Sáng tác của Nhà thơ Lê Thị Mây

Thứ năm - 18/06/2020 10:13
Lê Thị Mây
Nhà thơ Lê Thị Mây thời trẻ
Nhà thơ Lê Thị Mây thời trẻ

 

HẠC BAY CO MỘT CHÂN VÀO CÁNH                                                                                                                   

1. Dòng sông hoa đào

Trời đất đang vào thu, tôi bắt đầu sửa soạn tuyển chọn bản thảo cho một tập thơ về Hà Nội, nhân sắp đến ngày đại lễ Một nghìn năm Thăng Long (10/2010). Tên của tập thơ Dòng sông hoa đào. Lấy tên của bài thơ Dòng sông hoa đào đặt tên tập. Có hai con số 10 đặt dấu nhân ở giữa, thành một 100. Tôi chọn 100 bài vậy. 50 bài đã viết và viết mới năm mười bài.

Có lẽ bài thơ Dòng sông hoa đào đã được ủ muồi cảm xúc tự rất lâu. Tự dạo tôi được ra Hà Nội học lớp bồi dưỡng viết văn khóa 6 (1973-1974), tại Quảng Bá, thuộc đất hoa đào Nghi Tàm.. Tôi đưa vào bài viết này trọn vẹn bài thơ, xem đây là đôi dòng viết cho Lời đầu sách cho tập thơ về Hà Nội nay mai.

 

Huyền ảo trôi qua sương

Dòng sông hoa đào quyến rũ

Chở vầng trăng khuyết ngát hương

 

Những vườn nghinh xuân

Đào hồng khoe nụ

Vạt tứ thân khép lại mùa đông

 

Gót thời gian ướm những vệt hoa

Mùa mây Nghi Tàm che yếm

Phập phồng ngực phù sa

 

Phút giao thừa trời đất quyến luyến

Cánh đồng châu thổ chảy tít tắp sông hoa

Những cánh đào môi dào dạt lòng ta

 

Những cánh đào hồng Nghi Tàm rất trẻ

Sau gót người đi xa

Rất xa...

                                                      2.1988

         Thơ viết về Hà Nội từ các chuyến đi công tác, trong nhiều năm tháng ra Hà Nội học hành lại khá nhiều. Mỗi chuyến đi công tác Hà Nội thường, thể nào tôi cũng viết được một chùm thơ. Từ bao giờ không hay, Hà Nội - Trái tim của cả nước đã ứng nhịp đập thi ca đầy cảm xúc riêng tư và nhiều kỷ niệm khó quên. Có thể một gương mặt tình yêu, một gương mặt mẹ già, một người mặt góa phụ nhập hồn vía vào chân dung tự họa của tôi bằng thơ.

Đợt đi sáng tác do kết nghĩa giữa hai Hội Văn nghệ Hà Hội- Bình Trị Thiên, được ở tại một căn phòng nhỏ, tầng hai, có cửa sổ nhìn ra Hồ Gươm, Nhà khách Phú Gia của Thành Uỷ Hà Nội, mạch viết của tôi vừa bất thần tỏa sáng lại vừa chìm sâu một sức bút mạnh, thầm lặng, ghi khắc thành nếp ngôn ngữ cá tính. Đấy là mạch viết văn xuôi, từ 1982 đến gần hai mươi năm sau, với hơn hai mươi tác phẩm tôi tự bằng lòng, “tự khen sáng giá” từ mạch thơ chuyển sang mạch văn. Từ sau năm 2000 đến nay, mạch văn xuôi đã tắc bút, dù tôi rất trăn trở.

Cứ đếm trên đầu ngón tay, tôi có đến năm bảy đợt ra Hà Nội dự trại sáng tác Đại Lải. Hàng chục chuyến đi công tác ra Hà Nội gặp gỡ cộng tác viên, nhận bài vở về cho Tạp chí Sông Hương, Tạp chí Cửa Việt...

Lật dở bản thảo, ngẫm lại, nhiều bài thơ được bạn đọc chú ý; như bài Những mùa trăng mong chờ, được viết khi đang dự lớp Bồi dưỡng viết văn trẻ ở Quảng Bá, khoá 6 năm 1973; Đám cỏ xanh khi đang học lớp viết văn Nguyễn Du khóa I năm 1980. Bí mật mùa xuân được viết năm 1982 tại Nhà khách Phú Gia cùng với hai truyện ngắn đầu tay Mặt trời dưới dòng sông, Trăng trên cát. Bài thơ Ký ức hoa đào viết năm 1986 trong một chuyến đi công tác Hà Nội, ở Nhà khách Chu Văn An. Bấy giờ, anh chị Trần Trọng Tân cũng đang ở đấy, đương chức Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương. Thi thoảng, chị Hương gọi sang cho quà, những hộp sữa chua chị tự làm lấy, và nghe anh kể về tù ngục Côn Đảo. Những câu chuyện của anh, sau này góp cảm hứng sâu lắng, bùng phát khi viết trường ca Tự khúc ánh sáng.…

Vào những năm 1980, nhiều bạn đọc, đọc thơ tôi có người ngờ tưởng tôi quê xứ Bắc. Lúc đầu nghe vậy tôi buột cười ngạc nhiên, ngẫm lại có một chút lý gì đó. Một chút gì đó, có phải ngôn ngữ thơ của tôi, trước tiên, chuẩn phổ thông. Là một điều mừng. Một điều mừng từ việc học, trích lũy kiến văn mà nên. Tuy nhiên, rất cố gắng chuẩn phổ thông, nhưng tôi viết, “tự tâm thức địa phương” vẫn sai bét nhòe: dấu “hỏi” “ngã”, “t”, “c”, có “g” hay không có “g”.

Trong tiết thu, lòng vừa ngập ngừng vừa hân hoan nhiều ảo tưởng tự tin, tôi lẩy ra những bài thơ có gắn với các địa danh cụ thể, cuộn thành chủ đề tình yêu Hà Nội. Cảm xúc kéo cảm xúc. Những bài thơ mới vừa đầy ngợp vừa mong manh riêng tư. Kể ra, cho đến giờ phút này, sống ở phố Đội Cấn chín năm, và định cư ở Mỹ Đình, khu đô thị mới đã ba năm. Vậy trọn một con giáp mười hai năm. Ngần ấy năm tháng, tôi vẫn nói giọng quê biển bên hữu ngạn sông Nhật Lệ, Bảo Ninh, nhưng ngôn ngữ thơ đã vươn nhiều cung bậc cảm xúc hoa đào. Dòng sông hoa đào, tôi hình dung có sự khơi chảy trong trẻo của con sông Tô Lịch xửa xưa trong tưởng tượng của tôi. Sự lấp lánh, nỗi xanh biếc của dòng chảy, chảy nghiêng qua mé tâm hồn, mà chỉ một bờ hoa, bờ bên kia không xác lập được, nếu không nương theo dòng chảy sự kiện, vết tích, chiến tích lịch sử!

Tin vậy, phấn đấu không mệt mỏi, mong chuyển tải được bờ hiện thực của đời sống hiện tại, hiện đại.

Tập thơ Dòng sông hoa đào được hình thành, qua tuyển chọn khắt khe, nhưng rồi tôi bỏ dự định in thành một tập riêng. Nếu không sẽ chạm chân tới chuỗi việc hình thành tiếp các tập thơ về Huế, về Quảng Bình, thơ cho mỗi địa danh... thì nguy. Sẽ tự lâm vào “loạn mười hai chốn thơ!” Vấn đề không ở số lượng, hay trọn cả một tập thơ, cho mỗi vùng miền, một vùng đất cụ thể nào đó. Điều cốt lõi phải nắm bắt, diễn tả được thần khí cốt cách, chỉ số văn hóa. Đắn đo, trăn trở, sau tôi rút ra từng mảng viết về Hà Nội đưa vào các tập: Bài ca cố Hương. Cánh đồng thức. Cây Ngôn ngữ ra hoa, Trở về

Dưới đây là bài thơ Ký ức hoa đào tôi viết từ những năm cuối tám mươi, trải mạch, định vị mạch cảm xúc vắt qua một nghìn năm Thăng Long hào hoa.

 

Gió bấc về nhớ hoa đào Nghi Tàm, trăng suông vừa lên khỏi chân đê nước đỏ

Trong tất cả các loại hoa không hoa nào sánh bằng hoa đào

Lộng lẫy đến nỗi hương như thừa như chết

 

Rằm tháng chạp ngậm mưa phùn hé nụ, rằm tháng giêng tàn

Hé nụ trên tay người trồng, tàn trong nỗi hết xuân của bao nhiêu tổ ấm

Hoa thiêng rải thảm bóng hồ Gươm

 

Yêu hoa lần đầu giờ đã hai mươi năm nước mắt chảy gót chân con gái

Có gì như hương hương ký ức hoa đào

Người trai giọng trầm mang cả kinh thành Thăng Long trao gởi tôi rồi xốc ba lô ra trận...

 

2. Hạc bay co một chân vào cánh

Từ ngày xưa yêu cho đến bây giờ gồm các tập thơ thể Cung thi viết thời trẻ tuổi, vào những năm tám mươi, chín mươi của thế kỷ trước, kéo vệt dài cho đến nửa đầu thập kỷ thứ nhất của thế kỷ này. Cái trục thời gian trên luôn bập bênh có một chút níu gọi cần một sự trở về, khám phá tìm dấu ấn những năm tháng đã qua.

Phải khó khăn lắm mới hoàn chỉnh bản thảo này. Mỗi tập thơ trong Từ ngày xưa yêu cho đến bây giờ có một nhịp thi cảm và chủ đề xuyên suốt riêng. Thời gian chính là hình trình lao động luôn làm giàu năng lực sáng tạo của người nghệ sĩ.

Thơ chín câu và cái đuôi vĩ thanh Biến tấu bao giờ cũng hớp hồn vía câu chữ khi đào sâu, chìm sâu vào mạch cảm xúc của mỗi bài thơ. Vào mùa thu năm 1969, sau khi chuyển công tác về Hội Văn nghệ Quảng Bình (9/1969), cho đến nay (1-1-2007), dòng ngẫu thi này, với một thế giới riêng khuất kín, sâu kín tận đáy tâm thức. Trước trang giấy, được hóa thân và phân thân vào trong mọi cuộc đời, số phận bằng những khoảnh khắc tâm trạng mà thốt thành câu chữ, là một hạnh phúc lớn. Thốt lên với một điệu thức lửng, thiếu. Là khổ thơ ba câu so với khổ thơ bốn câu. Hai, có đôi. Bốn, có đôi. Một, lẻ. Ba, lẻ. Riêng một. Một bóng. Những năm tám mươi tôi đã ba mốt, ba hai. Rồi bốn mốt bốn hai. Nhìn vào mắt mẹ, tôi biết mẹ tôi muốn thốt hỏi “Sao con!”. Tôi dở túi xách. Quà dành cho mẹ, mẹ cầm hờ hững, Tôi lại đọc thấy sự ngập ngừng muốn thốt hỏi của mẹ!

Có phải câu thứ tư của khổ thơ bốn câu để tôi trả lời mẹ. Trả lời, đầy tròn hạnh phúc với cuộc đời. Câu thứ tư là câu kết của thể thơ tứ tuyệt. Tôi hụt chân không đến được.

Lật lại bản thảo, từ những năm bảy mươi, có đến mươi lăm bài thơ khổ ba câu. Hẳn cả một vài bài Tam tuyệt xứng đáng đứng ngang tầm tứ tuyệt cổ điển.

*

Bài thơ chín câu đầu tiên được làm từ bao giờ, ngày tháng nào rất khó xác định. Khi nhận ra nó, các khổ thơ 3 câu, bài bài thơ chín câu thì nó đã hình thành một vệt tựa có sóng trên mặt hồ tâm thức, trên từng trang bản thảo. Lúc ấy vào quãng 1983-1984.

Sang những năm cuối thập kỷ tám mươi, thơ 9 câu đã có định tính thiền thi, kiệm chữ, hướng tới ý nghĩa sâu xa, khái quát của hình tượng thơ.

Khóc dưới vừng trăng, chủ đề xuyên suốt về nỗi cô đơn góa bụa của người phụ nữ sau chiến tranh chịu nhiều đau thương mất mát.

Đèn lồng hoa lựu cầu hôn là niềm khao khát hướng tới sự kiếm tìm hạnh phúc.

Ngày mưa tôi ở Huế là sự tri ngộ cảm thán với Huế trong nhiều tâm trạng cảm xúc, giải bày những suy ngẫm nhân tình thế sự.

..................

Như vậy, các tập Nhặt tiếng sanh tiền, Chất liệu chiếc hôn, Mùa lá chiêm ba, Tiếng thở dài của phù sa, Từ ngày xưa yêu cho đến bây giờ, Biến tấu... các tập Cung thi được đưa đầy đủ vào đây, file hai cất này, gần sáu trăm trang. Nhập vi tính, chỉnh sửa, sửa lỗi chính tả đến ngợp. Hình thành được một tuyển tập? Có thể lấy một bỏ một, hoặc tùy đấy. Du ca cây lựu tình: bốn lấy một. Bỏ bài nào cũng tiếc! Than ôi, văn mình vợ người mà! Bệnh mãn tính của người thơ mà!

Biến tấu là sự phá cách về số chữ trong câu và số câu của Cung thi. Câu thơ bảy chữ, nhịp ngắt 3/4, nhịp vần của câu lững. Nếu là câu tám chữ thì nhịp ngắt 3/5, ... thi thoảng có nhịp ngắt 4/3 hoặc 2/5. 2/6...

Điệu thức và vần điệu câu thơ không cứng nhắc là lối này hay lối kia. Nó lững, thiếu và biến dịch, phá cách, biến tấu, tạo ô trống, khoảng trống cần thiết cho cảm xúc, được lắng trong, được ngưng rơi như những giọt nước, vươn tay hứng dưới mái tranh, nên câu chữ nối giọt, ngấm mát, bày tỏ tâm hồn, tâm trạng, triết lý nhân văn, hướng tới chân, thiện mỹ.

Có lẽ, tâm huyết dồn hết vào lối thơ (thể thơ) 9 câu. Thơ 3 câu, 5 câu và 14 câu, tuy cùng trong một vệt của những năm 1980-1990 và cho tới bây giờ, nó đã góp phần tạo nội hàm, độ hẵm, độ xiết của dòng chảy cảm xúc, làm nên sự tương tác, trường liên tưởng khoáng đạt, biến cách của tư duy, nghệ thuật diễn đạt thơ Mây. Một người thơ, chỉ vì thơ mà mong đi được đường dài.

Các chặng đường đời tương đồng, dòng ngầm của tâm thế, tâm tưởng thơ được hình thành, thử lẩy ra thế này:

Tuổi thơ hạnh phúc trong tình yêu của mẹ. Tuổi mười lăm, bước sang tuổi mười sáu, áng chừng gần hoặc hơn mười hai con trăng tròn trong nhịp thức đổi vai để trưởng thành, gánh gánh nặng đời người và gánh nặng cuộc chiến tranh khốc liệt mà bom đạn Mỹ gieo chết chóc, xâm lược, chia cắt đất nước.

Đấy là từ 1965- 1989 (mốc thời gian này chỉ vận vào thân tác giả): Tuổi trẻ đi qua chiến tranh vệ quốc. Ham đọc, sách vở thơ phú làm giàu nội tâm. Ảnh hưởng dòng văn học Xô Viết. Xu hướng thơ lãng mạn cách mạng. Tự tin và tu hạnh.

Cũng trong những năm tháng ấy, trong gia đình xẩy ra nhiều khó khăn. Cái kham khó của mỗi gia đình, cũng là kham khó của cả đất nước sau chiến tranh và đang nửa thời chiến nửa thời bình. Sau năm 1975, anh trai cả đưa các cháu về quê (QT) không trụ vững được, đi tuốt vào Long Khánh, không mấy tin tức rồi biệt xứ theo nghề lang vườn, các cháu thất học... Cơ cảnh của gia đình anh cả cuộn vực, đầy khổ đau nén sâu. Vào những đêm thức trắng tôi đối mặt với trang viết, gắng cho trọn bổn phận cầm bút. Thơ và cả văn xuôi xẻ một dòng đào sâu, lật đa chiều về nhân tình thế sự. mẹ, đừng trách cứ con không biết thay đổi tính nết cho hợp thời vụ. Thời nào thức ấy! Chân lý của cuộc sống giản dị vậy, mà con ẩm ương quấy động, làm rối tung, phức tạp tứ chiều. Con là giống loài cây chỉ ra một hoa, chỉ đậu một quả trong làn hương cây đầu ngõ, mãi con còn trong nách áo mẹ, lắng nghe mẹ bảo ban.

Mẹ là cây đầu ngõ mùa cảm xúc

Cánh Phật đài ngất hương

Thưa mẹ là hương và hương sữa mẹ

Tỏa nên dòng ngôn ngữ thơ.

 

Cây hoa đầu ngõ tu tình đời con

Hoa con cài tóc để mẹ nhận ra con gái mẹ

Con thôi cười con mãi khóc

Mẹ nhận ra con cúi mặt nhặt hoa rơi

Mẹ nhận ra con đếm từng dấu chân của mẹ

Nước mắt con xin hóa được nụ cười

 

Mỗi bài thơ, mỗi tập thơ là một mùa hoa của cây hoa đầu ngõ. Con nguyện tâm tu tịnh cho từng mùa hoa chữ nghĩa, tự nhiên hương trời đất và sữa mẹ ban tặng, mà con chưa dám nhận.

Đọc nhiều luồng văn học dịch phương tây. Các chặng đường sau nương nhờ vào chính sức đọc, sức viết và hạnh phúc gia đình thật khó khăn. Tuổi già ập đến!

Tất cả! Tất cả! Từ bao giờ nhỉ? Tự bao giờ hằn nếp vào thơ khổ ba câu. Dồi sóng vào khổ thơ ba câu. Ba câu. Thiếu một câu. Câu bốn. Nghĩa là mất một. Một mà nhiều. Mà tất cả. Cũng xem là tôi bước hụt chân. Một chân. Là con hạc bay, co một chân vào cánh. Tôi mãi không tìm ra đáp số cuộc đời. Cái câu bốn trả lời, cái câu bốn đáp số ấy co vào gan ruột, tim óc! Co mãi vào hồn không duỗi ra được. Nghĩa là tôi, nghĩa là thơ khổ lẻ, khổ ba câu là khí tính, cần ăng-ten bắt sóng thời cuộc chỉ riêng tôi là vậy. Từ cái tôi trong chúng ta, chuyển dần sang cái tôi bổn phận và trách nhiệm công nhân, trách nhiệm nghệ sĩ trước thời vận đất nước, gia đình.

 

3 - Mẹ và cây đầu ngõ

Kể từ biết nhớ, tôi nhớ gia đình tôi, cha và mẹ tôi đã cất lên ba ngôi nhà trên quê cát làng Sáo. Mảnh đất, vườn để cất lên ngôi nhà đầu tiên nguyên là đất từ đời cụ cố, đời  đời ông dựng nghiệp khai khẩn nên. Khi ông tôi qua đời, có một cơn bão cát, một cơn cuồng phong đã làm thay đổi miền đất làng Sáo. Gia sản của đời cụ cố, đời ông tôi bị vùi sâu dưới động cát. Chút gì còn lại cũng đã sang tay của gia tộc khác. áng chừng, vào đầu năm 1950, khi đã có ba bốn mặt con, cha tôi làm ăn buôn chuyến khấm khá lên đã dành tiền chuộc lại một phần đất hương hỏa từ đời cố, đời ông.

Nói là ngôi nhà đầu tiên, thực ra là túp lều tranh nhỏ. Ngôi nhà thứ hai là ngôi nhà rường ba gian, các bộ cửa và cột nhà đều gỗ lim, gụ, lên nước đỏ au. Ngôi nhà thứ ba là ngôi nhà tân thời hai tầng, dọc hàng hiên láng xi măng, đầu ngõ trồng cây hoa sứ, nở hoa trắng ngát, thơm ngát quanh năm

Vào buổi rời nách áo mẹ, tôi cài một bông hoa nhỏ lên mái tóc mười sáu tuổi. Suốt mấy năm ở rừng huyện Bố,  tôi thường cài hoa sim hoa mua lên tóc không phải để làm dáng mà bởi lòng nhớ mẹ khôn nguôi. Và cả khi vào sống ở kinh thành Huế, thi thoảng có bông hoa nhỏ yêu kiều tôi lại cài hoa lên tóc, tin là mẹ luôn theo tôi và nhận ra con gái mẹ vụng về từ xa, rất xa...

Ngày mẹ tôi qua đời, mưa Huế dầm dề suốt cả tuần trăng, suốt cả bốn chín ngày kinh kệ tang đám mẹ. Ngày ấy, nhà thơ Phùng Quán từ Hà Nội vào Huế có phúng viếng mẹ tôi, ứng khẩu bốn câu thơ chữ to, viết tràn mặt giấy A4:

Mẹ ra đi, cơn đau tim đột ngột

Mẹ các nhà thơ thường lâm bịnh đau tim

Mẹ yên nghỉ ngàn thu chúng con đưa tiễn

Mưa Huế tuôn mưa rạng bình minh!

Mẹ tôi mất vào buổi rạng đông. Vào chiều mưa Huế, chợt trời đất hửng chút nắng, gia đình tôi cúng cơm mở cửa mộ, tôi đã hóa thơ phúng viếng của nhà thơ Phùng Quán, hẳn mẹ tôi còn linh ứng chốn trần gian mà ngậm ngùi cảm động!

Mẹ ơi! Thưa mẹ! Những câu thơ con thốt lên tự lòng về hạnh phúc, khổ đau, được, mất đâu phải chỉ của riêng con. Thơ con đã đánh nhịp bất thường vào tim mẹ. Cơn đau tim đột ngột của mẹ phải tự tim con dội sang?

Mẹ ơi! Thưa mẹ! Con vọng từ ngày sinh của mẹ, nay một thế kỷ đã trôi qua trong chớp mắt! Một chớp mắt thơ ca, con nay đã vào tuổi xưa nay hiếm, mà với thơ con mãi mới bắt đầu. Luôn bắt đầu tự câu chữ đầu tiên. Con mãi chưa kết thúc, không biết sẽ kết thúc thế nào! Tâm hồn và cảm xúc là hai cung bậc không thể tách bóc tự hộp đàn trái tim, từ cần đàn hư ảo rọi chiếu tự ngôi sao định mệnh mẹ ạ. Con hình dung vậy từ bao giờ không biết nữa. Đấy là thiền định, trời đất ban định. Đất nước non sông cưu mang gìn giữ, gửi gắm ở mỗi lòng người, nối dài vóc dáng cuộc sống chân thiện mỹ của nghiệp văn chương mà con dấn thân!

Mẹ ạ. Thưa mẹ trái tim! con xin nương lời của nhà thơ Trần Long ẩn thốt gọi mẹ, để nương cây hoa sứ đầu ngõ. Mẹ - cây hoa đầu ngõ của thơ con. Vườn thơ mang tính khí con thường ra hoa muộn, trái mùa. Thưa

 

                                      Hà Nội, một ngày xuân Kỷ Hợi, 15. 3.2019

        

 

Thơ Lê Thị Mây

 

BẦU TRỜI NGOẠI Ô

 

Người mẹ trẻ có tấm thảm đỏ

Tốc độ bay có nửa cánh hân hoan

Tốc độ bay tấm thảm bay màu đỏ

Cánh bay đầm cơn mưa tháng năm

Cơn mưa rào nửa trộ thanh xuân

Hạt mưa hồi hộp tìm một địa chỉ.

 

Ẩn sĩ già quên bản thân

Tóc bạc mây trời phủ trắng.

 

Người mẹ mang cơn mưa rào

Mang chùm tiếng ve náo loạn

Mang chùm tiếng cười của hai con nhỏ

Thắt kết hai bó hoa

Loa kèn thơm ngát ngoại ô.

 

Hạt mưa, long lanh ánh mắt con trẻ

Lăn kết chùm ánh sáng thơ ngây

Bừng rạng gương mặt thi ca người mẹ.

 

Người mẹ vì thi ca quên bản thân

Cánh cửa của bầu trời mở ra

Ngoại ô Thăng Long hoa loa kèn trắng

Thơm nụ cười đầy lo âu

Của người mẹ cuối hoàng hôn đón con trễ muộn

Tấm thảm bay tốc độ bay

Bừng thức chân trời ý tưởng.

 

 

HOA THÁNG SÁU

 

Cẩm chướng hoa đỏ môi

Làn gió làn hương

Thơm trời đất

Mang nặng ưu tư thương cuộc đời

 

Mãi đây giọng nói

Hoa gương mặt

Mãi thơm làn tóc áng thanh xuân

 

Cẩm chướng ôm đầy hoa xinh tươi

Lặng áng văn chương lời chân thật

Hoa tặng, tôi ôm áng bồi hồi

 

*

Hoa tặng, em trao hương trời đất

Mang nặng riêng tư yêu cuộc đời

 

Mãi đây giọng nói hoa gương mặt

Mãi thơm tóc ướt dịu dàng thơm

Hoa, áng văn chương ngời ánh mắt  

 

Cẩm chướng em trao trìu mến, tôi

Hoa, áng văn chương tháng sáu cười

 

Có giọt lo âu trong giây khắc

Ôm hoa tôi đẫm nhánh cành sương.

 

 

LỄ HỘI BÀI CHÒI

 

Trái lòng tíu tít loòng bong

Treo chíu chít lên hội bài chòi xứ Quảng

 

Cây bút

Treo nhịp tim lên lễ hội vầng trăng

Chíu chít loòng bong vừa kịp chín

Thơm môi thiếu nữ

Môi chàng...

 

Quân cờ chạy vầng dương thánh lễ.

 

BƯỚC THỨ NHẤT

Bước thứ nhất tiếp theo bước nửa

Nhưng không thể

Bút tắc, không cảm xúc yêu đời

Nhưng không thể

Bút tắc, không cảm xúc cùng khổ đau nhân loại

Dù rất nhỏ

 

Tiếp bước nửa dẫu đầu rỗng khô

Toàn thân thiếu lửa, khát lửa

 

Bước thứ nhất đứt hơi, kiệt sâu nhịp thở

Giữ làm sao không kiệt mạch ước mơ

Ca dao tục ngữ không đóng băng, đóng khung hy vọng

 

Tự sản sinh năng lượng tình yêu cháy bỏng

Tự sản sinh năng lượng giấc mơ

Tro tàn ngún hành trang câu thơ

Dúm tro lạnh xin đặt vào dấu chân bước đi thứ nhất

Để hà hơi thổi hồn sẽ hồi sinh cảm xúc.

 

27.2.2019

 

CON TRẺ DIỄN TRÒ

 

Bắc cực Nam cực chuyển dịch tách ra khỏi hai đầu trái đất

Thành hai chiếc trống cổ đại sứt tai

Thành hai chiếc chiêng đồng

Lũ trẻ đùa chơi, tưởng tượng

Bắc cực

Nam cực

Thành hai chiếc nón ba tầng quan họ Bắc Ninh

 

Nỏ thần Hùng Vương

Cờ lau Đinh Tiên Hoàng

Mỗi lòng dân hợp tung Binh thư yếu lược

Hỏa công Nguyễn Huệ

Hợp tung hoa đào công chúa Ngọc Hân

Con trẻ hợp tung diễn trò tưởng tượng

 

Chúng thiết kế tầng khí quyển, tầng ozôn

Quyết bảo vệ trái đất không nóng lên

Bắc cực

Nam cực

Lắp trở về hai đầu trục quay trái đất 23 độ nghiêng

Bất tử.

 

Hợp tung đối thoại, trái tim làm hộ chiếu

Vôi nồng trầu cau Quan họ mời nhau  

Nhã nhạc cung đình, sông La ví dặm

Trái tim nóng cái đầu cần lạnh

Lũ trẻ đồng dao tung cây cọ bảy màu.

 

                                                                 2.2019

 

 

NGÔI SAO THI SĨ

 

Không dễ tin dù được trao tận tay

Chợt biến mất ngôi sao đáy giếng

Đêm trắng vời xa khôn nguôi đắm say

Thi sĩ ủ đôi tay nổi gân xanh, không lên tiếng

 

Bước rất khẽ bà bước qua mùa đông

Qua ấu thơ và qua tất cả

Ngôi sao lung linh cài ghim thế kỷ

Khúc nước sâu vô cớ những vết thương

 

Dù được trao được tin cậy mong chờ

Tôi sợ đuối lòng, trớ trêu là vậy

Tôi không dám chối từ được ngắm trong mơ

Ngôi sao linh thiêng bài ca run rẩy

 

Hồn thi sĩ, Olga Bergholtz thi sĩ

Tôi dặn lòng không phi lý vô tâm

Mỗi số phận ngôi sao đầm nước mắt

Dựng lại bắt đầu sân khấu kịch câm

 

Sao vụt sáng chói lòa từ đáy giếng

Giếng thời gian tĩnh mịt sâu khơi

Olga Bergholtz hỡi ánh sao dâng hiến

Vụt sáng câu thơ cuốn gió cuối chân trời.

 

                                                                     4/9 Quý Tỵ

SÔNG PHỐ

 

Bầu trời sũng ướt cơn mưa tiểu mãn

Những con phố thành sông cuộn xiết đục ngầu

Cây gẫy đổ tựa có thể bật gốc đời hy vọng

 

Anh một gốc cây đời trên tầng sóng phố thẳm khơi

Vai nâng, cần cổ con sếu

Cuốn sách trên đầu hân hoan chữ vẫy cười.

 

Anh bơi, qua mọi giới hạn bằng ánh sáng vũ trụ

Em kinh ngạc, ngưỡng mộ anh

Sông phố và dòng ngôn ngữ trác việt của anh rực rỡ.

 

Anh bơi, mọi đích đến có thể từ lâu anh thấu tỏ

Cuốn sách đội trên đầu bơi qua cơn tiểu mãn tháng tư

Sông phố và dòng ngôn ngữ trác việt của anh phủ cánh đồng nhân văn màu mỡ.

 

Anh bơi, anh đã bơi qua mọi im lặng hay sông đời cuộn xiết

Hai sáu chữ cái là phao cứu sinh vượt bể dâu đời người

Anh bơi qua sông văn nghiệp bằng tình thương

Anh bơi qua, tôn vinh hệ tư tưởng nhân văn Cộng sản

Cây bút trụ trời, cây bút đội vầng dương

 

Cuốn sách, một giọng nói Phiden

Cuộc đối thoại 48 giờ mặt trời mọc, qua đêm tối

Cuộc đối thoại 48(*) giờ hùng biện anh minh

 

Cuốn sách -

Cuộc đối thoại trao em sức đi sự hãnh diện, sự đối diện

Trữ lượng ngôn từ dào dạt thanh cao

Sức bút, lẽ phải, giọng nói của Phiden

Về cuộc tranh đấu không ngưng, em cùng đối diện

Cuộc chiến đấu không ngưng trao em niềm tin đuốc lửa

Từng trang sách, hân hoan chữ vẫy cười.

-------

(*) Cuốn sách về cuộc đối thoại của Phiden và một nhà báo phương Tây

 

KHÚC CA MÂU SƠN

I.

Đã quá xa không thể quay trở lại

Được trở về và được lời thưa

Xin kính cẩn cùng xin được thốt

Giữ tấc lòng ngày trẻ đi qua

 

Tôi được vịn một bàn tay nâng đỡ

Một tấm lòng một giây khắc thần tiên

Không quên được ơn đời hào phóng

Cho riêng tôi vịn gió chân trời

 

Một giây khắc trĩu lòng ân nghĩa

Đã quá xa trở lại muộn rồi

Nhưng dù muộn cây bút già gậy chống

Ứa lệ đầu non giọt lệ đá mòn

 

Tôi trở về vùi thân trong cát bỏng

Làm dã tràng cõng cát lúc triều lên

Che chắn được sóng thần giữ bình yên làng nước

 

II.

 

Đã quá xa bao nhiêu trang sách

Bấy nhiêu đủ bọc trái đất này

Chữ bọc xin chữ đứng nên cây

Cho tôi vịn ngày còn chưa biết lối

 

Xin vịn chữ mỗi bước tìm đường

Tôi đi suốt đi dài sóng bờ eo óc

Tôi đi suốt đi dài qua chết chóc

Cho mơ ước hồi sinh bao nỗi cằn khô

 

 

Đã quá xa tôi xin được trở về lặng lẽ

Trái đất một hạt nhỏ hệ mặt trời

Một hệ chữ phủ lá lá rơi

Cho màu mỡ hành tinh - trái đất

 

Dù là muộn không thể bỏ buông

Tôi ẩn vào một chữ nặng hàm ơn.

 

III.

Làn gió nhẹ tựa bàn tay cho vịn

Tôi không sao hiểu được hằng đêm

Một cán cân thuộc về công lý

Một trái tim một giọt lệ làm nên

 

Thần tình nhân gian thanh cao lẽ phải

Quét qua vầng dương thấu tỏ một lời

Hàm ơn trả ơn trời không cho thấy

Dù chậm chân, vịn chữ thoáng giây cười

 

Không đuối lòng chỉ lòng tin tưởng

Một nhịp tim một giọt lệ cán cân

Làn gió nhẹ cho bàn tay được vịn

Qua hằng đêm sắp trở lại thanh xuân

 

Mỗi hàm ơn trả ơn thần tình lẽ phải

Xin trở về chân thật trang nghiêm

Đỉnh công lý công đường sáng rạng

Cây bút cùng tôi dưới chân núi Mâu Sơn.

 

22.12.2018

 

 

NHỮNG KHÚ CA NƯỚC MẮT

 

I.

Trong lồng ngực trái tim được mẹ sinh ra

Và đeo bên ngoài theo nguyện ước

Một khúc ca mang dáng hình đất nước

Nên máu chảy oanh liệt hào hoa

Cành nguyệt quế cũng đeo ngoài lồng ngực

 

Bên ngoài hòa giao chính trực

Trái tim trong ngực đập nhịp hồn nhiên

Một nửa điện năng tích tụ

Chảy bên ngoài giao cảm hóa thiêng liêng

Thấm xương cốt Đông A hào khí

Ngôn ngữ mẹ sinh dưới mỗi mái nhà

Niềm hạnh phúc thi nhân gom nhặt

Dựng tường thành gáy sách đường xa

Tiếp lời kể nối vòng quanh trái đất

Phái yếu luôn có hai trái tim

Trái tim đàn ông đeo ngoài lồng ngực

Trái tim đàn bà thổn thức thủy chung

 

Trái tim đàn bà hổn hển ở bên trong

Làm mẹ làm người yêu làm vợ

Làm giọt lệ to dần không rơi, không rơi

Tự cổ sơ đàn bà hòa chung mơ ước

Ngôn ngữ trái tim là tiếng khóc trẻ chào đời

Vì thế đàn bà được sinh ra từ ngôi sao chứa đầy nước mắt

 

Tim đầy nước mắt không thể đeo ngoài lồng ngực...

 

II.

Trái tim trong lồng ngực nhịp đều

Và đeo bên ngoài vầng dương rực rỡ

Và đeo bên ngoài vầng trăng quê mẹ

Một dáng hình tần tảo lưng ong

Cho đất nước một dáng hình mùa gặt

Nhân quả đời người trời đất mênh mông

Cành nguyệt quế cũng đeo ngoài lồng ngực

 

Bên ngoài hòa giao chính trực

Cả nhân gian thấy rõ mỉm cười

Cả nhân gian thấy rõ dưới mặt trời

Cả nhân gian thấy rõ dưới vầng trăng sáng

Cả nhân gian ước mơ lãng mạn

Cả nhân gian ước vượt qua giới hạn

Cả nhân gian tích tụ điện năng

Đeo được đá, tảng bia đá nặng

 

Nhân gian tôn vinh hào hoa giao cảm

Trái tim trong lồng ngực nhịp đều

Nghe nhịp đất, đá mạch đất trao dũng khí

Ngôn ngữ mẹ sinh dưới mỗi mái nhà

Niềm hạnh phúc cây bút gầy gom nhặt

Dựng tường thành gáy sách đường xa

Tiếp lời kể nối vòng quanh trái đất

Phái yếu luôn có hai trái tim

Trái tim cười đeo ngoài lồng ngực

Trái tim khóc thổn thức ngân rung.

 

Trái tim đàn bà mang hình dáng trăng khuyết trăng non Mơ làm mẹ làm người yêu làm vợ

Mơ treo lên chiếc tổ dưới bầu trời

Tự cổ sơ đàn bà hòa chung mơ ước

Ngôn ngữ trái tim là tiếng khóc con trẻ chào đời

Vì thế trái tim đàn bà tựa ngôi sao bọc trong tã lót

 

Tim đầy nước mắt không thể đeo ngoài lồng ngực...

 

III.

Trái tim trong ngực được mẹ sinh ra

Lắc lư nguyện ước

Đòi hy sinh oanh liệt hào hoa

Bia đá ghi danh đeo ngoài lồng ngực

 

Trái tim bên ngoài giao hòa vũ trụ

Tim trong ngực đập nhịp hồn nhiên

Một nửa tim điện nặng tích tụ

Máu chảy bên ngoài nên chữ nên câu

 

Thấm vào da hào khí

Ngôn ngữ hình thành ghi lại khổ đau

 

Mảnh vỡ hạnh phúc xin gom nhặt

Dựng tường thành gáy sách thăng hoa

Mỗi lời nối vòng quanh nước mắt

 

Mỗi chúng ta có hai trái tim

Trái tim đàn ông đeo ngoài lồng ngực

Trái tim đàn bà thổn thức, không thể lặng im

 

Trái tim đàn bà hổn hển ở bên trong

Làm mẹ làm người yêu làm vợ

Làm giọt lệ, to dần, không rơi

Tự cổ sơ trái tim đàn bà trước nhất

Đu đưa theo tiếng khóc con trẻ chào đời

Trái tim đàn bà vì thế chứa đầy nước mắt

 

Trái tim đầy nước mắt không thể đeo ngoài lồng ngực...

 

IV.

Trong lồng ngực trái tim không thể thấy

Từng nhịp reo nhịp thổn thức hao gầy

Từng giây khắc chỉ trái tim nhận biết

Máu trong thân tự cội rễ muôn cây

 

Có hình dáng trái tim treo làm quả

Tỏa làn hương ánh sáng cuộc đời

Đặt bàn tay lên ngực một thời

Không lành được vết thương không máu chảy

 

Ức triệu tim hòa điệu nhịp tim

Về trong đất theo mùa lá rụng

Mỗi rung chuyển trượt dài càng lúng túng

Đặt bàn tay về đất biết yên lành

 

Tự tấm lòng cây giao hưởng âm thanh

Tay bám đất máu trong thân túa rễ

Trong lồng ngực trái tim không thể

Tự bóc nhầm như một múi cam ăn

 

Xúm chia phần diều hâu lũ quạ

Không kịp nghe tim không thấy tim

Tai điếc đặc, mù màu khốn khổ

Tự mình móc xem, bày biện, ngấu nghiến hết niềm tin

Công nghệ phẳng bôi trơn ngợp hồn tự bên trong đổ  vỡ

Lồng ngực phẳng mang hình thù điện thoại thông minh

 

Trái tim đàn bà vì thế chứa đầy nước mắt

Trái tim đầy nước mắt không thể đeo ngoài lồng ngực...

5.8.2008-4.12.2018

 

 

 

 

 

Nguồn tin: Nguồn tin, bài: BVM:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây