 khổ 4 câu và 2 câu kết là bố cục, Câu 7 hoặc 8 chữ. hoặc có thể 9 chữ. Thể thức hợp lý mà quyến rủ của sonne, tôi đâm ra “nghiền” lúc nào không hay. Khổ 1: mở đề. Khổ 2 và 3: luận. Và 2 câu cuối kết tứ. đấy là nói thế, chứ thực ra khi viết, tức “lao động cảm xúc” khó nói trước được gì. Nó là tầng số rung của trái tim, chứ không phải là nhịp điệu, vần thức lắp ghép câu chữ.

Ơn nghĩa bao giờ cũng nặng lòng và khó thốt thành lời. Các cụ xưa đã dạy vậy. Con đường thơ dài dặc, tôi chưa dám buông bút ngưng nghỉ, bởi luôn mong mỏi, qua mỗi tác phẩm tuyển thơ lục bát này, trước là đền đáp phúc sinh thành của phụ thân và mẫu thân. Sau bái vọng đến nhiều ân nhân, ân nghĩa suốt dọc đường đời cho bóng mát, lòng tự tin cuộc sống và thi ca. (1) .


Hà nội 25/1/2016-5-2019

(1)Bác C.K.T. người viết thư tay gởi cho nhà thơ Xuân Hoàng, thuyết phục ông nhận tôi về Hội Văn Tỉnh. Nhà văn hóa học N.T.. Thầy Hiệu trưởng Trường Y sĩ Quảng Bình Nguyễn Thông, thầy Hiệu phó Hoàng Văn Hưởng, quê cát Bảo Ninh... vào năm Mậu Thìn ấy (1968) là những bậc ân nhân cho con đường nghiệp văn của riêng tôi có một bước ngoặc, chuyển một bước trưởng thành hướng tới sự
thành đặt của hôm nay và tương lai còn ở trước mặt.
 

Chùm thơ lục bát, lấy từ tuyển thơ Tác phẩm chọn lọc
Của Nhà thơ Lê Thị Mây

HÀ NỘI BA SÁU PHỐ

Ba sáu phố Hà Nội xưa
Ngẩn ngơ giọng nói ngỡ vừa thoáng nghe
Khôn dứt từ đấy đi về
Tàu ga Hàng Cỏ với quê Quảng Bình.

Yêu giọng nói ấm vào tim
Ba mươi sáu phố một mình tôi thăm
Hàng Ngang, Hàng Trống, Hàng Bông
Tôi yêu Hà Nội lòng vòng bấy nhiêu

Ước sao có một cánh diều
Nối dây bay bổng với điều đam mê
Ga tàu Hàng Cỏ đi về
Tôi yêu Hà Nội hồn quê Quảng Bình.

Ngẩn ngơ yêu quá người xinh
Dạo ba sáu phố một mình tôi thăm
Còi tàu thoáng đã trăm năm
Cành đào vẫy lệch vầng trăng Tây Hồ...



XA NGÀY ĐANG XA
 
Một mình vừa đấy, mà thôi
Bao nhiêu ríu rít nói cười vời trông
Nắng mai đỏ má đào hồng
Rằng còn đưa tiễn chồng chềnh đắm say
 
Thôi chào Hà Nội trưa nay
Tàu về, chuyển bánh...xa ngày đang xa
Bao nhiêu ríu rít... sân ga
Nón nghiêng vẫy những thiết tha vơi đầy
 
Xôn xao ngọn gió hồ Tây
Mơ vàng sấu chín hàng cây bạn bè
Đầm đìa nắng chảy tiếng ve
Rỏ muôn giọt bỏng mùa hè vào tim
 
Tôi đi về tận Quảng Bình
Ngày đang xa biết bao tình hôm nay
Vời theo một đám mây bay
Mà ga Thường Tín vòng tay chưa rời.
 
1970

LỤC BÁT TRƯỜNG SƠN

Bìa rừng cơn gió xa xưa
Suối reo giọt nắng rơi vừa còn xanh
Dây phơi sau lán hong hanh
Vạt chiều yếm thắm gập ghềnh lối xe

Mùa đi sấm chớp bốn bề
Giọt mưa rơi chậm hồn quê nhặt cầm
Mây trôi vạt nắng sang xuân
Làn hương bồ kết dấu chân cuối đường

Ngoái tìm mùa lá đẫm sương
Ngôi sao chiến sĩ nhớ thương theo người
Áo khô xếp gió chân trời
Dây trầu níu vạt nói cười xôn xao.

*
Hạt mưa ướt cánh ca dao
Cài trâm yếm buộc ngọt ngào tày gang
Suối đèo một nhịp người sang
Điệu cười con gái dịu dàng lẻ đôi

Bên em bên chị đứng ngồi
Nắng gầy rụng tóc qua đồi gió bay
Vòng tay ôm níu vòng tay
Thoắt mười bảy tuổi tháng ngày vụt qua

Đường xe ẩn dưới rừng già
Hòm thư cõng núi chữ nhòa áo khăn
Thoắt cười thoắt lũ cuối năm
Ven đường mộ bạn, tâm nhang... vô thường.

Nẻo về chưa hẹn đồng hương
Nhớ xanh cả lá dảnh gừng bén cay
Sốt, tóc rụng gió cuốn bay
Lòng còn ngóng đợi vòng tay vội rằm

*
Thả câu lục bát đầy năm
Nào em bên chị, hụt chăn, khuyết đầy
Vừng dương lẻ nắng sang ngày
Lạc đôi là buổi mây bay qua chiều

Quá chiều gà gáy cô liêu
Tiếng cười nắc nẻ cầm liều thanh xuân
Thoắt qua muộn nẻo lần khân
Ca dao gieo nỗi bước chân gập ghềnh

Thoắt xa vội đã nghe gần
Lán tranh phơi áo tần ngần ngọn nam
Tóc hong bồ kết nhớ làng
Làn hương gói lụa vội vàng chửa trao

Trao thương cầm nhớ ngọt ngào
Nửa bờ lục bát nao nao hồn người
Người ơi hoa suối ngậm cười
Làn môi cắn chỉ chín mười khăng khăng

Yêu người tháng gối đầy năm
Con tem cánh gió mờ giăng núi rừng
Thư đi gọi nhớ, tủi, mừng
Ngày về sum họp lửa bừng ca dao


LỤC BÁT HOÀNG CẦM

Ruột đất nín khói Hoàng Cầm
Bếp rừng đỏ lửa hành quân lửa cười
Đèo heo hút mưa tháng mười
Nắm cơm ém vội cả lời nước non

Gió lùa củi lửa đượm than
Ba lô súng đạn trễ tràng được chăng
Heo may cái rét cuối năm
Con tem gió bấc áo khăn hơi người

Thư về lạc góc mưa moi
Uớt mèm con chữ loi ngoi lửa cười
Hoàng Cầm bếp trưởng là tôi
Chữ so nét chữ lay đôi chân trời

Ruột đất nín khói ngậm lời
Củi tươi lép bép sưởi hơi thư nhà
Nắm cơm hôi hổi rừng già
Tem thư cõng lửa qua phà hành quân


THÁNG MƯỜI CA DAO

Chao ôi nỗi nhớ lửa cười
Đồng sâu rơm rạ áo người gió bay
Thư về chưa kịp cầm tay
Nửa đêm bom giật nửa ngày mưa moi

Chợp mắt mơ mẹ lùi khoai
Em lùi củ sắn thơm ngoài ra giêng
Gà gô gáy gió rừng thiêng
Con ngầm đá hộc chùng chiềng cầu phao

Kéo phà ngợp ánh ngàn sao
Thác nguồn đổ nước ào ào sau lưng
Ủ than mặn muối cay gừng
Thư em thả lá quá chừng xanh xao

Đu cong guốc võng hôm nao
Khâu liềm em gặt nôn nao hội mùa
Chùm sim kéo vệt khế chua
Sốt rừng thèm ớt ghen lùa tháng ba

Xoay lưng chạm tháng mười ta
Rằm suông tròn bóng nhòe qua lán người
Mắt em mắt lá chớp cười
Đường xe hằn vệt chân trời heo may

Hanh hao vò khúc đàn dây
Lòng anh bối rối so đầy bóng em
Lũ rừng thư cõng con tem
Mắt cây nhòe chữ mắt em tháng mười


NHỚ EM GÁI XỨ THANH

Nhớ em em gái xứ Thanh
Tóc xanh một thuở chợt thành lời yêu
Ngày thu thả bóng cô liêu
Cuối này tôi với bao điều ngóng em

Tìm đâu kỷ niệm cầm lên
Hòm thư gió thổi lạc đêm Đò Lèn
Phải đâu sông Mã lửa đèn
Thi nhân vừa thắp cho em cù cười

Cái thời ra trận em tôi
Mũ công binh đội chân trời ngớt bom
Nhớ em dấu cỏ lối mòn
Vai gầy áo mỏng em còn hành quân

Lao xao cầm nhặt bâng khuâng
Cau vườn vừa chín ngỡ gần song đôi
Thoáng đâu hình dáng em tôi
Mũ công binh đội cuối đồi hoa sim

Mùa hoa tim tím cho mình
Câu hò sông Mã đinh ninh buổi nào
Ngẩng đầu, nhớ quá đếm sao
Một ngôi sao nhỏ lối nào bóng em

Thoắt chiều lệch nắng sang đêm
Hành quân buổi ấy bom rền Trường Sơn
Em tôi hay giận hay hờn
Cười mà rớm lệ... dốc trơn chân đèo…
 
2012

KHẾ CHUA

Đổi mưa lấy nắng xế trưa
Mà thương tím khế ngọt chua rành ranh

Thèm chua hái trái đang xanh
Hít hà muối ớt mà thành chợ quê

Đi xa hoa tím vẫy về
Mà nên áo Huế thương mê mẩn lòng

Một chua hóa ngọt bế bồng
Nựng yêu con trẻ mắt chồng liếc yêu.

EO THON

Em hò mượn gặt đồng chiêm
Tam Giang một phá ba duyên cấy cày

Phá thì mắt lưới bủa vây
Mắt em lúng liếng cầm tay lỡ cầm

Đồng xa hay gặt đồng gần
Em hò mái đẩy chậm chân anh rồi

Nên anh gặt đứng gặt ngồi
Một ôm trăng sáng bồi hồi eo thon.


HẢI PHÒNG

Mẹ xa biền biệt mùa trăng
Vội đi con vội áo khăn theo tàu
Này ga tỉnh lẻ mưa mau
Đăm đăm con thuộc bấy cầu bấy sông

Nhớ nhung ôm giữ trọn lòng
Cầm tay chiếc vé vời trông chân trời
Hải Phòng từ đấy mẹ ơi
Trái tim con đập bời bời nhịp ru

Con tàu chở nửa mùa thu
Rập rình bến Bính phà mù sương giăng
Con ra thăm mẹ hằng năm
Này tàu này cảng này trăng lưỡi liềm

Hải Phòng từ đất đất thiêng
Những đêm nhớ mẹ hóa miền ấu thơ...
 
1986

THĂM MẸ PHỐ CẢNG

Mẹ xa nhà đã một năm
Chợ làng chợ phố áo khăn đổi mầu

Trăng mười hai tháng bắc cầu
Tết vừa mai rộ đã màu ra giêng

Trầu têm cau chín còn duyên
Con thì áo mỏng lạc miền thi ca

Chuyến tàu qua ngõ tháng ba
Đã ga Hàng Cỏ đợi ga Hải Phòng

Con đi qua bến chưa chồng
Vội về thăm mẹ mà không dám cười

*
Hải Phòng phố cảng phố ơi
Có con mắt sóng đỡ lời cho tôi

Chị dâu hiểu ý vận trời
Cháu ngoan ba đứa khẽ cười con vui

Anh trai áo mũ ngậm ngùi
Vai tàu đã gió dập dìu giấc mơ.


NÔI TRE

Trăng tròn ru với nôi tre
Tuổi thơ tựa giọt nắng hè xa xôi
Đêm mưa bà ủ tiếng cười
Ầu ơ Thánh Gióng cũng nôi tre làng

Quả cà bốn phía nhân gian
Giặc xong mấy trận gian nan bạc đầu
Tao ru lời mẹ còn đau
Vết thương lành đất mai sau tạc lòng

Quê nghèo thiếu chiếu thừa nong
Mẹ già ủ trấu sao chong ngọn đèn
Tao ru chạm lối người quen
Đến thì lúa trỗ đất phèn còn chua

Ầu ơ sấm khản cơn mưa
Mau về tưới đất mát trưa bóng tròn
Lòng người yêu cỏ cỏ non
Bà ru từ thuở mẹ còn ấu thơ

Mẹ ru ẵm nựng giấc mơ
Tuổi trai vỡ giọng cậy nhờ nôi tre
Bây giờ áo lính xa quê
Tao ru chạm đến chân đê nhớ làng.


HAI MÀU THỜI GIAN

Chợt gì đắm sắc thời gian
Giật mình hoa phượng hè sang bao giờ
Bím tóc dài thả ngẩn ngơ
Thoắt kia giờ đã dại khờ chiêm bao

Nghoảnh nhìn áo đỏ xôn xao
Hè về tíu tít gọi nao nao tình
Bút tích ghi dạ đinh ninh
Câu thơ gió lật một mình sang đông

Nồm non nghe nhớ se lòng
Hè rắc cánh phượng chớm hồng lên môi
Thoắt kia giờ đã xa xôi
Trống trường tan vãn chỗ ngồi vắng nhau

Ve ran mây trắng về đâu
Bím tóc đã bạc hai màu thời gian
 
1998


CHIỀU THĂM MỘ CHA
 
Bông lau thắp nén u hoài
Trà Am mỏ đổ sương ngoài dặm thông
Viếng cha hương khói tự lòng
Gộc trầm mưa nắng đục trong bên trời
Suối xa vàng dưới chân đồi
Mặt trời hoe đỏ một đời khóc cha.



BÊN MỘ CHA
 
Trở mùa mưa gió sau lưng
Rừng thông nhòe bóng trập trùng thiên thu
 
Một năm là mấy tháng tư
Vành tang cuộn cả sương mù quanh năm
 
Ngự Bình núi cũng động tâm
Trước tròn sau méo cùng trăng lệ ròng.


NHỚ BÚI TÓC MẸ

Đăm đăm sóng vỗ ngóng trông
Ngôi sao nhớ mẹ nỗi lòng vời xa
Mỗi ngày thoắt đã hôm qua
Thơ may áo chữ hồn hoa... cát vàng

Li ti hạt cát... nhớ làng
Nhớ tóc mẹ búi đò sang chợ chiều...


MẸ CƯỜI

Mẹ cười lay gió sương rơi
Lòng con hứng cả chân trời nhớ thương
Cát vàng sông biếc soi gương
Bờ nhăn nếp trán đỗi đường vời xa

Trăng dòm quệt áo mưa nhòa
Con mơ mẹ dắt con qua nửa cầu.


RU EM THÉT

Ru em em thét cho muồi
Em tôi đã lớn nụ cười còn thơ
Tôi ru còn mãi ầu ơ
Mà sao tóc bạc đã ngờ sau lưng.

Tôi ru một nỗi vui mừng
Thủa ru em thét, cánh rừng tôi qua
Bao nhiêu cái rét tháng ba
Em tôi đã lớn vời xa tháng ngày.

Núi cao tùng bách mây bay
Tôi ru em thét vòng tay chị hiền
Mắt theo, cay sóng mắt thuyền
Em tôi năm đứa phận duyên của trời.

Ru em em thét cho muồi
Lời ru tôi có lệ rơi nụ cười!


CHỢ SÃI

Cầu mới bắc nắng sang đông
Đôi bờ Vĩnh Định nhớ dòng chợ phiên
Nào đâu trên bến dưới thuyền
Bây giờ đong đếm lụy phiền người ta

Ngoài đồng rạ ngấu sấm ra
Chợ Cầu chợ Quán người ta đắt hàng
Nhớ nem chợ Sãi mưa chan
Đồng tiền gieo lệ nhỡ nhàng bán mua

Hồn quê trở dạ gió lùa
Bình vôi rạn nắng khế chua xót lời
Ghen thì ớt đỏ hoa tươi
Chợ người đon đả được mời được thưa

Tìm đâu chợ Sãi ngày xưa
Mẹ tôi nghiêng nón che mưa đợi đò...




QUÊ NGOẠI

Mẹ ơi quê ngoại là đây
Mà con lỡ nhịp một ngày hôm qua
Mẹ làm dâu hạt mưa hoa
Chín mười con mẹ đón xa về gần

Mẹ ao ước chỉ một lần
Sớm về quê ngoại bước chân bồn chồn
Rồi không kịp nửa hoàng hôn
Con quỳ bên mộ cô đơn gió lùa

Mẹ ơi quê ngoại đang mưa
Mưa chan khắp lối nắng vừa trốn đâu
Sông xanh thủa mẹ qua cầu
Gợn xanh tóc mẹ gội đầu bến trong

Chín mười con mẹ vời trông
Quỳ bên mộ ngoại thưa không nên lời
Sông Vĩnh Định sông mẹ ơi
Xóm Trà, Chợ Sãi mẹ cười hôm qua

Đám mây quê ngoại so tà
Áo dài mẹ mặc ngày bà rước dâu
Đám mây ru võng qua cầu
Mẹ vừa hong tóc áo mầu hoa chanh.


ĐỔI LẤY LỜI RU

Giá mà có thể mẹ ơi
Con nhiều vụng dại sương rơi đầu cành

Sương rơi tưởng gió đành hanh
Lệ dù mặn phải đâu lành vết thương

Giá mà có thể soi gương
Trăng già đầy lại vầng dương má hồng

Bao điều mẹ dặn, ước mong
Con không nên được cuối đồng mây bay

Gặt không ôm được đầy tay
Lép mùa cả hạt sao bay ngang trời

Giá mà ít lệ biết thời
Đổi hư vinh lấy một lời hát ru



SẮC MÂY CHÂN TRỜI

Lòng con chống chếch khó cười
Đong đi đếm lại cái thời chưa xong
Đôi lời mẹ dặn mẹ mong
Mà không thốt được con không tới bờ

Cái cây có lá ngu ngơ
Cái cành có lộc đâu ngờ có hoa
Đếm lời gột hết xót xa
Tưởng cầm được ngọc vỡ òa sóng khuya

Cách sông là mấy chia lìa
Con chưa qua được bên kia vắng đò
Đếm đong đầy lối âu lo
Có con nước sĩa lũ to cuối mùa

Đong sao được nước cơn mưa
Đếm sao được lá gió vừa rung cây
Ngọc cầm rửa lệ sáng đây
Mà hoang tưởng cả sắc mây chân trời

Qua sông vớt nắng một thời
Lòng con đầy ắp tiếng cười mẹ cho
Con thôi đong đếm vu vơ
Ngân Hà con lội bỏ bờ xe hoa.



MẸ MẮNG

Chưa đi con đã vội cười
Mẹ yêu mẹ mắng là người vô duyên

Bấy nhiêu tuổi nét cười hiền
Con không sửa được trăng liềm trôi qua

Trăng khuya trăng mọc trăng già
Nụ cười ngủ cánh đồng hoa bảy màu

Dáng đi con bước thật mau
Sợ đường chật lối người sau rầy rà

Giá mẹ còn mắng, hôm qua
Hôm nay con sửa biết là mẹ yêu.


DÂY TRẦU BẦU NON (I)
 
Mẹ ơi còn nắng ngoài vườn
Dây tiêu vừa chín mà thương lá trầu
Sông xanh mưa nửa nhịp cầu
Ngõ về vắng mẹ một mầu quan san
 
Mẹ lo âu bấy đỗi đàng
Ba chị em gái dịu dàng mẹ yêu
Cách xa ngõ vắng lay chiều
Mẹ còn ru ẵm trọn điều ầu ơ
 
Ba năm, cách biệt một bờ
Mẹ ru nắng mãi thẫn thờ lời xinh
Mẹ thương ru ẵm chữ tình
Dây tiêu bói hạt giật mình trầu  xanh
 
Trời đất trở ngọn nắng hanh
Mà con đội nón chồng chềnh cả trăng


BỮA CƠM
 
Chiều rồi nhóm lửa nấu cơm
Em vui thầm lặng lẫy hờn đã qua
Khói cay thêm bấy thiết tha
Em chăm chút ngọn lửa nhà bên nhau
 
Vườn mưa xanh lắm ngọn rau
Bàn tay em hái sợ đau đến mình
Bát canh ngọt hóa lời xinh
Lặng im mà hóa lung linh mọi cành
 
Cơm sôi nhỏ lửa làm lành
Em vui chiều lặng xanh hơn mọi chiều
Gừng cay muối mặn mà yêu
Tay em năm ngón chịu nhiều nắng mưa
 
Giận hờn đang ngọt hóa chua
Thương nhau trời đất bốn mùa rưng rưng
Bầy chim ríu rít như mừng
Nắng trong củi nỏ không dưng lửa cười
 
Bữa cơm giản dị bao đời
Mà nên hạnh phúc của người yêu nhau.



TRƯỚC MỘ CHỊ ÚT TỊCH
 
Rừng non cây đước, chị đây
Hao hao mộ cỏ nắng gầy đất quê
Nghe chim bay động tứ bề
Sào cong kênh rạch nối về Cà Mau
 
Giọt sương khóc chị còn đau
Vai còn cây súng người sau giữ gìn
Khăn rằn con chị vừa xinh
Nước nhà thống nhất bóng hình chị đây
 
Triều cao kênh rạch nước đầy
Phù sa đỏ rạng theo bầy cò đêm
Chị đây, lá đước non thêm
Vai còn cây súng đất mềm lối thăm
 
Em quỳ với nước Năm Căn
Nước nhà thống nhất vầng trăng vừa tròn.
 
1975

MẶN Ở MŨI ĐƯỚC CÀ MAU
 
Bao nhiêu những lá đước non
Ngón chân Giao Chỉ mặn còn trên lưng
Rỏ từ chéo áo người dưng
Lời thương chạm lá e chừng gió bay
 
Mồ hôi rỏ đến thế này
Bùn non bén rễ nhớ ngày Trường Sơn
Gừng cay đất mới yêu hờn
Dây đàn so tới giang sơn bền lòng
 
Mặn nào lặn muối vào trong
Cầm chân lá đước vời trông muôn trùng
Dọc ngang kênh rạch thủy chung
Dây đàn vọng tới chót cùng nước non
 
Mặn từ lá đước lòng son
Ở đây tràn biển mặn còn hai vai...
 
1975

ÁO DÀI SÀI GÒN
 
Tiệm tóc này tiệm áo dài
Tôi qua mỗi phố rộng dài bước chân
 
Cái tà mây trắng eo lưng
Thước đo thót núi cánh rừng Trường Sơn
 
Giao liên, tải đạn cười giòn
Đo sao cho đủ mộ còn biết đâu
 
Áo tôi đo cả nhói đau
Bấy tà mây trắng qua cầu chữ Y.


CHỊ TÁM TIỆM

Chị đây, chị Tám em thăm
Chị ra đầu ngõ vầng trăng ban ngày

Chị cười mừng cả hai tay
Hai chân chị, giặc ráp vây đâu còn

Chị đây em bế chị lên
Vai em chị tựa tóc mềm sông xanh

Được phong, chị Tám Anh Hùng
Hàng cây đổ bóng đôi chân cuộc đời

Em mừng bế chị sương rơi
Trăng non đầu ngõ chị cười nghiêng nghiêng.



CÁT LÀNG TÔI
 
Lên đèo trắng chín tầng mây            
Nôn nao nhớ biển sóng đầy bước đi
Sờ vào túi áo tìm chi
Bỗng li ti cát, li ti tỏa ngời
 
Cát vàng rơi, cát vàng rơi
Hạt theo hạt chảy mặt trời trên tay
Bao nhiêu ánh biển về đây
Đẫm lưng bọt sóng một ngày ra khơi
 
Cát vàng rơi, cát vàng rơi
Sau đêm mưa ngọt càng ngời nắng mai
Quê ta cát rộng bờ dài
Càng cao ngọn sóng càng lai láng vàng
 
Tối trời cát sáng mênh mang
Sương nhòa cát mịn vút hàng dương xanh
Đường làng như hát long lanh
Em đi trực súng trăng lành ươm theo
 
Biển cồn sóng dựng gầm reo
Muôn li ti hạt ngang đèo dựng cao
Đánh xong trận giặc hôm nao
Ta về thả hạt cát vào khơi trong.
 
1970




CÁT QUÊ
 
Cát vàng ngấn sóng còn rung
Dấu chân năm ấy anh đừng sang xuân
Hoàng hôn hoe nắng ngoài sân
Cỏ long chong gió trở mồm thổi bay
 
Xưa bom đạn vai em gầy
Máu anh thấm xuống cát này người ơi
Vai em anh tựa một thời
Giờ em đếm cát tìm lời của nhau
 
Tóc thôi xanh nửa mái đầu
Cát còn trận địa thâu thâu gió về
Biển xanh rào rạt tình quê
Áo anh em vá vụng về đắm say
 
Xuống biển tìm hạt cát bay
Mong lời cát ướt sáng đầy tay anh
Cát vàng liền với trời xanh
Con trai ngậm cát hóa thành ngọc xinh
 
Mênh mông cát một tâm tình
Lẫn cùng cát một trái tim dịu dàng
Lời anh sóng bủa ngân vang
Hai tay em đãi cát vàng tìm nhau
 
Dấu chân trăng rắc về đâu
Cát quê thức với biển sâu nhớ bờ
Tâm hồn phụ nữ dại thơ
Tìm anh em tựa bài thơ cuộc đời.
 
1970
 

 

HẠC BAY CO MỘT CHÂN VÀO CÁNH                                                                                                                   

1. Dòng sông hoa đào

Trời đất đang vào thu, tôi bắt đầu sửa soạn tuyển chọn bản thảo cho một tập thơ về Hà Nội, nhân sắp đến ngày đại lễ Một nghìn năm Thăng Long (10/2010). Tên của tập thơ Dòng sông hoa đào. Lấy tên của bài thơ Dòng sông hoa đào đặt tên tập. Có hai con số 10 đặt dấu nhân ở giữa, thành một 100. Tôi chọn 100 bài vậy. 50 bài đã viết và viết mới năm mười bài.

Có lẽ bài thơ Dòng sông hoa đào đã được ủ muồi cảm xúc tự rất lâu. Tự dạo tôi được ra Hà Nội học lớp bồi dưỡng viết văn khóa 6 (1973-1974), tại Quảng Bá, thuộc đất hoa đào Nghi Tàm.. Tôi đưa vào bài viết này trọn vẹn bài thơ, xem đây là đôi dòng viết cho Lời đầu sách cho tập thơ về Hà Nội nay mai.

Huyền ảo trôi qua sương
Dòng sông hoa đào quyến rũ
Chở vầng trăng khuyết ngát hương

Những vườn nghinh xuân
Đào hồng khoe nụ
Vạt tứ thân khép lại mùa đông

Gót thời gian ướm những vệt hoa
Mùa mây Nghi Tàm che yếm
Phập phồng ngực phù sa

Phút giao thừa trời đất quyến luyến
Cánh đồng châu thổ chảy tít tắp sông hoa
Những cánh đào môi dào dạt lòng ta

Những cánh đào hồng Nghi Tàm rất trẻ
Sau gót người đi xa
Rất xa...
                                                      2.1988

         Thơ viết về Hà Nội từ các chuyến đi công tác, trong nhiều năm tháng ra Hà Nội học hành lại khá nhiều. Mỗi chuyến đi công tác Hà Nội thường, thể nào tôi cũng viết được một chùm thơ. Từ bao giờ không hay, Hà Nội - Trái tim của cả nước đã ứng nhịp đập thi ca đầy cảm xúc riêng tư và nhiều kỷ niệm khó quên. Có thể một gương mặt tình yêu, một gương mặt mẹ già, một người mặt góa phụ nhập hồn vía vào chân dung tự họa của tôi bằng thơ.

Đợt đi sáng tác do kết nghĩa giữa hai Hội Văn nghệ Hà Hội- Bình Trị Thiên, được ở tại một căn phòng nhỏ, tầng hai, có cửa sổ nhìn ra Hồ Gươm, Nhà khách Phú Gia của Thành Uỷ Hà Nội, mạch viết của tôi vừa bất thần tỏa sáng lại vừa chìm sâu một sức bút mạnh, thầm lặng, ghi khắc thành nếp ngôn ngữ cá tính. Đấy là mạch viết văn xuôi, từ 1982 đến gần hai mươi năm sau, với hơn hai mươi tác phẩm tôi tự bằng lòng, “tự khen sáng giá” từ mạch thơ chuyển sang mạch văn. Từ sau năm 2000 đến nay, mạch văn xuôi đã tắc bút, dù tôi rất trăn trở.

Cứ đếm trên đầu ngón tay, tôi có đến năm bảy đợt ra Hà Nội dự trại sáng tác Đại Lải. Hàng chục chuyến đi công tác ra Hà Nội gặp gỡ cộng tác viên, nhận bài vở về cho Tạp chí Sông Hương, Tạp chí Cửa Việt...

Lật dở bản thảo, ngẫm lại, nhiều bài thơ được bạn đọc chú ý; như bài Những mùa trăng mong chờ, được viết khi đang dự lớp Bồi dưỡng viết văn trẻ ở Quảng Bá, khoá 6 năm 1973; Đám cỏ xanh khi đang học lớp viết văn Nguyễn Du khóa I năm 1980. Bí mật mùa xuân được viết năm 1982 tại Nhà khách Phú Gia cùng với hai truyện ngắn đầu tay Mặt trời dưới dòng sông, Trăng trên cát. Bài thơ Ký ức hoa đào viết năm 1986 trong một chuyến đi công tác Hà Nội, ở Nhà khách Chu Văn An. Bấy giờ, anh chị Trần Trọng Tân cũng đang ở đấy, đương chức Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương. Thi thoảng, chị Hương gọi sang cho quà, những hộp sữa chua chị tự làm lấy, và nghe anh kể về tù ngục Côn Đảo. Những câu chuyện của anh, sau này góp cảm hứng sâu lắng, bùng phát khi viết trường ca Tự khúc ánh sáng.…

Vào những năm 1980, nhiều bạn đọc, đọc thơ tôi có người ngờ tưởng tôi quê xứ Bắc. Lúc đầu nghe vậy tôi buột cười ngạc nhiên, ngẫm lại có một chút lý gì đó. Một chút gì đó, có phải ngôn ngữ thơ của tôi, trước tiên, chuẩn phổ thông. Là một điều mừng. Một điều mừng từ việc học, trích lũy kiến văn mà nên. Tuy nhiên, rất cố gắng chuẩn phổ thông, nhưng tôi viết, “tự tâm thức địa phương” vẫn sai bét nhòe: dấu “hỏi” “ngã”, “t”, “c”, có “g” hay không có “g”.

Trong tiết thu, lòng vừa ngập ngừng vừa hân hoan nhiều ảo tưởng tự tin, tôi lẩy ra những bài thơ có gắn với các địa danh cụ thể, cuộn thành chủ đề tình yêu Hà Nội. Cảm xúc kéo cảm xúc. Những bài thơ mới vừa đầy ngợp vừa mong manh riêng tư. Kể ra, cho đến giờ phút này, sống ở phố Đội Cấn chín năm, và định cư ở Mỹ Đình, khu đô thị mới đã ba năm. Vậy trọn một con giáp mười hai năm. Ngần ấy năm tháng, tôi vẫn nói giọng quê biển bên hữu ngạn sông Nhật Lệ, Bảo Ninh, nhưng ngôn ngữ thơ đã vươn nhiều cung bậc cảm xúc hoa đào. Dòng sông hoa đào, tôi hình dung có sự khơi chảy trong trẻo của con sông Tô Lịch xửa xưa trong tưởng tượng của tôi. Sự lấp lánh, nỗi xanh biếc của dòng chảy, chảy nghiêng qua mé tâm hồn, mà chỉ một bờ hoa, bờ bên kia không xác lập được, nếu không nương theo dòng chảy sự kiện, vết tích, chiến tích lịch sử!

Tin vậy, phấn đấu không mệt mỏi, mong chuyển tải được bờ hiện thực của đời sống hiện tại, hiện đại.

Tập thơ Dòng sông hoa đào được hình thành, qua tuyển chọn khắt khe, nhưng rồi tôi bỏ dự định in thành một tập riêng. Nếu không sẽ chạm chân tới chuỗi việc hình thành tiếp các tập thơ về Huế, về Quảng Bình, thơ cho mỗi địa danh... thì nguy. Sẽ tự lâm vào “loạn mười hai chốn thơ!” Vấn đề không ở số lượng, hay trọn cả một tập thơ, cho mỗi vùng miền, một vùng đất cụ thể nào đó. Điều cốt lõi phải nắm bắt, diễn tả được thần khí cốt cách, chỉ số văn hóa. Đắn đo, trăn trở, sau tôi rút ra từng mảng viết về Hà Nội đưa vào các tập: Bài ca cố Hương. Cánh đồng thức. Cây Ngôn ngữ ra hoa, Trở về

Dưới đây là bài thơ Ký ức hoa đào tôi viết từ những năm cuối tám mươi, trải mạch, định vị mạch cảm xúc vắt qua một nghìn năm Thăng Long hào hoa.
 
Gió bấc về nhớ hoa đào Nghi Tàm, trăng suông vừa lên khỏi chân đê nước đỏ
Trong tất cả các loại hoa không hoa nào sánh bằng hoa đào
Lộng lẫy đến nỗi hương như thừa như chết

Rằm tháng chạp ngậm mưa phùn hé nụ, rằm tháng giêng tàn
Hé nụ trên tay người trồng, tàn trong nỗi hết xuân của bao nhiêu tổ ấm
Hoa thiêng rải thảm bóng hồ Gươm

Yêu hoa lần đầu giờ đã hai mươi năm nước mắt chảy gót chân con gái
Có gì như hương hương ký ức hoa đào
Người trai giọng trầm mang cả kinh thành Thăng Long trao gởi tôi rồi xốc ba lô ra trận...
 

2. Hạc bay co một chân vào cánh

Từ ngày xưa yêu cho đến bây giờ gồm các tập thơ thể Cung thi viết thời trẻ tuổi, vào những năm tám mươi, chín mươi của thế kỷ trước, kéo vệt dài cho đến nửa đầu thập kỷ thứ nhất của thế kỷ này. Cái trục thời gian trên luôn bập bênh có một chút níu gọi cần một sự trở về, khám phá tìm dấu ấn những năm tháng đã qua.

Phải khó khăn lắm mới hoàn chỉnh bản thảo này. Mỗi tập thơ trong Từ ngày xưa yêu cho đến bây giờ có một nhịp thi cảm và chủ đề xuyên suốt riêng. Thời gian chính là hình trình lao động luôn làm giàu năng lực sáng tạo của người nghệ sĩ.

Thơ chín câu và cái đuôi vĩ thanh Biến tấu bao giờ cũng hớp hồn vía câu chữ khi đào sâu, chìm sâu vào mạch cảm xúc của mỗi bài thơ. Vào mùa thu năm 1969, sau khi chuyển công tác về Hội Văn nghệ Quảng Bình (9/1969), cho đến nay (1-1-2007), dòng ngẫu thi này, với một thế giới riêng khuất kín, sâu kín tận đáy tâm thức. Trước trang giấy, được hóa thân và phân thân vào trong mọi cuộc đời, số phận bằng những khoảnh khắc tâm trạng mà thốt thành câu chữ, là một hạnh phúc lớn. Thốt lên với một điệu thức lửng, thiếu. Là khổ thơ ba câu so với khổ thơ bốn câu. Hai, có đôi. Bốn, có đôi. Một, lẻ. Ba, lẻ. Riêng một. Một bóng. Những năm tám mươi tôi đã ba mốt, ba hai. Rồi bốn mốt bốn hai. Nhìn vào mắt mẹ, tôi biết mẹ tôi muốn thốt hỏi “Sao con!”. Tôi dở túi xách. Quà dành cho mẹ, mẹ cầm hờ hững, Tôi lại đọc thấy sự ngập ngừng muốn thốt hỏi của mẹ!

Có phải câu thứ tư của khổ thơ bốn câu để tôi trả lời mẹ. Trả lời, đầy tròn hạnh phúc với cuộc đời. Câu thứ tư là câu kết của thể thơ tứ tuyệt. Tôi hụt chân không đến được.

Lật lại bản thảo, từ những năm bảy mươi, có đến mươi lăm bài thơ khổ ba câu. Hẳn cả một vài bài Tam tuyệt xứng đáng đứng ngang tầm tứ tuyệt cổ điển.

*

Bài thơ chín câu đầu tiên được làm từ bao giờ, ngày tháng nào rất khó xác định. Khi nhận ra nó, các khổ thơ 3 câu, bài bài thơ chín câu thì nó đã hình thành một vệt tựa có sóng trên mặt hồ tâm thức, trên từng trang bản thảo. Lúc ấy vào quãng 1983-1984.

Sang những năm cuối thập kỷ tám mươi, thơ 9 câu đã có định tính thiền thi, kiệm chữ, hướng tới ý nghĩa sâu xa, khái quát của hình tượng thơ.

Khóc dưới vừng trăng, chủ đề xuyên suốt về nỗi cô đơn góa bụa của người phụ nữ sau chiến tranh chịu nhiều đau thương mất mát.

Đèn lồng hoa lựu cầu hôn là niềm khao khát hướng tới sự kiếm tìm hạnh phúc.

Ngày mưa tôi ở Huế là sự tri ngộ cảm thán với Huế trong nhiều tâm trạng cảm xúc, giải bày những suy ngẫm nhân tình thế sự.

..................

Như vậy, các tập Nhặt tiếng sanh tiền, Chất liệu chiếc hôn, Mùa lá chiêm ba, Tiếng thở dài của phù sa, Từ ngày xưa yêu cho đến bây giờ, Biến tấu... các tập Cung thi được đưa đầy đủ vào đây, file hai cất này, gần sáu trăm trang. Nhập vi tính, chỉnh sửa, sửa lỗi chính tả đến ngợp. Hình thành được một tuyển tập? Có thể lấy một bỏ một, hoặc tùy đấy. Du ca cây lựu tình: bốn lấy một. Bỏ bài nào cũng tiếc! Than ôi, văn mình vợ người mà! Bệnh mãn tính của người thơ mà!

Biến tấu là sự phá cách về số chữ trong câu và số câu của Cung thi. Câu thơ bảy chữ, nhịp ngắt 3/4, nhịp vần của câu lững. Nếu là câu tám chữ thì nhịp ngắt 3/5, ... thi thoảng có nhịp ngắt 4/3 hoặc 2/5. 2/6...

Điệu thức và vần điệu câu thơ không cứng nhắc là lối này hay lối kia. Nó lững, thiếu và biến dịch, phá cách, biến tấu, tạo ô trống, khoảng trống cần thiết cho cảm xúc, được lắng trong, được ngưng rơi như những giọt nước, vươn tay hứng dưới mái tranh, nên câu chữ nối giọt, ngấm mát, bày tỏ tâm hồn, tâm trạng, triết lý nhân văn, hướng tới chân, thiện mỹ.

Có lẽ, tâm huyết dồn hết vào lối thơ (thể thơ) 9 câu. Thơ 3 câu, 5 câu và 14 câu, tuy cùng trong một vệt của những năm 1980-1990 và cho tới bây giờ, nó đã góp phần tạo nội hàm, độ hẵm, độ xiết của dòng chảy cảm xúc, làm nên sự tương tác, trường liên tưởng khoáng đạt, biến cách của tư duy, nghệ thuật diễn đạt thơ Mây. Một người thơ, chỉ vì thơ mà mong đi được đường dài.

Các chặng đường đời tương đồng, dòng ngầm của tâm thế, tâm tưởng thơ được hình thành, thử lẩy ra thế này:

Tuổi thơ hạnh phúc trong tình yêu của mẹ. Tuổi mười lăm, bước sang tuổi mười sáu, áng chừng gần hoặc hơn mười hai con trăng tròn trong nhịp thức đổi vai để trưởng thành, gánh gánh nặng đời người và gánh nặng cuộc chiến tranh khốc liệt mà bom đạn Mỹ gieo chết chóc, xâm lược, chia cắt đất nước.

Đấy là từ 1965- 1989 (mốc thời gian này chỉ vận vào thân tác giả): Tuổi trẻ đi qua chiến tranh vệ quốc. Ham đọc, sách vở thơ phú làm giàu nội tâm. Ảnh hưởng dòng văn học Xô Viết. Xu hướng thơ lãng mạn cách mạng. Tự tin và tu hạnh.

Cũng trong những năm tháng ấy, trong gia đình xẩy ra nhiều khó khăn. Cái kham khó của mỗi gia đình, cũng là kham khó của cả đất nước sau chiến tranh và đang nửa thời chiến nửa thời bình. Sau năm 1975, anh trai cả đưa các cháu về quê (QT) không trụ vững được, đi tuốt vào Long Khánh, không mấy tin tức rồi biệt xứ theo nghề lang vườn, các cháu thất học... Cơ cảnh của gia đình anh cả cuộn vực, đầy khổ đau nén sâu. Vào những đêm thức trắng tôi đối mặt với trang viết, gắng cho trọn bổn phận cầm bút. Thơ và cả văn xuôi xẻ một dòng đào sâu, lật đa chiều về nhân tình thế sự. mẹ, đừng trách cứ con không biết thay đổi tính nết cho hợp thời vụ. Thời nào thức ấy! Chân lý của cuộc sống giản dị vậy, mà con ẩm ương quấy động, làm rối tung, phức tạp tứ chiều. Con là giống loài cây chỉ ra một hoa, chỉ đậu một quả trong làn hương cây đầu ngõ, mãi con còn trong nách áo mẹ, lắng nghe mẹ bảo ban.

Mẹ là cây đầu ngõ mùa cảm xúc
Cánh Phật đài ngất hương
Thưa mẹ là hương và hương sữa mẹ
Tỏa nên dòng ngôn ngữ thơ.
 
Cây hoa đầu ngõ tu tình đời con
Hoa con cài tóc để mẹ nhận ra con gái mẹ
Con thôi cười con mãi khóc
Mẹ nhận ra con cúi mặt nhặt hoa rơi
Mẹ nhận ra con đếm từng dấu chân của mẹ
Nước mắt con xin hóa được nụ cười
 

Mỗi bài thơ, mỗi tập thơ là một mùa hoa của cây hoa đầu ngõ. Con nguyện tâm tu tịnh cho từng mùa hoa chữ nghĩa, tự nhiên hương trời đất và sữa mẹ ban tặng, mà con chưa dám nhận.

Đọc nhiều luồng văn học dịch phương tây. Các chặng đường sau nương nhờ vào chính sức đọc, sức viết và hạnh phúc gia đình thật khó khăn. Tuổi già ập đến!

Tất cả! Tất cả! Từ bao giờ nhỉ? Tự bao giờ hằn nếp vào thơ khổ ba câu. Dồi sóng vào khổ thơ ba câu. Ba câu. Thiếu một câu. Câu bốn. Nghĩa là mất một. Một mà nhiều. Mà tất cả. Cũng xem là tôi bước hụt chân. Một chân. Là con hạc bay, co một chân vào cánh. Tôi mãi không tìm ra đáp số cuộc đời. Cái câu bốn trả lời, cái câu bốn đáp số ấy co vào gan ruột, tim óc! Co mãi vào hồn không duỗi ra được. Nghĩa là tôi, nghĩa là thơ khổ lẻ, khổ ba câu là khí tính, cần ăng-ten bắt sóng thời cuộc chỉ riêng tôi là vậy. Từ cái tôi trong chúng ta, chuyển dần sang cái tôi bổn phận và trách nhiệm công nhân, trách nhiệm nghệ sĩ trước thời vận đất nước, gia đình.

 

3 - Mẹ và cây đầu ngõ

Kể từ biết nhớ, tôi nhớ gia đình tôi, cha và mẹ tôi đã cất lên ba ngôi nhà trên quê cát làng Sáo. Mảnh đất, vườn để cất lên ngôi nhà đầu tiên nguyên là đất từ đời cụ cố, đời  đời ông dựng nghiệp khai khẩn nên. Khi ông tôi qua đời, có một cơn bão cát, một cơn cuồng phong đã làm thay đổi miền đất làng Sáo. Gia sản của đời cụ cố, đời ông tôi bị vùi sâu dưới động cát. Chút gì còn lại cũng đã sang tay của gia tộc khác. áng chừng, vào đầu năm 1950, khi đã có ba bốn mặt con, cha tôi làm ăn buôn chuyến khấm khá lên đã dành tiền chuộc lại một phần đất hương hỏa từ đời cố, đời ông.

Nói là ngôi nhà đầu tiên, thực ra là túp lều tranh nhỏ. Ngôi nhà thứ hai là ngôi nhà rường ba gian, các bộ cửa và cột nhà đều gỗ lim, gụ, lên nước đỏ au. Ngôi nhà thứ ba là ngôi nhà tân thời hai tầng, dọc hàng hiên láng xi măng, đầu ngõ trồng cây hoa sứ, nở hoa trắng ngát, thơm ngát quanh năm

Vào buổi rời nách áo mẹ, tôi cài một bông hoa nhỏ lên mái tóc mười sáu tuổi. Suốt mấy năm ở rừng huyện Bố,  tôi thường cài hoa sim hoa mua lên tóc không phải để làm dáng mà bởi lòng nhớ mẹ khôn nguôi. Và cả khi vào sống ở kinh thành Huế, thi thoảng có bông hoa nhỏ yêu kiều tôi lại cài hoa lên tóc, tin là mẹ luôn theo tôi và nhận ra con gái mẹ vụng về từ xa, rất xa...

Ngày mẹ tôi qua đời, mưa Huế dầm dề suốt cả tuần trăng, suốt cả bốn chín ngày kinh kệ tang đám mẹ. Ngày ấy, nhà thơ Phùng Quán từ Hà Nội vào Huế có phúng viếng mẹ tôi, ứng khẩu bốn câu thơ chữ to, viết tràn mặt giấy A4:

Mẹ ra đi, cơn đau tim đột ngột

Mẹ các nhà thơ thường lâm bịnh đau tim

Mẹ yên nghỉ ngàn thu chúng con đưa tiễn

Mưa Huế tuôn mưa rạng bình minh!

Mẹ tôi mất vào buổi rạng đông. Vào chiều mưa Huế, chợt trời đất hửng chút nắng, gia đình tôi cúng cơm mở cửa mộ, tôi đã hóa thơ phúng viếng của nhà thơ Phùng Quán, hẳn mẹ tôi còn linh ứng chốn trần gian mà ngậm ngùi cảm động!

Mẹ ơi! Thưa mẹ! Những câu thơ con thốt lên tự lòng về hạnh phúc, khổ đau, được, mất đâu phải chỉ của riêng con. Thơ con đã đánh nhịp bất thường vào tim mẹ. Cơn đau tim đột ngột của mẹ phải tự tim con dội sang?

Mẹ ơi! Thưa mẹ! Con vọng từ ngày sinh của mẹ, nay một thế kỷ đã trôi qua trong chớp mắt! Một chớp mắt thơ ca, con nay đã vào tuổi xưa nay hiếm, mà với thơ con mãi mới bắt đầu. Luôn bắt đầu tự câu chữ đầu tiên. Con mãi chưa kết thúc, không biết sẽ kết thúc thế nào! Tâm hồn và cảm xúc là hai cung bậc không thể tách bóc tự hộp đàn trái tim, từ cần đàn hư ảo rọi chiếu tự ngôi sao định mệnh mẹ ạ. Con hình dung vậy từ bao giờ không biết nữa. Đấy là thiền định, trời đất ban định. Đất nước non sông cưu mang gìn giữ, gửi gắm ở mỗi lòng người, nối dài vóc dáng cuộc sống chân thiện mỹ của nghiệp văn chương mà con dấn thân!

Mẹ ạ. Thưa mẹ trái tim! con xin nương lời của nhà thơ Trần Long ẩn thốt gọi mẹ, để nương cây hoa sứ đầu ngõ. Mẹ - cây hoa đầu ngõ của thơ con. Vườn thơ mang tính khí con thường ra hoa muộn, trái mùa. Thưa

 

                                      Hà Nội, một ngày xuân Kỷ Hợi, 15. 3.2019

        



Thơ Lê Thị Mây


BẦU TRỜI NGOẠI Ô


Người mẹ trẻ có tấm thảm đỏ
Tốc độ bay có nửa cánh hân hoan
Tốc độ bay tấm thảm bay màu đỏ
Cánh bay đầm cơn mưa tháng năm
Cơn mưa rào nửa trộ thanh xuân
Hạt mưa hồi hộp tìm một địa chỉ.


Ẩn sĩ già quên bản thân
Tóc bạc mây trời phủ trắng.


Người mẹ mang cơn mưa rào
Mang chùm tiếng ve náo loạn
Mang chùm tiếng cười của hai con nhỏ
Thắt kết hai bó hoa
Loa kèn thơm ngát ngoại ô.


Hạt mưa, long lanh ánh mắt con trẻ
Lăn kết chùm ánh sáng thơ ngây
Bừng rạng gương mặt thi ca người mẹ.


Người mẹ vì thi ca quên bản thân
Cánh cửa của bầu trời mở ra
Ngoại ô Thăng Long hoa loa kèn trắng
Thơm nụ cười đầy lo âu
Của người mẹ cuối hoàng hôn đón con trễ muộn
Tấm thảm bay tốc độ bay
Bừng thức chân trời ý tưởng.




HOA THÁNG SÁU


Cẩm chướng hoa đỏ môi
Làn gió làn hương
Thơm trời đất
Mang nặng ưu tư thương cuộc đời


Mãi đây giọng nói
Hoa gương mặt
Mãi thơm làn tóc áng thanh xuân


Cẩm chướng ôm đầy hoa xinh tươi
Lặng áng văn chương lời chân thật
Hoa tặng, tôi ôm áng bồi hồi


*
Hoa tặng, em trao hương trời đất
Mang nặng riêng tư yêu cuộc đời


Mãi đây giọng nói hoa gương mặt
Mãi thơm tóc ướt dịu dàng thơm
Hoa, áng văn chương ngời ánh mắt  


Cẩm chướng em trao trìu mến, tôi
Hoa, áng văn chương tháng sáu cười


Có giọt lo âu trong giây khắc
Ôm hoa tôi đẫm nhánh cành sương.

 

 

LỄ HỘI BÀI CHÒI
 
Trái lòng tíu tít loòng bong
Treo chíu chít lên hội bài chòi xứ Quảng
 
Cây bút
Treo nhịp tim lên lễ hội vầng trăng
Chíu chít loòng bong vừa kịp chín
Thơm môi thiếu nữ
Môi chàng...
 
Quân cờ chạy vầng dương thánh lễ.
 
BƯỚC THỨ NHẤT
Bước thứ nhất tiếp theo bước nửa
Nhưng không thể
Bút tắc, không cảm xúc yêu đời
Nhưng không thể
Bút tắc, không cảm xúc cùng khổ đau nhân loại
Dù rất nhỏ
 
Tiếp bước nửa dẫu đầu rỗng khô
Toàn thân thiếu lửa, khát lửa
 
Bước thứ nhất đứt hơi, kiệt sâu nhịp thở
Giữ làm sao không kiệt mạch ước mơ
Ca dao tục ngữ không đóng băng, đóng khung hy vọng
 
Tự sản sinh năng lượng tình yêu cháy bỏng
Tự sản sinh năng lượng giấc mơ
Tro tàn ngún hành trang câu thơ
Dúm tro lạnh xin đặt vào dấu chân bước đi thứ nhất
Để hà hơi thổi hồn sẽ hồi sinh cảm xúc.
 
27.2.2019
 
CON TRẺ DIỄN TRÒ
 
Bắc cực Nam cực chuyển dịch tách ra khỏi hai đầu trái đất
Thành hai chiếc trống cổ đại sứt tai
Thành hai chiếc chiêng đồng
Lũ trẻ đùa chơi, tưởng tượng
Bắc cực
Nam cực
Thành hai chiếc nón ba tầng quan họ Bắc Ninh
 
Nỏ thần Hùng Vương
Cờ lau Đinh Tiên Hoàng
Mỗi lòng dân hợp tung Binh thư yếu lược
Hỏa công Nguyễn Huệ
Hợp tung hoa đào công chúa Ngọc Hân
Con trẻ hợp tung diễn trò tưởng tượng
 
Chúng thiết kế tầng khí quyển, tầng ozôn
Quyết bảo vệ trái đất không nóng lên
Bắc cực
Nam cực
Lắp trở về hai đầu trục quay trái đất 23 độ nghiêng
Bất tử.
 
Hợp tung đối thoại, trái tim làm hộ chiếu
Vôi nồng trầu cau Quan họ mời nhau  
Nhã nhạc cung đình, sông La ví dặm
Trái tim nóng cái đầu cần lạnh
Lũ trẻ đồng dao tung cây cọ bảy màu.
 
                                                                 2.2019
 
 
NGÔI SAO THI SĨ
 
Không dễ tin dù được trao tận tay
Chợt biến mất ngôi sao đáy giếng
Đêm trắng vời xa khôn nguôi đắm say
Thi sĩ ủ đôi tay nổi gân xanh, không lên tiếng
 
Bước rất khẽ bà bước qua mùa đông
Qua ấu thơ và qua tất cả
Ngôi sao lung linh cài ghim thế kỷ
Khúc nước sâu vô cớ những vết thương
 
Dù được trao được tin cậy mong chờ
Tôi sợ đuối lòng, trớ trêu là vậy
Tôi không dám chối từ được ngắm trong mơ
Ngôi sao linh thiêng bài ca run rẩy
 
Hồn thi sĩ, Olga Bergholtz thi sĩ
Tôi dặn lòng không phi lý vô tâm
Mỗi số phận ngôi sao đầm nước mắt
Dựng lại bắt đầu sân khấu kịch câm
 
Sao vụt sáng chói lòa từ đáy giếng
Giếng thời gian tĩnh mịt sâu khơi
Olga Bergholtz hỡi ánh sao dâng hiến
Vụt sáng câu thơ cuốn gió cuối chân trời.
 
                                                                     4/9 Quý Tỵ
SÔNG PHỐ
 
Bầu trời sũng ướt cơn mưa tiểu mãn
Những con phố thành sông cuộn xiết đục ngầu
Cây gẫy đổ tựa có thể bật gốc đời hy vọng
 
Anh một gốc cây đời trên tầng sóng phố thẳm khơi
Vai nâng, cần cổ con sếu
Cuốn sách trên đầu hân hoan chữ vẫy cười.
 
Anh bơi, qua mọi giới hạn bằng ánh sáng vũ trụ
Em kinh ngạc, ngưỡng mộ anh
Sông phố và dòng ngôn ngữ trác việt của anh rực rỡ.
 
Anh bơi, mọi đích đến có thể từ lâu anh thấu tỏ
Cuốn sách đội trên đầu bơi qua cơn tiểu mãn tháng tư
Sông phố và dòng ngôn ngữ trác việt của anh phủ cánh đồng nhân văn màu mỡ.
 
Anh bơi, anh đã bơi qua mọi im lặng hay sông đời cuộn xiết
Hai sáu chữ cái là phao cứu sinh vượt bể dâu đời người
Anh bơi qua sông văn nghiệp bằng tình thương
Anh bơi qua, tôn vinh hệ tư tưởng nhân văn Cộng sản
Cây bút trụ trời, cây bút đội vầng dương
 
Cuốn sách, một giọng nói Phiden
Cuộc đối thoại 48 giờ mặt trời mọc, qua đêm tối
Cuộc đối thoại 48(*) giờ hùng biện anh minh
 
Cuốn sách -
Cuộc đối thoại trao em sức đi sự hãnh diện, sự đối diện
Trữ lượng ngôn từ dào dạt thanh cao
Sức bút, lẽ phải, giọng nói của Phiden
Về cuộc tranh đấu không ngưng, em cùng đối diện
Cuộc chiến đấu không ngưng trao em niềm tin đuốc lửa
Từng trang sách, hân hoan chữ vẫy cười.
-------
(*) Cuốn sách về cuộc đối thoại của Phiden và một nhà báo phương Tây
 
KHÚC CA MÂU SƠN
I.
Đã quá xa không thể quay trở lại
Được trở về và được lời thưa
Xin kính cẩn cùng xin được thốt
Giữ tấc lòng ngày trẻ đi qua
 
Tôi được vịn một bàn tay nâng đỡ
Một tấm lòng một giây khắc thần tiên
Không quên được ơn đời hào phóng
Cho riêng tôi vịn gió chân trời
 
Một giây khắc trĩu lòng ân nghĩa
Đã quá xa trở lại muộn rồi
Nhưng dù muộn cây bút già gậy chống
Ứa lệ đầu non giọt lệ đá mòn
 
Tôi trở về vùi thân trong cát bỏng
Làm dã tràng cõng cát lúc triều lên
Che chắn được sóng thần giữ bình yên làng nước
 
II.
 
Đã quá xa bao nhiêu trang sách
Bấy nhiêu đủ bọc trái đất này
Chữ bọc xin chữ đứng nên cây
Cho tôi vịn ngày còn chưa biết lối
 
Xin vịn chữ mỗi bước tìm đường
Tôi đi suốt đi dài sóng bờ eo óc
Tôi đi suốt đi dài qua chết chóc
Cho mơ ước hồi sinh bao nỗi cằn khô
 
 
Đã quá xa tôi xin được trở về lặng lẽ
Trái đất một hạt nhỏ hệ mặt trời
Một hệ chữ phủ lá lá rơi
Cho màu mỡ hành tinh - trái đất
 
Dù là muộn không thể bỏ buông
Tôi ẩn vào một chữ nặng hàm ơn.
 
III.
Làn gió nhẹ tựa bàn tay cho vịn
Tôi không sao hiểu được hằng đêm
Một cán cân thuộc về công lý
Một trái tim một giọt lệ làm nên
 
Thần tình nhân gian thanh cao lẽ phải
Quét qua vầng dương thấu tỏ một lời
Hàm ơn trả ơn trời không cho thấy
Dù chậm chân, vịn chữ thoáng giây cười
 
Không đuối lòng chỉ lòng tin tưởng
Một nhịp tim một giọt lệ cán cân
Làn gió nhẹ cho bàn tay được vịn
Qua hằng đêm sắp trở lại thanh xuân
 
Mỗi hàm ơn trả ơn thần tình lẽ phải
Xin trở về chân thật trang nghiêm
Đỉnh công lý công đường sáng rạng
Cây bút cùng tôi dưới chân núi Mâu Sơn.
 
22.12.2018
 
 
NHỮNG KHÚ CA NƯỚC MẮT
 
I.
Trong lồng ngực trái tim được mẹ sinh ra
Và đeo bên ngoài theo nguyện ước
Một khúc ca mang dáng hình đất nước
Nên máu chảy oanh liệt hào hoa
Cành nguyệt quế cũng đeo ngoài lồng ngực
 
Bên ngoài hòa giao chính trực
Trái tim trong ngực đập nhịp hồn nhiên
Một nửa điện năng tích tụ
Chảy bên ngoài giao cảm hóa thiêng liêng
Thấm xương cốt Đông A hào khí
Ngôn ngữ mẹ sinh dưới mỗi mái nhà
Niềm hạnh phúc thi nhân gom nhặt
Dựng tường thành gáy sách đường xa
Tiếp lời kể nối vòng quanh trái đất
Phái yếu luôn có hai trái tim
Trái tim đàn ông đeo ngoài lồng ngực
Trái tim đàn bà thổn thức thủy chung
 
Trái tim đàn bà hổn hển ở bên trong
Làm mẹ làm người yêu làm vợ
Làm giọt lệ to dần không rơi, không rơi
Tự cổ sơ đàn bà hòa chung mơ ước
Ngôn ngữ trái tim là tiếng khóc trẻ chào đời
Vì thế đàn bà được sinh ra từ ngôi sao chứa đầy nước mắt
 
Tim đầy nước mắt không thể đeo ngoài lồng ngực...
 
II.
Trái tim trong lồng ngực nhịp đều
Và đeo bên ngoài vầng dương rực rỡ
Và đeo bên ngoài vầng trăng quê mẹ
Một dáng hình tần tảo lưng ong
Cho đất nước một dáng hình mùa gặt
Nhân quả đời người trời đất mênh mông
Cành nguyệt quế cũng đeo ngoài lồng ngực
 
Bên ngoài hòa giao chính trực
Cả nhân gian thấy rõ mỉm cười
Cả nhân gian thấy rõ dưới mặt trời
Cả nhân gian thấy rõ dưới vầng trăng sáng
Cả nhân gian ước mơ lãng mạn
Cả nhân gian ước vượt qua giới hạn
Cả nhân gian tích tụ điện năng
Đeo được đá, tảng bia đá nặng
 
Nhân gian tôn vinh hào hoa giao cảm
Trái tim trong lồng ngực nhịp đều
Nghe nhịp đất, đá mạch đất trao dũng khí
Ngôn ngữ mẹ sinh dưới mỗi mái nhà
Niềm hạnh phúc cây bút gầy gom nhặt
Dựng tường thành gáy sách đường xa
Tiếp lời kể nối vòng quanh trái đất
Phái yếu luôn có hai trái tim
Trái tim cười đeo ngoài lồng ngực
Trái tim khóc thổn thức ngân rung.
 
Trái tim đàn bà mang hình dáng trăng khuyết trăng non Mơ làm mẹ làm người yêu làm vợ
Mơ treo lên chiếc tổ dưới bầu trời
Tự cổ sơ đàn bà hòa chung mơ ước
Ngôn ngữ trái tim là tiếng khóc con trẻ chào đời
Vì thế trái tim đàn bà tựa ngôi sao bọc trong tã lót
 
Tim đầy nước mắt không thể đeo ngoài lồng ngực...
 
III.
Trái tim trong ngực được mẹ sinh ra
Lắc lư nguyện ước
Đòi hy sinh oanh liệt hào hoa
Bia đá ghi danh đeo ngoài lồng ngực
 
Trái tim bên ngoài giao hòa vũ trụ
Tim trong ngực đập nhịp hồn nhiên
Một nửa tim điện nặng tích tụ
Máu chảy bên ngoài nên chữ nên câu
 
Thấm vào da hào khí
Ngôn ngữ hình thành ghi lại khổ đau
 
Mảnh vỡ hạnh phúc xin gom nhặt
Dựng tường thành gáy sách thăng hoa
Mỗi lời nối vòng quanh nước mắt
 
Mỗi chúng ta có hai trái tim
Trái tim đàn ông đeo ngoài lồng ngực
Trái tim đàn bà thổn thức, không thể lặng im
 
Trái tim đàn bà hổn hển ở bên trong
Làm mẹ làm người yêu làm vợ
Làm giọt lệ, to dần, không rơi
Tự cổ sơ trái tim đàn bà trước nhất
Đu đưa theo tiếng khóc con trẻ chào đời
Trái tim đàn bà vì thế chứa đầy nước mắt
 
Trái tim đầy nước mắt không thể đeo ngoài lồng ngực...
 
IV.
Trong lồng ngực trái tim không thể thấy
Từng nhịp reo nhịp thổn thức hao gầy
Từng giây khắc chỉ trái tim nhận biết
Máu trong thân tự cội rễ muôn cây
 
Có hình dáng trái tim treo làm quả
Tỏa làn hương ánh sáng cuộc đời
Đặt bàn tay lên ngực một thời
Không lành được vết thương không máu chảy
 
Ức triệu tim hòa điệu nhịp tim
Về trong đất theo mùa lá rụng
Mỗi rung chuyển trượt dài càng lúng túng
Đặt bàn tay về đất biết yên lành
 
Tự tấm lòng cây giao hưởng âm thanh
Tay bám đất máu trong thân túa rễ
Trong lồng ngực trái tim không thể
Tự bóc nhầm như một múi cam ăn
 
Xúm chia phần diều hâu lũ quạ
Không kịp nghe tim không thấy tim
Tai điếc đặc, mù màu khốn khổ
Tự mình móc xem, bày biện, ngấu nghiến hết niềm tin
Công nghệ phẳng bôi trơn ngợp hồn tự bên trong đổ  vỡ
Lồng ngực phẳng mang hình thù điện thoại thông minh
 
Trái tim đàn bà vì thế chứa đầy nước mắt
Trái tim đầy nước mắt không thể đeo ngoài lồng ngực...
  • 5.8.2008-4.12.2018

 

     1. Có bạn đọc hỏi các truyện trong Tuyển tập truyện ngắn, NXB Hội Nhà văn, 2017, tôi tâm huyết với truyện nào? Tôi cười giả lơ vì khó trả lời. Trong 19 truyện, có bảy truyện dài. Dù truyện ngắn hay truyện dài, mỗi truyện, tác giả phân thân, nhập thân vào nhân vật. Đấy là bấy nhiêu bến bờ  ký ức đời người, đời văn. Mỗi bến đi, về có lở, có bồi. Sóng thì vỗ vô hồi, buồn, vui mọi nỗi. Nỗi buồn, vui trung tâm của mỗi truyện, mỗi số phận, bao giờ cũng bắt đầu từ nhịp đập của nhân vật nữ, trái tim phụ nữ.
Truyện Dưới chân cây đèn biển là câu chuyện về chiến tranh và hòa bình từ góc nhìn của con trẻ mồ côi. Bé Rơm, thằng Rơm, lùn Rơm cùng lũ trẻ mồ côi của phố đổ không thể ra khỏi chiến tranh. Dưới đây là lời của bé Rơm khi đưa cô nó xuống ngôi hầm kho hậu cần đã được nó và bé Cầm biến thành Bảo tàng Mũ rơm. Những chiếc mũ rơm được nhặt nhạnh sau những trận bom. Những chiếc mũ không có đầu con trẻ:
“- Thưa cô, rồi cháu linh cảm cháu lo sợ căn hầm của bà Trầm cũng sẽ bị bom toạ độ, nên cháu đã mang những chiếc mũ đi sơ tán. Chú Thứ đã bảo cháu đưa về đây. Chú vừa cười vừa như mếu nói, hết chiến tranh chú sẽ lập viện bảo tàng mũ rơm.
- Cô nhìn xem. Rùa cũng chưa ra khỏi chiến tranh cô ạ!
Nói thế rồi Rơm cúi xuống bế chú rùa nhỏ lên, như bế một con cún con thân thiết. Lúc này người cô mới chú ý đến con vật, lòng đầy kinh ngạc, lại cũng vừa càng xót xa thương cháu. Có thể hình dung gắn cho rùa là động vật không có chiều cao, bước tiến của nó là bước lùi, sự tương đồng tương hợp gì đây? Giữa rùa và người. Giữa người lùn và rùa. Bây giờ thì rõ ràng rồi. Cháu của chị, thằng Lương suốt đời mang bộ mặt trẻ con và khó lòng đi ra khỏi cái trận đồ bát quái của tội ác mà bọn giặc lái Mỹ đã gieo vào số phận nó.”
     Bến bờ ký ức đi qua cuộc chiến tranh dày đặc tựa sao khuya khắp bầu trời suốt cả hàng nghìn đêm thức trắng, quyết giành nền độc lập từ tay các đế quốc hung tàn xâm lược.

*
       Trong ngần ấy tác phẩm được tuyển chọn cho tuyển tập truyện ngắn đều xoáy một chủ đề xuyên suốt về chiến tranh và hòa bình. Về hy sinh và quyết đánh, bám thắt lưng địch mà đánh, mà không sợ Mỹ, quyết thắng Mỹ, giành độc lập thống nhất non sông. Trong bài viết này, tôi chỉ tách riêng, nói về truyện dài Ký ức dòng sông. Truyện này tên ban đầu của nó là Bến bờ Ký ức. Khi nhà văn Trần Thanh Hà biên tập đầu sách “Huyết ngọc”, NXB Công an, 1998, đổi thành  Ký ức dòng sông. (gợi về sông Bến Hải, với con cầu Hiền Lương). Vào hè 1996 để có hích, vũ cuộc thi thơ, truyện và ký, Ban biên tập Tạp chí Cửa Việt tiếp mở một trại viết tại Cửa Tùng. Cửa Tùng là của sóng đón nguồn sông Bến Hải đổ về, hướng mặt ra Đảo Cồn Cỏ. Cồn Cỏ được Nhà nước Phong tặng Đảo Anh hùng lực lượng vũ trang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cửa Tùng thời Pháp là bãi tắm nữ hoàng, có nhà nghỉ của vua Bảo Đại. Từ Cửa Tùng, đi dọc bờ biển theo hướng nam sẽ gặp Cửa Việt. Đi về hướng bắc, cửa Nhật Lệ, cửa Gianh. Cửa Việt, cửa sóng đón nước ngã ba sông Hiếu, sông Thạch Hãn. Bờ bắc Bến Hải là huyện Vĩnh Linh. Bờ nam huyện Do Linh. Dòng sông đau thương hệt một lưỡi kiếm sắc lật ngửa, máu chảy suốt hai mươi mốt năm, Pháp-Mỹ âm mưu, đổi ngôi tiến hành chia cắt, xâm lược đất nước ta.
Thời chiến tranh, bấy giờ Đông Hà vừa được giải phóng, ta và giặc ở thế cắm cờ cài răng lược; tôi đã đi cùng với em trai, từ cửa biển Nhật Lệ vào Dốc Sỏi thì rẽ hướng đông băng về Cửa Tùng. Bên Hữu ngạn sông là đất Gio Linh. Cử ấy trăng non (7.1974), treo lơ lững từ buổi hoàng hôn. Em trai tôi lúc này theo học lớp sơ cấp sư phạm tỉnh Quảng Trị, đóng ở Do Linh. Đang con nước ròng, bờ cát bãi ngang thênh thang tựa một đại lộ lớn. Hai chị em đèo nhau bằng chiếc xe đạp, được chỉnh xích rất chuẩn để bon bánh, bánh xe không bị lún cát, tránh được đôi chỗ eo bờ bò lan dây hoa muống biển. Chiều muộn qua được sông, tối hôm sau, hai chị em ở lại ngủ với du kích Thôn Chín. Các em gái du kích kể rất nhiều chuyện. Sáng sớm, em trai tôi tìm đường cuốc bộ về trường, tôi ở lại Thôn Chín, đi theo các em du kích tìm hiểu, lấy tư liệu cho chuyến đi thực tế. Các em đưa tôi đến thăm nhà bà cụ được bà con lối xóm gọi là Mẹ chiến sĩ, nhưng cụ vừa đi vắng. Các cháu nhỏ bảo cụ vừa gánh gánh nước chè xanh lên trận địa pháo. Chúng còn bảo, trên mỗi đầu đòn gánh còn treo tòng teng hai bi đông nước chè xanh có thả mấy viên đường phèn to lắm. Là để giành cho hai chú đang lên cơn sốt muỗi vàng. Tôi ôm chầm đứa bé nhỏ nhất, mắt rớm lệ. Tóc nó bù xù, lấm bết cát vàng sau đêm mưa. Khuya đó tôi viết bài thơ Bà Mẹ cửa Việt, được in trong nửa tập thơ đầu đời, Những mùa trăng mong chờ.


Con tìm về nhà mẹ
Vườn cát đầy dấu chân
Đọt khoai bò đất cũ
Gà chiếp nắng đầy sân

Hỏi láng giềng xa gần
Mẹ vừa lên trận địa
Hương trầu say còn cay
Trong tiếng cười đồng đội

Mẹ vừa đi đấy thôi
Phơ phơ mái đầu bạc
áo dài thả mây trôi
Mẹ vừa đi đấy thôi

Con gái mẹ giặc giết
Ngày chúng càn vào thôn
Chồng mẹ đi tranh đấu
Yên nghỉ ngoài Côn Lôn

Ôi mẹ già Cửa Việt
Tám mươi tuổi chưa yên
Mẹ đi thăn con cháu
Khắp trận địa tiền duyên

Tuổi mẹ già vươn cao
Giữa ngày xuân chiến sĩ
Bên kia chốt quân thù
Súng gục quỳ trước mẹ.

1974


  BẾN BỜ KÝ ỨC
                     Tạp văn của Lê Thị Mây


        Một hai hôm sau, sổ tay đầy nghẹt tư liệu, lúc chiều muộn tôi theo dò dọc lên Đông Hà. Đấy là một chuyến đò dọc nhớ đời. Tôi ngồi ở đầu mũi đò. Chợt phía đang lái có một giọng hò cất lên. Giọng hò của chàng trai cầm lái, hòa lẫn vào tiếng cười của các cô gái, lưng đeo lựu đạn, vai có cô khoác cây súng trường. Giọng hò, tiếng cười ám tượng mãi vào tâm khảm, hội tụ, xâu chuỗi nhiều mảnh ký ức, tư liệu chiến tranh dính kết vào nhau lan tỏa không ngưng. Nó nhào trộn vang vọng những câu hò mái nhì mái đẩy, hò khoan, hò xố, hò hợi của các miền sông nước. Những cửa Gianh, cửa Nhật Lệ, cửa Tùng, cửa Việt. Từ Cửa Tùng nhìn ra đảo Cồn Cỏ. Biển đảo Cồn Cỏ là cửa ngõ vịnh Bắc Bộ. Chuyến đò dọc ấy tôi như người ngợp trong men say hiện thực để dấn thân vào “lạ hóa” hiện thực theo hướng lãng mạn bi hùng ở nhiều cấp độ vừa bay bỗng, vừa bám sâu vào bến bờ ký ức, tư liệu lịch sử. Cảm thức “lạ hóa và bay bỗng” trong đêm viết bài thơ Bà mẹ cửa Việt bắt đầu từ một nốt nhấn giọng ca sĩ Tân Nhân hát bài Xa khơi mà tôi ngưỡng mộ. Xa khơi được phổ nhạc từ bài thơ của nhà thơ Hà Nhật.
Từ tả ngạn Cửa Tùng, nhìn sang bên hữu ngạn có một làng quê danh tiếng, thuộc đất huyện Gio Linh. Miền đất ấy là quê chôn nhau cắt rốn của nhiều giọng ca vàng, trong đó có ca sĩ Tân Nhân. Tân Nhân, một cái tên, một giọng ca hay, gợi xúc động đến đến nhói tim. Cùng với bài Xa khơi, bài Bên kia bờ Hiền Lương, Quảng Bình quê ta ơi, luôn hòa phối âm vang cùng với giọng hát, giọng ngâm thơ của chị Linh Nhâm, là chuỗi nhạc và thơ đầy chất thần thánh với riêng tôi. Bao nhiêu lệ đã rơi theo tiếng hát, giọng ca vàng từ Đài Tiếng nói Việt Nam, phát đi từ Hà Nội! Bao nhiêu bậc đá, bậc thác mòn dấu chân, dấu gậy theo tiếng hát của các chị mà hành quân ra trận.
Mỗi chiều, trong trong hai tuần lễ mở trại viết, tôi thường giành thời gian rời bàn viết, đi dọc bãi tắm Cửa Tùng, đặt chân tới đầu cửa sóng nhìn sang bờ Nam, tức bên hữu ngạn, rồi đi ngược chừng gần cây số, gặp đồn biên phòng. Đi thêm một chặng nữa là gặp các bến đò thoắt ẩn hiện. Đấy là những bến đò B. danh tiếng: hằng đêm đưa du kích và cả bộ đội huyện, tỉnh từ bờ Bắc vào đánh trận “Ăn cơm Bắc đánh giặc Nam”, chớp nhoáng, kiểu đặt công. Rạng mờ đất rút quân trở về tả ngạn Hiền Lương. Thực ra, từ đầu nguồn về đến Cửa Tùng, suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mỗi lòng dân là một bến đò liền Bắc liền Nam. Mỗi trận đánh là một bến bờ chiến tích, một bến bờ tiếng hát, giọng ngâm thơ, giọng ca vàng của các ca sĩ nghệ sĩ đầy xúc động. Một bầu trời xanh bình yên, lan tỏa khôn nguôi về tình người, tình yêu, tình thương. Nỗi yêu nước thương nòi, rất xanh màu xanh Quảng Trị, trong sắc thái cảm xúc thăng hoa của nhà thơ Tế Hanh: Trời vẫn xanh màu xanh Quảng Trị.
     Nhân vật chính, nhân vật trung tâm của truyện: Nhơn và bà Thang, hệt hai dòng sông hợp lưu nên một dòng chảy bi tráng, bi hùng. Khởi nên dòng chảy của cốt truyện, tùy ứng cảnh, xuất hiện các cụm nhân vật tiếp theo. Anh Tính, Tòng. Ông Hữu, hai cô con gái, cô Cải, cô Ngò... Sum vầy và chia ly. Dòng sông thời gian của đời người. Và cũng là dòng sông của hòa bình, bị kẻ xâm lược biến thành nỗi đau đất nước chia cắt. Bom đạn khốc liệt, chết chóc bi thương. Trên hiện thực của cuộc kháng chiến, chảy ngầm sâu trong lòng người, hồn người, đời người là dòng chảy văn hóa. Tiêu biểu, biểu tượng cho dòng chảy văn hóa ấy chính tiếng hát, giọng hò khoan nhặt theo dòng sông bình yên. Đám cưới, tiếng cười và nước mắt trầu cau. Tôm cá. Lễ hội, đua trải... Tất cả, tất cả, biết bao nhiêu bến bờ, bấy nhiêu nhân vật. Trong 19 truyện, mỗi truyện là một dòng sông ký ức. Tất cả, tất cả mọi bến bờ đều hội tụ về trung tâm tình yêu, xâu chuỗi lại thành bố cục truyện, thành chuỗi cườm tâm niệm hy sinh cho Tổ quốc quyết sinh, cho nước nhà thống nhất, Bắc Nam sum họp.

      2. Trong truyện dài Ký ức dòng sông, tình yêu của Nhơn, của Mai, tình yêu của mấy chị em cô Cải, cô Ngò, lan tỏa nhiều lớp, nhiều cung bậc cảm xúc. Mỗi sự đời, mỗi bước ngoặc số phận, từ hiện thực đời sống, nếp gia phong chảy xiết thành dòng chảy chủ đề truyện, chủ đề nhân văn  tác phẩm. Trong bấy nhiêu nhân vật của truyện, nhân vật Nhơn, là phiên bản giọng hát của ca sĩ Tân Nhân. Là phiên bản của giọng hò khoan nhặt của chị Kỷ, một giọng hò vàng của miền sông nước Kiến Giang xuôi về cửa Nhật Lệ. Chị Kỷ có bố là cụ Bơi cũng là một giọng hò nam trầm, nghiêng ngã trời đất sông nước Kiến Giang. Kiến Giang về ngã ba Quán Hàu và từ ngã ba Quán Hàu đổ về cửa biển, được gọi, trở thành sông Nhật Lệ. Bên Hữu ngạn Nhật Lệ có giọng hò mái nhì mái đẩy, hò xố hò hợi của dượng Gà và O Mùng. Đấy là một cặp giọng hò vàng trai tài gái sắc của làng Sáo, quê chôn rau cắt rốn của tôi.
      Tôi viết truyện Ký ức dòng sông,  khi đi dự trại viết  tại Đồ Sơn trước khi về nhận công tác mới, chuyển từ Quảng Trị ra Hà Nội. Bấy giờ, tôi đã bàn giao, thôi giữ chức Tổng biên tập Tạp Chí Cửa Việt. Tôi viết trong một trạng thức bàng hoàng “một ra đi khó trở về” khi tóc đổ bạc, mây trời phủ trắng triền non. Ca sĩ Tân Nhân đi từ quê với một giọng ca vàng, khi nghỉ hưu lại về tuốt trong thành phố Hồ Chí Minh. Nhà thơ Hà Nhật viết Xa khơi bên cửa sông Nhật Lệ, khi nghỉ hưu cũng định cư tại thành phố Hồ Chí Minh. Qua điện thoại, từ đầu dây bên kia, nhà văn Trần Phương Trà cho biết, phu quân của ca sĩ Tân Nhân là nhạc sĩ danh tiếng, con trai là nhà văn Châu La Việt. Anh vừa có hai bài viết, in trên tạp chí Cửa Việt: Mẹ tôi và ca sĩ Tân Nhàn, số tháng 3/2019 và Tôi yêu thơ ông suốt cả một đời, số tháng 7/2019. Tôi cảm động, đọc nhiều lần. Gấp trang tạp chí, mắt nhòe lệ...
     Tôi đau đáu hình dung Nhơn vừa phiên bản của Ca sĩ Tân Nhân, vừa là phiên bản của tác giả Lê Thị Mây? Chân trời tưởng tưởng đầy sự phiêu bồng nhưng luôn xuất phát từ căn cốt hiện thực cần phản ánh soi chiếu, băng qua ngưỡng vô lý và rất phi lý để đạt tới chân lý. Nó giúp tôi nạp năng lượng cho sự tưởng tượng, nạp năng lượng cho sức bút sáng tạo tác phẩm. 
*
       Khi cầm trong tay quyết định chuyển công tác, lên chuyến tàu S1 ra Hà Nội, tâm tư tôi bị giằng xé hai chiều. Hồn đất, hồn người qua trang tác phẩm của cuộc thi thơ, truyện và bút ký được đăng tải trên tạp chí, xiết chảy thành một dòng ngầm cộng hưởng đa chiều nỗi ghi khắc tình quê của các tác giả, vào lịch sử dư địa chí văn hóa Quảng Trị. Sau cuộc thi, các tác phẩm dự thi được tuyển chọn in thành các đầu sách, thơ, truyện và bút ký. Kinh phí cho cuộc thi và in các đầu sách có hơn phần nửa là tiền ủng hộ tài trợ cho Tạp chí từ các đơn vị, bạn đọc  yêu Cửa Việt. Đấy là thành quả lớn của cả một tập thể của cả một vùng quê “Trời vẫn xanh màu xanh Quảng Trị”.
Và đồng thời là vĩa quặn về tất cả những gì tôi làm được, cố gắng góp nhặt được, đã chợt bừng thức, cho tôi tri ân, tri ngộ, ngoái tìm những dấu chân đầy ắp tư liệu của chính tôi mà thăng hoa vào trang viết, viết nên được Ký ức dòng sông. Một truyện dài bấy nhiêu trang viết trong một tháng, liền một mạch, ít xập xóa. 
     Từ chuyến đò dọc từ cửa Tùng lên Đông Hà, một tuần sau tôi lại tiếp dò dọc lên Ba Lòng đến đơn vị Quân Đoàn2. Những ngày ở Đông Hà, tôi may mắn gặp họa sĩ Lê Duy ứng. Anh đang đứng trên thùng xe tải, xe chạy chậm vẫy tay gọi tôi tíu tít. Sao Lê Duy ứng nhận ra tôi đang đứng bên vệ phố gạch vữa đổ nát chưa dọn kịp nhỉ? Anh cầm mũ tai beo vẫy liên hồi. Rồi tình cờ tôi nghe câu chuyện của một cánh lính trẻ nói về câu chuyện tình của một thiếu nữ Hà Nội giành cho họa sĩ Lê Duy ứng, rất cảm động. Trong chiến dịch 30 tháng 4 năm sau, 1975, anh bị thương trước cửa ngõ vào Sài Gòn trong đội hình sư đoàn tăng đánh vào Dinh Thiệu-Kỳ-Hương.
Chiếc xe tải đi khuất, tôi đứng tần ngần mãi bên vệ phố, rồi tìm đường tắt đi về trại viết của Quân đoàn2 đang mở ở thôn Trà Liên có rất nhiều cây bút danh tiếng, hoặc đã có thơ in trên các tờ báo mà tôi đã đọc. Có anh Vũ Thuộc, anh Đệ, anh Huynh. Có Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Quang tính, Lý Hoài Xuân... Từ trại viết của Quân đoàn2 ở Trà Liên, tôi sẽ sang sông. Qua đò ái Tử, bên kìa là quê nội, làng An Mô, và cả quê ngoại, xóm Trà, chợ Sãi. Tôi sẽ cùng chị Hoài Nam lên tuyến chốt Chợ Sãi làm công tác binh vận. Chương trình đã chuẩn bị sẵn. Chị Hoài Nam sẽ đọc lời binh vận. Có thể sau đó tôi đọc thơ. Giọng chị Hoài Nam giọng Bắc. Tôi giọng Quảng Bình, pha giọng chợ Sãi của mẹ

     * Bị sốt, lính Trường Sơn truyền nhau ăn ớt chỉ thiên, chống rét, run rẩy bật chăn bật đá. Trong truyện Ký ức dòng sông, vườn ớt của gia đình Nhơn hiện diện, vào vai nhân vật. Vườn ớt ghen ấy, của Nhơn vừa ngữ cảnh miêu tả, ứng biến tâm trạng vừa là nhân vật ảo đỡ lưng nhân vật. Là Nhơn. Là Mai... để triển khai bố cục truyện, chuyển tải tính cách của Nhơn. Yêu và ghen. Ghen và cả nghen. Can trường, kín đáo và nhân hậu. Đối mặt chiến tranh Mỹ gieo rắc chết chóc, và hoạt kế đối nhân xử thế một cách hoàn hảo trong mọi tình huống hiểm nghèo. Nhơn và bà Thang được xây dựng cốt cách nén căng ở trong tâm thế thuốc nổ. Mỗi lời thoại, mỗi việc làm, mỗi cử chỉ hành động trung trinh, tiềm ẩn sức mạnh truyền thống. Gọi đúng đấy là sức mạnh lòng dân. Gọi đúng đấy là sức mạnh dư địa chí văn hóa của mỗi vùng đất nói chung và của riêng mỗi số phận, lòng dân yêu nước thương nòi...
      Bộc bạch nhiều, bày tỏ nhiều ở bài viết này tôi e sợ làm nhạt truyện, không chuyển tải nỗi sức nặng văn bản gốc tác phẩm. Tôi nhớ mãi cuộc trò chuyện trao đổi với một độc giả tại nhà sách Tràng An. Ông tự giới thiệu là cán bộ của Bộ Giáo Dục và đã đọc tập truyện chọn lọc Huyết Ngọc, NXBCA, 1998 của tôi. Ông thích và khen truyện Ký ức dòng sông. Hôm ấy lắng nghe ông lòng tôi vui khấp khởi. Chủ nhà sách Tràng An, anh Phúc pha thêm tuần trà cũng vui theo câu chuyện, nhận 100 cuốn Bến bờ hạnh phúc , NXB Hội Nhà văn, 2008, tôi ký gửi, nhờ phát hành. 
                                                               16.12.2018
                                                                     LTM

 

 

 

Nguồn tin: Nguồn tin, bài: BVM:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây