Sáng tác của Võ Văn Thọ

Thứ hai - 22/06/2020 12:19
Nói với đông về
                                                                                  Tạp văn của Võ Văn Thọ



     Mùa thu đã nhẹ gót ra đi, nhường chổ cho mùa đông lạnh lùng quay lại. Mưa, gió, se se lạnh của những dư âm từng cơn gió mùa Đông Bắc quay về, đặc trưng của mùa đông là vậy.
Mùa đông, của thời tuổi thơ, trừ khi những ra đường có công việc, học hành, về đến nhà chỉ thích được ngồi bên bếp lửa hồng, hai bàn tay xòe ra để cảm nhận hơi ấm từ ngọn lửa tỏa ra, rồi xít xoa: Lửa hồng ấm thật! Về đêm, chỉ thích chui vào tấm chăn (mền) bông cuộn tròn, mặc cho bên ngoài mưa, gió hàn huyên tâm sự. Chẳng tranh giành với ai, gió cứ thổi thông thốc bên liếp cửa, mưa cứ xạt xào ngoài mái hiên, tiếng con ếch, nhái, ễnh ương như dàn đồng ca cứ việc thỏa sức hòa tấu giai điệu ngọt ngào của ruộng đồng, tình quê và tình yêu lứa đôi của thế giới luôn động.
Những mùa đông tiếp theo, thời trong quân ngũ nơi đất khách quê người ở Đồng Nai, cảm nhận mùa đông là những tháng, ngày hành quân, huấn luyện nơi thao trường, chẳng rung cảm được cái lạnh, cái rét, bởi do khí hậu miền Nam và hoạt động cao độ của người lính, nên chỉ thích thú với mưa. Với người lính trẻ mưa như những giọt châu sa rơi, nên mới có những câu thơ bộc phát: Với người lính trẻ/ Nước là châu sa/ Thấm tận lòng ta/ Ngân nga ta hát/ Nhớ nhà thương em...Em ơi có thấy/ Giọt ngọc tuôn rơi/ Mưa trên áo lính/ Xanh màu quê hương/ Đường dài hành quân... Mà cũng đúng thật, Sài Gòn và các tỉnh phía Nam sáu tháng mưa, sáu tháng nắng làm gì có mùa đông để cảm nhận. Rồi da diết nhớ, thương!
Chỉ khi rời miền Nam ra Bắc, được học tập tại đất Thủ đô, mới cảm nhận trọn vẹn mùa đông về với Thủ đô một cách khá tròn trịa, lãng mạn. Khi được nghe những giai điệu nồng màn của nhạc sỹ Trương Quý Hải được cất lên từ giọng hát, như: “Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa/ Cái rét đầu đông khăn em bay bay hiu hiu gió lạnh/ Hoa sữa thôi rơi, ta bên nhau một chiều tan lớp”...
Vâng. Chỉ những ai được sống hoặc có một thời gian nhất định ở Hà Nội mới cảm nhận hết mùa đông Hà Nội, mới thấy mùa đông mê hoặc không kém gì mùa thu lãng mạn, dù rằng lúc này “hoa sữa thôi rơi”.
Trong bốn mùa của năm, chắc rằng mùa thu là đẹp, lãng mạn nhất, nên các nhà thơ, nhà văn, họa sỹ nói tóm lại giới thi sỹ chọn để trải lòng, viết lên những vần thơ, áng văn chương, ca khúc để bộc bạch tình cảm nồng nàn, da diết, lắng sâu hoặc anh chàng họa sỹ vẽ lên bức chân dung thiếu nữ với những chiếc lá vàng gợi cảm, ma mỵ...
Còn chọn các mùa còn lại trong năm sẽ không biểu đạt, diễn cảm được hết chăng? Nói như người lính vẫn thường hay hát “Một đời người, một rừng cây” của Trần Long Ẩn: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai”...Có nhiều người nói: Lính rất khô khan. Đúng thì có đúng phần nào, nhưng cũng chưa hẳn là vậy. Có lẽ, do hạn chế về thời gian, nên người lính ít có điều kiện để gần giũ “bóng hồng” - người mình yêu thương, để trải lòng và có những kỉ niệm đẹp khi yêu. Tuy nhiên, họ cũng có những phút giây lãng mạn đến “xao lòng” bên công viên, bờ hồ hay khu vườn hoa trái...Họ cũng khát khao, cũng mơ ước và nhẹ nhàng nắm tay người mình thương, rồi lấy mọi can đảm để nói tiếng yêu trong cảm xúc thăng hoa! Rồi say đắm trong nụ hôn đầu đời được đặt lên bàn tay, đôi má, hoặc tiến xa hơn là đôi môi của người thương mến! Khi có được chút ít thời gian nghỉ phép, nghỉ tranh thủ, họ chấp nhận bỏ qua mọi sự bộn bề của công việc, gần như tất cả dành cho mối tình mà họ hằng nhung nhớ, để rồi người con gái ấy cũng cảm nhận được hạnh phúc khi được nắm tay người lính...
          Tôi từng có những mùa đông không kém phần lãng mạn, bên Hồ Tây, Hồ Gươm, Công viên Thủ Lệ...Được sánh vai dạo bước cùng những “bóng hồng” xinh đẹp là những sinh viên sư phạm 18 đôi mươi. Tuy đó không phải là tình yêu, nhưng người lính như tôi có được cái na ná như tình yêu cũng cảm thấy hạnh phúc lắm rồi! Làm sao có thể quên được ánh mắt, nụ cười, những cái lúm đồng tiền đáng yêu đến vậy! Mùi tóc hương nồng nàn, hay mùi hương hoa sữa, “mùi cốm xanh rì” cứ trộn lẫn trong tâm hồn tôi như một bản nhạc hòa tấu không lời. Để rồi giờ đây đã hơn 20 năm xa Hà Nội, vẫn còn cảm nhận như mới hôm qua khi những phút giây chạnh lòng nhớ về Hà Nội!
          Chiều đầu đông lại ùa về, khi đọc báo thấy đưa tin người Hà Nội đang thao thức canh thâu, quyên góp vật lực để gói những chiếc bánh chưng xanh gửi về miền Trung khúc ruột mềm yêu thương đang trong cơn bão, lũ. Cảm xúc trong tôi lại dâng tràn niềm tin yêu Hà Nội, dẫu tôi đã rời xa rồi Hà Nội “vắng những cơn mưa”, cũng không còn cơ may để ngắm những cây “hoa sữa thôi rơi” bên đường phố Nguyễn Du...Có lẽ, khi con người xa đi kỉ niệm mới cảm nhận hết sự nhớ nhung, luyến tiếc! Chợt nhớ câu thơ của Nhà thơ Chế Lan Viên: “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”...Chỉ có nỗi nhớ len lỏi trong tôi khi mùa đông lại về!...
                                                                                     
Đêm 21.10.2020
                                                                                                VVT

Chùm thơ của Võ Văn Thọ
 
GIẤC MƠ...
 
Trong giấc mơ, quờ tay chạm kí ức
Máu tươm ra, năm tháng chẳng thể lành
Cơn lốc màu da cam
Tuyệt vọng ư? Vậy thì hèn.
 
Nghe tiếng dế mách bảo
Đừng nghe con thạch thùng tặc lưỡi rồi bỏ đi
Những chùm sim chín chợt hiện về trên đồi lộng gió
Trái me chua, sao ai cũng phải thèm?
 
Lục tung giấc mơ, tìm con chữ
Đánh rơi khỏi bộ não rồi sao
Đêm hoặc huyễn...
Tìm lại mình, nhớ, quên...
 
Khắc khỏi cơn giông, trách than cơn bão lũ
Dự báo với mây, nghe sấm chớp đầu nguồn
Giấc mơ lạc vào cánh đồng hoang hoải
Cánh cò chưa về. Những khóm trúc chờ mong...
 
Và mưa xối xả, lạnh cả bờ vai
Đêm dài khảo tra, cơn gió lạnh lùng, hun hút thổi
Có phải đông đã về, mới sực nhớ thu đi...
Những chiếc lá xanh rơi, như nhác dao găm vào tim rỉ máu
 
Giấc mơ đứt gãy
Sực tỉnh, bàng hoàng
Mắt ngóng về miền cổ tích...hư không!
Giấc mơ thành phế tích, đêm tịch liêu...
 
Đêm 12.10.2020
 
 
VỊN VÀO KÍ ỨC
 
Dòng sông vịn vào đôi bờ
Mặt trăng vịn vào vòng quay
Sự sống trái đất phụ thuộc hệ tuần hoàn
Lúc buồn!
Con người vịn câu thơ đứng dậy!
 
Thao thiết bờ lau với ánh trăng gầy
Miền hoang lạnh, tìm hơi ấm của lửa
Khi trượt dốc mới biết còn ở tầng đáy
Vịn đam mê, bản ngã, đứng lên từ khát vọng
 
Lời khen không nên nhận vội
Sự chê trách chưa hẳn là xấu, đừng tự ti
Hãy sống có hoài mong và giấc mơ ...
Khi đã cố gắng đến hết khả năng rồi hãy vịn
 
Trong bóng đêm hãy nhìn phía có tia sáng
Đừng bao giờ đánh mất niềm tin
Mùa xuân sẽ đến ước mong, hy vọng
Hãy tin, hãy yêu và chờ đợi..
 

NÓI VỚI CƠN BÃO,LŨ
 
Miền Trung ngập tràn trong bão, lũ
Dòng nước dâng vần vũ
Trắng đồng, trắng đường, màu khăn tang
Sự sống con người ngụp lặn trong lũ dâng
 
Người miền Trung cam trường, gian khó
Chống chọi thiên nhiên, trụ bám mảnh đất tình người
Nghe man man tiếng lòng, mùa nước nổi
Cửa nhà lạnh cóng, bếp lửa buồn chẳng thể reo
 
Trẻ em nhìn con chữ ướt mèm
Nổi dềnh dàng trên dòng nước xiết
Trắng tay, con nước bủa vây
Sơn Tinh buồn bỏ đi vì rừng như sa mạc
 
Thủy Tinh mặc sức hoành hành
Chỉ còn lại chúng sanh
Lịch sử chuyện huyền thoại thành cổ tích?.
Vắt cạn niềm thương!...
 
                  VVT
 

                                       Xóm bên sông

                                                                                                       Truyện ngắn của Võ Văn Thọ

      Liên nước mắt ràng rụa, cố gạt những giọt buồn nóng hổi tâm sự với An. Từ ngày Xóm Bên Sông đặt ra “luật, lệ” làng, tình cảm đôi lứa bị cách ngăn. An nhìn sâu vào đôi mắt đẹp như hút hồn, vỗ về, an ủi Liên. Hãy yên tâm...! Chẳng lẽ, đành phải chấp nhận vậy sao? Biết khi nào trai làng Xóm Bên Sông mới thức tỉnh, bỏ đi cái luật cói ác như “ngăn sông, cấm chợ”, để cho trai tráng đến tuổi yêu đương được tự do tìm hiểu, đi đến hôn nhân như mong đợi...

                                               
                                                                                                      Minh họa của NLĐ

       Đêm đã khuya, tuy nhiên trên “vọng gác”, đầu đường vào làng Xóm Bên Sông, ánh đèn pin vẫn còn rọi ngang, dọc, cứ như tia chớp mưa giông, hết xa, rồi lại gần. Có lúc 10 phút, 15 phút, nhưng có khi 5 phút, ánh sáng quét vệt dài từ đèn pin con Ó, làm chói mắt những ai đi đường ngược với ánh đèn pha. Chỉ có dòng Sông Trầu gần đó, con nước với dòng chảy ngược vẫn rì rào, róc rách chảy không biết mệt mỏi suốt tháng năm.

Ngày ấy, chưa có cầu bắt ngang qua sông, nên việc đi lại của người dân Xóm Bên Sông phải xắn quần quá gối lội qua đoạn sông, không lớn, không sâu. Ban ngày thì dễ đi, trừ trẻ em phải có người lớn cõng. Nhưng ban đêm qua sông thì bất tiện. Nếu không có đèn pin, dễ xảy ra trượt chân là ngã té. Chỉ trừ khi, những ngày có trăng sáng, soi rõ mặt sông. Còn về mùa lũ, thì người dân như bị cấm vận. Con nước lớn chảy xiết, hùng hổ cứ như chực cướp đi sinh mệnh của bất cứ ai muốn qua sông, cho dù biết bơi. Chính vì vậy, mà bạn bè của Ta ở Xóm Bên Sông về mùa đông khi có bão, lũ thường phải nghỉ học một vài ngày, chờ cho nước rút. Sau khi bão, lũ đi qua mới có thể quay lại trường. Còn khi đang bão, lũ cho dù đứng bên tê, nhìn thấy Xóm Bên Ny cũng đành chịu.

Chuyện “ngăn sông, cấm chợ” hay nói chính xác là do Xóm Bên Sông đặt ra “luật lệ”, không cho trai nơi khác đến tán gái của Xóm Bên Sông, xuất phát từ nguyên nhân sâu xa:

- Ngày đó, không biết do trời phú hay do thường hay tắm dòng nước Sông Trầu, hay nguyên do nào đó...Mà đa số con gái Xóm Bên Sông cứ phổng phao, xinh đẹp, môi hồng, da trắng, mũi dọc dừa, má lúm đồng xu, mái tóc dài nhung huyền, kiều diễm. Cứ như những đóa hoa rừng, ngào ngạt sắc hương! Nên các chàng trai làng nào trong các xã khi đã một lần được gặp, được trộm nhìn, cũng muốn đưa tay ra hái những bông hoa là những bóng hồng xinh đẹp nhất. Trừ những người có gen phê bê (bê đê).

Chính vì có “sắc nét, hương trời”, nên đa số các em gái Xóm Bên Sông thường hay “kiêu”, muốn chọn mặt gửi vàng những nơi tương xứng, hay còn gọi “môn đăng, hộ đối”, nên các anh trai làng trong Xóm Bên Sông rất khó tán tỉnh, để đi đến hôn nhân. Do vậy, các chàng trai mới có kế sách, “không lấy được thì khuấy cho hôi”, tức thống nhất đặt ra “luật, lệ” riêng:

- Trai làng nơi khác không được đến tán gái làng Xóm Bên Sông. Nếu ai vi phạm sẽ bị cảnh cáo lần 1, lần 2 sẽ bị nhận nước, lần 3 tất nhiên là bị trai làng đánh cho nhớ đời. Không còn dám lén lút vi phạm. Luật này kéo dài mấy năm liền, làm cho các em gái trong xóm khi đến tuổi yêu đương chỉ còn cách yêu và lấy trai trong Xóm Bên Sông. Còn không yêu được thì coi như ở giá. Chứ không thể vượt “luật, lệ” của Xóm. Thật giống như câu nói: “Phép Vua thua lệ làng”!

Ngày ấy Ta còn tuổi choi choi, mới học cấp 2, nên “luật, lệ” đặt ra với Ta cũng như không. Chỉ tội cho mấy anh thanh niên của các xã: Bình Lâm, Quế An...muốn đến tán gái Xóm Bên Sông coi như không có tia hy vọng. Trừ anh nào khôn khéo, có bước đi tâm lý, lấy được lòng Trưởng nhóm - Xóm Bên Sông, thì mới được đặt trách đi lại tự do hơn, để tìm hiểu yêu đương đối tượng đã báo cáo và được Trưởng Xóm cho phép. Trường hợp này không nhiều, tính trên đầu ngón tay.

                                                   **

          Ngày ấy, để đáp lại quy định hà khắc của Xóm Bên Sông, thì trai làng ở các xã: Bình Lâm, Quế An...cũng chẳng vừa, hễ cứ thấy trai làng của Xóm Bên Sông hay Xóm Bên Ny sông còn gọi Xón Bên Đường mà đến các xã của họ tán gái, hay đi thăm bà con, người thân...Là bị nhóm thanh niên của các xã nêu trên phản đòn, chỉ trừ đàn bà và trẻ em thì họ không đụng đến. Nên lúc đó mới có câu thơ truyền miệng đặt ra: “Đàn bà con nít thì tha/ Thanh niên, phụ nữ chẳng tha đứa nào”. Bị tấn đánh tại các địa điểm huyết mạch trên các con đường tỉnh lộ như: Dốc Bà Giáo, Đập Con Bò. Chính vì mâu thuẫn không được giải quyết một thời gian dài, nên người dân ở các xã trong huyện và liên huyện Quế Sơn, Thăng Bình rất lo lắng. Chỉ mong các cấp  chính quyền đứng ra giải quyết, để xóa đi nỗi hận thù không đáng xảy ra. Tuy nhiên, chính quyền cũng rất khó xử lý, vì là “luật, lệ” riêng đặt ra, và họ làm lén lút. Hơn nữa, những năm đầu mới giải phóng, lực lượng công an, chính quyền còn mỏng, chưa đủ con người và phương tiện để trấn áp.

          Chuyện thời bình mà cứ như thời phong kiến, như Tiểu thuyết là vậy. Ta còn nhớ, tác phẩm văn học “Vợ chồng A Phủ” của Nhà văn nổi tiếng Tô Hoài đã đề cập các nhân vật như: Mỵ, A Sử và A Phủ. Mỵ là cô gái xinh đẹp, nết na bị bắt làm con dâu gạt nợ của Nhà Thống Lí. Mỵ làm vợ của A Sử, nhưng không có tình yêu đích thực, Mỵ bị đánh đập tàn nhẫn. Sau này, Mỵ gặp được A Phủ cùng cảnh ngộ, nên Mỵ đã nảy sinh tình yêu đích thực và Mỵ bỏ trốn về làm vợ A Phủ, là vậy.

                                                                       ***

          Mặc dù luật lệ đặt ra là vậy, nhưng trai làng Xóm Bên Sông cũng không thể “mặc áo quá đầu”, đa số con gái Xóm Bên Sông cũng không chịu yêu và lấy trai làng khi không có tình yêu; thà họ ở giá, làm “ma không chồng”, chứ không lấy người mình không yêu. Tất nhiên, vẫn có những cô gái chọn trai làng Xóm Bên Sông để “kết tóc, se duyên”, vì có tình yêu thật sự và quan niệm theo câu ca dao: “Trâu ta ăn cỏ đồng ta”/ Bao giờ hết cỏ mới ra đồng ngoài. Cũng rất may, sau này lớp trẻ hơn có nhận thức đúng đắn và thời gian sau đó mấy năm, do sự tác động của các cơ quan chính quyền, đoàn thể trong xã, huyện. Nên trai làng Xóm Bên Sông có nhận thức đổi mới, tự nguyện từ bỏ “luật, lệ” do họ đặt ra. Các trai tráng ở các xã khác được tự do đi lại, tìm hiểu con gái Xóm Bên Sông và yêu thương nhau khi đến tuổi hôn nhân. Đời sống văn hóa, văn minh được cải thiện, đổi mới; không còn tình trạng “ngăn sông, cấm chợ” như trước đây.  Âu cũng là điều mà người dân mong muốn!

          An và Liên đã kiên trì trong tình yêu đôi lứa và đã đi đến ngày trái ngọt. Sau này, nhiều thanh niên trai gái trong làng Xóm Bên Sông, Xóm Bên Ny sông, các xóm khác trong các xã trong huyện và liên huyện được tự do đi lại, tìm hiểu, giao lưu. Không còn ai ngăn cấm! Chuyện An và Liên như là hình mẫu cho câu chuyện tình yêu đôi lứa. Nếu ai đó thật lòng, có niềm tin, có tình yêu đích thực, thì tất có ngày đi đến bến bờ hạnh phúc. Không có bất cứ khó khăn, “luật, lệ” nào mà không thể không vượt qua. Ngày Xóm Bên Sông thu hồi “luật, lệ” tự đặt ra, cũng là ngày giao mùa giữa thu và đông năm ấy, cách đây đã 40 năm. An người con trai của xã Bình Lâm được sánh duyên với Liên người con gái của Xóm Bên Sông - xã Quế Thọ. Và sau này, hai người là cặp đôi hạnh phúc mỹ mãn...

          Giờ đây, khi trở lại làng quê đường sá rộng mở, những con đường làng nhỏ, heo hút, ổ gà, ổ trâu mưa bùn, nắng bụi ấy, đã được thay thế bằng những con đường bê tông bóng loáng. Việc đi lại của người dân, trong xóm, làng rất thuận tiện. Nhiều Cây cầu bắt ngang qua con Sông Trầu để sang Xóm Bên Sông êm ái, rộng mở. Luôn sẵn sàng đón mọi người đến với quê hương, đến với tình yêu bốn mùa cây trái, xanh tươi và tràn đầy niềm tin ở tương lai phía trước.

Ta viết lại câu chuyện cách đây gần nửa thập kỷ không có ý phê phán hay chê trách quê hương, mà càng yêu hơn quê hương, mảnh đất tình người nơi “chôn nhau, cắt rốn”. Hoài mong sẽ không có bất cứ “luật, lệ” nào đi ngược lại mong mỏi, ước muốn của người dân quê hương Ta!

                                                                   Quê nhà, cuối thu tháng 10.2020
                                                                                           V.V.T

                                                                                                 
                                                   Chuyện làng tôi

                                                                                                                                 Truyện ngắn của Võ Văn Thọ

     Ông Hội không phải là người theo chủ nghĩa duy tâm, không tin đồng bóng, bói toán. Nhưng ông cũng không thuộc chủ nghĩa duy vật, đập phá đền thờ, miếu, khóm như một số người theo cộng sản đến mức có suy nghĩ cực đoan. Cứ phải dẹp bỏ mọi hình thức thờ cúng đã có từ lâu đời, mới chứng tỏ mình là cộng sản chân chính, mới là người theo cách mạng triệt để.

*

Sau năm 1975, phong trào chống mê tín dị đoan được đặt lên hàng đầu. Coi mê tín, dị đoan như một trong những thứ “giặc nội xâm” cần dẹp bỏ. Nhằm thực hiện đúng chủ trương của Đảng, Nhà nước ta. Vì mê tín dị đoan tức là đồng bóng, bói toán là cơ hội cho những thủ tục lạc hậu có đất sống. Một số người không chịu lao động, lợi dụng lòng tin của con người, đứng ra tự xưng danh là thầy bói, để lừa lọc, lấy tiền của bất chính của người lao động, gieo rắc sự hoang mang, làm cho con người thụ động, không chịu lao động, tin vào số phận, há miệng, "nằm chờ sung rụng"...Tuy nhiên, cần phân biệt mê tín dị đoan với việc thờ cúng tổ tiên, đền thờ, miếu, khóm. Vì việc thờ cúng tổ tiên, các vị thần như: Thần Núi, thần Sông, thần Làng, thổ Địa, thần Nông... là bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam có từ ngàn đời nay. Không nên, lợi dụng việc chống mê tín dị đoan, để đập phá đền thờ, miếu, khóm. Vì ông bà ta đã đúc kết từ thực tế kinh nghiệm ngàn đời nay mới có câu tục ngữ, thành ngữ: " Có thờ có thiêng, có kiên có lành", sống sao, thác vậy. Không nên "vơ đũa cả nhắm", để rồi làm những điều trái với lương tâm con người!

Ngày ba tôi còn sống ông nói với tôi:

- Những người theo Đảng trong kháng chiến rất kiên cường không sợ địch, cũng không sợ hy sinh...Tuy nhiên, sau ngày giải phóng, không ít người lại nặng duy tâm, tin vào bói toán, rồi về lập khóm để thờ vong linh, thần hồn. Nên bị chi bộ kiểm điểm phê bình nặng mề lắm. Có người lỡ lập khóm rồi, khi bị phê bình, sợ không dám tháo khóm. Người đứng ra, phê bình cũng chưa hẳn dám tháo khóm thờ. Nên chỉ khuyên người lỡ lập khóm, nên tìm vật gì đó che đậy cho kín lại và không cúng quảy nữa. Nếu để nhân dân nhìn thấy, thì làm sao làm gương, nói người dân nghe. Vì có câu:

-"Đảng viên đi trước, làng nước theo sau". Nếu đảng viên không gương mẫu, sức mấy nói người dân nghe. Đúng là tiến thoái lưỡng nan khi cán bộ, đảng viên còn tin vào mê tín, dị đoan.

Tìm hiểu lý do trên, được biết:

- Trường hợp ông Hội chẳng hạn. Ông Hội theo kháng chiến, từ hồi cướp chính quyền, trước cách mạng  tháng Tám 1945. Kháng chiến chống Pháp, Mỹ, ông đi bộ đội, đánh giặc rất giỏi. Sau giải phóng ông mới lập gia đình với một người phụ nữ là thanh niên xung phong. Tuy nhiên, vợ chồng ông trông mong mỏi mắt vẫn không đậu thai, cứ được 2-3 tháng là bà Liên vợ ông lại trôi thai, chưa kịp mừng đã phải ngậm nỗi buồn. Nên ông tìm đến đình chùa, miếu để khấn xin thánh thần cho ông một đứa con, khi tuổi già sắp ập tới. Chính vì vậy, nói ông mê tín dị đoan cũng chưa hẳn đúng. Nhưng nói ông vô thần cũng chưa hẳn là vậy.

Nhưng lý do chính, sau này ông mới biết là do ảnh hưởng chất độc da cam (đi ô xin) chứ chẳng phải ma, quỷ thánh thần nào ám hại. Cũng chẳng có ông thầy bói nào chữa được căn bệnh của vợ ông. Nên lúc đó, việc chi bộ thôn phê bình ông Hội là đảng viên mà mê tín nhị đoan cũng chưa thỏa đáng.

Ba tôi cũng nói, những năm đầu sau giải phóng, thống nhất đất nước, có một số cán bộ, đảng viên chống mê tín, dị đoan quá mức, họ đứng ra đập phá miếu, khóm thờ đã có từ thời xa xưa. Nhưng kết quả là không có hậu. Không lâu sau, họ bị tại nạn, bị bệnh điên, khùng, mất trí...Nên có thể nói giữa chủ nghĩa duy tâm và duy vật chưa ai thắng ai. Đấy là suy nghĩ của ba tôi. Nhưng sau này tôi thấy có lý. Và khi được học môn triết học thì điều đó là chính xác như vậy.

     Theo quan niệm của ba tôi: "Sống cái nhà, già cái mồ". Nên ông luôn ý thức việc tu tảo thần mộ của ông bà, họ hàng, kể cả những vị mồ mả của những vong linh chết do chiến tranh và các vị liệt sỹ "vô danh" chưa xác định được tên tuổi chôn trong vườn, bằng cách hàng năm đến tháng chạp là ông giẫy cỏ, đắp thêm đất vào mộ, thắp hương tưởng nhớ. Không để các ngôi mộ mai một bởi mưa lụt xói mòn, lạnh lẽo. Vậy thì có lý do gì để phải đập các đình, miếu, khóm thờ đã có từ thời xa xưa...

                                             

     Hồi đó, tôi còn nhớ, ba tôi rất thích nuôi chim bồ câu. Ba làm chuồng chim rất đẹp, được đặt lên chán ba của cây trong vườn trước nhà. Ông nói, con chim có tổ như ta, có nhà. Tôi rất thích ngắm chim bồ câu, cứ mỗi sáng khi bình minh thức dậy, ông mặt trời khoe ánh nắng vàng ươm, là những con chim bồ câu bay đi thật xa kiếm ăn, trưa hoặc chiều, khi hoàng hôn buông xuống, chim bồ câu lại bay về tổ. Có điều lạ chim thường hay dẫn thêm bạn về sinh sống. Nên chuồng chim, cứ thế đông thêm. Tôi tò mò, hỏi ba, thì ba cho rằng:

- Giống chim bồ câu là vậy đấy, nó luôn mang theo thông điệp hòa bình, an lành, thịnh vượng cho gia đình, đó còn là dấu hiệu việc "đất lành chim đậu". Nhưng nếu, người nuôi chim không có lương tâm, làm điều ác, thì không nuôi được chim bồ câu. Có cố nuôi, thì nó cũng bỏ nhà ra đi, nhập đàn mới nơi khác. Hóa ra, việc nuôi chim bồ câu còn có ý nghĩa về triết lý sống. Luôn nhắc nhở con người hướng thiện sống nhân ái.

Ba tôi nói:

- Ngày ấy, do quan điểm còn lệch lạc, nên “thà bắt nhầm hơn bỏ sót”, na ná như việc tiến hành “Luật cải cách ruộng đất” ở miền Bắc vào năm 1953. Sau này, Bác Hồ phải lau nước mắt để sửa sai, vì cán bộ cấp dưới thực hiện không đúng sự chỉ đạo của Bác, nên một số đền, miếu, khóm thờ ở quê tôi bị tháo giỡ một cách không thương tiếc. Vì bị gắn ghép cho đó là thủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, đi ngược với chủ trương xây dựng đời sống, nếp sông văn minh. Nhưng kỳ thực, đó là việc làm chưa đúng ở thời điểm sau ngày giải phóng niềm Nam, thống nhất đất nước.

Sau này, đời sống người dân khá hơn trước, người dân quê tôi không quên từng bước trùng tu, phục hồi, tôn tạo lại những đền thờ, miếu, khóm bị chiến tranh tàn phá hoặc bị bàn tay con người tháo giỡ do nhận thức chưa đúng. Đó cũng là việc thực hiện đúng chủ trương bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa của vùng quê xứ Quảng nói riêng, đã đi vào lịch sử từ ngàn xưa. Vì nó đã đi vào thơ văn như là tiền định:

- “Mái chùa che chở hồn dân tộc/ Nếp sống muôn đời của tổ tông”...

Chuyện ông Hội, sau này không còn xem là chuyện mê tín dị đoan. Và ông Hội đã tìm được niềm vui khi bắt đầu nuôi chim bồ câu. Có lẽ những con chim bồ câu như là “bồ câu đưa thư” trong những năm tháng kháng chiến, chiến tranh; luôn là niềm vui, là thông điệp để chuyển tải, gửi gắm những niềm ước mơ, niềm hạnh phúc đến những phương trời mới. Khi những khát khao, ước mong, niềm đam mê, hoài vọng nhờ cánh chim câu gửi lên bầu trời hòa bình rộng mở...

                                                                                                           

                           Quê nhà, cuối thu 2020. VVT

                                                                                              

                   Phim màn ảnh rộng

                                                                   Truyện ngắn của Võ Văn Thọ

 

          Thời còn Hợp tác xã, cứ chiều chiều khi tiếng lua phát thanh: Alo, alo...bà con chú ý. Tối nay vào lúc 19 giờ 30’, tại sân bãi Hợp tác xã...Đoàn chiếu bóng của huyện nhà...sẽ chiếu cho bà con một phim đặc sắc. Đây là bộ phim truyện màu ...của Liên Xô. Alo, alo chúng tôi xin thông báo...Trân trọng mời bà con dàn xếp công việc, để có mặt đông đủ tại sân bãi sớm nhất. Chọn cho mình một chổ ngồi thích hợp, tiện theo dõi trọn tập phim hay này. Trân trọng kính mời bà con, các em thiếu niên...đón xem!

*

Rứa là, buổi chiều hôm đó háo hức vô cùng. Tranh thủ cắt thêm cỏ trong vườn, ngoài đồi để cho trâu, bò ăn chóng no, còn về sớm tắm rửa, cơm nước, để tối đến cuốc bộ ra sân Hợp tác xã sớm, chọn cho mình chổ ngồi thích hợp là “thủ mấy cục gạch”, để kê lên và ngồi chính giữa sân, để theo dõi phim và dễ quan sát: “Từ màn ảnh đầu, đến màn ảnh cuối”.

Hồi đó, đoàn làm phim thường bán và xé vé trước khi vào cổng. Vấn đề, là phải có tiền để mua được vé vào cổng. Thời điểm đó khó khăn, nên xin được cha mẹ cho tiền mua vé đi xem phim là cả một vấn đề nan giải. Cho nên, phải làm tốt công việc phụ giúp gia đình đâu vào đấy, để lấy được niềm tin của gia đình. Ba mẹ thương mới cho tiền mua vé xem phim.

Còn nếu, không làm tốt việc phụ giúp gia đình, thì có xin ba mẹ cũng không cho tiền. Đó cũng là cách hay, để khuyến khích con cái có trách nhiệm với gia đình, có tinh thần trách nhiệm: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ”, “tùy theo sức của mình” như 5 điều dạy của Bác Hồ kính yêu!

Có đợt, nhân dịp kỉ niệm ngày Lễ giải phóng miền Nam thống nhất đất nước - ngày 30.4, hay Lễ quốc khánh - ngày 2.9, đoàn chiếu phim khuyến mãi cho trẻ em được xem phim không phải mua vé, thì thích ơi là thích. Bọn trẻ nhỏ trong xóm chúng tôi nhảy cẩng lên reo hò, vì không phải lo nghĩ việc xin tiền cha mẹ.

Hồi đó, tôi thích nhất các bộ phim truyện về đề tài chiến tranh như: “Hoa Ban Đỏ” - nói về cuộc chiến Điện Biên Phủ; “Em Bé Hà Nội”, “Cánh Đồng Hoang”, “Hòn Đất”...; “Ván Bài Lật Ngửa”, “Biệt Động Sài Gòn” nhiều tập - nói về các chiến sỹ biệt động Sài Gòn hoạt động trong lòng địch, để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sau này, có thêm phim mới ra đời là “Đất Mẹ”- nói về cuộc chiến tranh biên giới Phía Bắc chống Trung Quốc xâm lược rất sinh động, hào hùng; hay các bộ phim huyền thoại “Russian” còn gọi là Rút Lan và phim truyện màu chiến đấu nhiều tập của Liên Xô viết về cuộc chiến Vệ quốc vĩ đại của Hồng quân Liên Xô chiến thắng Phát xít Đức, trong chiến tranh thế giới thứ 2...Những kỉ niệm đó ăn sâu vào tiềm thức trẻ thơ tôi, làm sao có thể quên đi được.

Kỉ niệm, chui bờ rào quanh sân của Hợp tác xã được rào bằng phên tre. Nhưng bị mấy chú du kích xã trong đó có chú Mãi ở thôn Phú Cốc phát hiện tôi và nhiều lần xách tai lên “cảnh cáo” vì cái tội chui rào, như tội “trốn thuế” nhà nước. Nên tôi vẫn còn nhớ y nguyên. Vì không có tiền mua vé vào xem phim, đành phải làm liều, để thỏa mãn nhu cầu như món ăn của đời sống tinh thần lúc đó.

Hồi đó, còn nhớ như in: Anh Dương Đình Ngạt, sau này là Nhà thơ với bút danh “Thái Bảo Dương Đình”. Anh đẹp trai, cái miệng nói có duyên, thuyết minh phim rất hay, rất có hồn. Với giọng đọc thuyết minh trong trẻo, ấm áp, truyền cảm. Trước khi vào phim chính, anh thường ngâm, đọc bài thơ tình nổi tiếng “Những phút xao lòng” của Nhà thơ Thuận Hữu có đoạn:

“Có thể vợ mình xưa cũng có một người yêu

(Người ấy gọi vợ mình là người yêu cũ)

Cũng như mình thôi, mình ngày xưa cũng thế

Yêu một cô, giờ cô đã có chồng...”

“Ai cũng có những phút giây ngoài chồng, ngoài vợ

Ai cũng có một thời để yêu và một thời để nhớ

Ai cũng có những phút giây ngoài chồng ngoài vợ

Đừng trách nhau chi những phút xao lòng!”

Tôi thích chi là thích, rồi tự cảm bản thân mà chạnh lòng, thầm nhủ: Cái ông Nhà thơ ni đúng là nói hộ lòng người. Hóa ra, tôi xin bật mí:

 - Tuy là trẻ trâu, nhưng tôi cũng thầm thương, trộm nhớ một người con gái trong xóm thôn. Nhưng đâu có đủ can đảm để nói thương người ấy. Nên được nghe bài thơ “Xao Lòng” giống cái na ná của mình, nên thích vậy thôi!...

                                                **

Còn chuyện trêu gái thời trẻ trâu của lũ nhỏ chúng tôi cũng đáng nhớ lắm chứ. Mấy đứa bạn con nít chúng tôi, chiều về khi hoàng hôn sắp buông xuống, khi những con trâu, bò bụng tròn trịa, ung dung về chuồng, khi những cánh cò trắng lả lơi bay về bờ tre làng sau một ngày chúng đi thực tế, trải nhiệm. Bọn trẻ chúng tôi cùng nhau lội xuống ruộng vừa gặt hoặc dạo trên bờ ruộng lúa chín chưa gặt. Để bày trò bắt cào cào, châu chấu, rồi cho vào cái chai đựng nước và cho vào trong chai một ít phân trâu, bò còn tươi. Sau đó, đút nút bằng lá chuối khô hoặc cùi bắp cho cào cào, châu chấu không bay ra được.

Đây là vũ khí hữu hiệu, để thỏa mái được cười gòn tan khi có các đoàn văn công về sân Hợp tác xã lưu diễn. Chọn thời điểm, có đám đông nhiều người xem phim, xem hát bộ hoặc hát tuồng cải lương trong đêm. Lúc đó, chỉ cần, bật mí mở nút chai ra, thì chao ôi! Châu chấu, cào cào bay, nhảy tung ra, đem theo hương vị phân trâu, bò dính vào người xem, làm mọi người tá hỏa vì không biết ở đâu ra cái mùi đặc trưng. Thế là cả lũ trẻ được trận cười vỡ bụng.

Tôi còn nhớ, hồi đó do xem phim ngoài trời, nên trời mưa nắng cũng rất thất thường, có hôm chưa kịp mừng, đã mua được vé vào xem phim, đang xem một hay, thì trời đổ mưa to. Đoàn chiếu phim không thể chiếu tiếp phải tạm dừng, bọn trẻ phải ra về mà cả đêm ấy tôi luyến tiếc như “đứt từng đoạn ruột”. Thật đúng như người đời thường nói, con cá sẩy là con cá to; một cuốn tiểu thuyết hay thì chỉ đọc nửa chừng. Để rồi tiếc nuối! Chơi vơi...

Cảm động nhất, mẹ tôi cứ mỗi lần đi xem phim hay hát bộ, đặc biệt là các vở tuồng cải lương như: “Phạm Công Cúc Hoa”, “Thoại Khanh Châu Tuấn”, “Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài”; “Mỵ Châu Trọng Thủy”...Cứ đến đoạn diễn xúc gay cấn là đôi mắt mẹ tôi lại ngân ngấn lệ rơi. Lúc đó tôi hỏi mẹ:

 - Sao mẹ mau nước mắt vậy?

Mẹ nói:

- Mẹ thấy cảnh tượng diễn cứ như thật, xúc động quá, không cầm được nước mắt!

Nhưng thật ra, tôi cũng chẳng khá hơn mẹ. Hai khóe mắt tôi đã nóng hổi. Và tôi quay mặt giấu, gạt đi những giọt nước mắt. Vì lúc đó tôi đã ý thức được rằng:

- Đàn ông con trai mà khóc là người yếu đuối, không thể chấp nhận được!

          Ấn tượng nhớ lâu của tôi là Đoàn cải lương Sông Hương về lưu diễn 1 tuần. Do các diễn viên chuyên nghiệp của đoàn diễn những vở tuồng cải lương quá hay. Nên ba tôi thay mặt gia đình ra quyết định: Trích mấy tạ sắn khô, để cả gia đình được thưởng thức nghệ thuật. Với tôi, lúc đó rất thích tiết mục thay đổi không khí của đoàn “Chú hề” bay 7 vòng trên sân khấu là hấp lực nhất.

Sau này, không được xem đoàn diễn nữa. Nghe đâu, do quá nổi tiếng nên đoàn đã vượt biên sang Mỹ để diễn cho kiều bào. Và chẳng may chuyến đi đó bị sóng to, gió lớn ngoài khơi cuốn đoàn đi mất! Tiếc ơi là tiếc!

                                                         

          Bây chừ, tôi đã thành đứa trẻ lâu năm, nên tôi lại chạnh nhớ:
          - Ngày ấy đâu rồi?...
          - Ngày ấy tuổi thơ tôi!
          - Cho tôi nhặt lại?...Tháng ngày tuổi thơ!
Vâng đúng như vậy. Chạnh nhớ bài thơ “Quê  hương” của Nhạc sỹ Đỗ Trung Quân đã viết:
- “Quê hương là gì hả mẹ/ Mà cô giáo dạy phải yêu?”; “Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi”...

Chuyện xem phim màn ảnh rộng ngày xưa, nay chỉ còn trong kỉ niệm, tiềm thức mỗi khi chạnh lòng nhớ về quê hương, nhớ về một thời trẻ trâu. Ngày nay, thời công nghệ 4.0, đất nước phát triển không ngừng; những đứa trẻ bây giờ có điện thoại thông minh để truy cập biết nhiều thứ...Tuy nhiên, sao có được, biết được về một thời mà ba mẹ nó đã sống và sống như thế đó.

 Tôi muốn viết lại những kỉ niệm đẹp để lưu giữ, trân trọng và hoài niệm về thời tuổi thơ sống trong thời kỳ chưa đổi mới. Để thấy rằng, nếu không có quá khứ thì làm sao có hiện tại. Nếu không có hiện tại, thì làm gì có tương lai? Đúng như Tổng thống Putin đã nói với đại ý: Nếu ai đó muốn quay lại quá khứ là không tưởng; nếu ai đó quên quá khứ là người không có trái tim. Tôi không lấy lý do ấy để biện hộ. Chỉ muốn viết lại “thước phim chiếu chậm”, kỉ niệm tuổi thơ hồn nhiên, một thời tôi có được!...

 
 
                                                              Quê nhà, sắp cuối thu 2020. VVT                                                                                      
                                                                 
  Võ Văn Thọ

TAM KỲ
 
Hai mươi năm ở Tam Kỳ
Với bao kỉ niệm rất chi ngọt mềm
Phố tôi ngày một đẹp thêm
Như nàng tiên nữ bên thềm hoa xuân
 
Tam Kỳ lưu nhớ bước chân
Những địa danh cứ bâng khuâng lòng người
Tượng đài mẹ Thứ ngàn đời
Như dòng sữa ngọt, bời bời nhớ thương
 
Tam Kỳ, Bàn Thạch, Trường Giang
Ba sông chở nặng đò ngang bến bờ
Làng Bích Họa tựa hồn thơ
Về đây lòng phố ngẩn ngơ mắt tình
 
Tam Thanh biển đẹp lung linh
Em về với phố ngắm bình minh lên
Thì thầm xin được gọi tên
Tình ta mãi đẹp bén duyên Vườn Cừa
 
Xuân về dạo phố ngắm sưa
Bằng lăng sắc tím đong đưa hạ về
Tam Kỳ phố trẻ mẫn mê
Bỏ bùa trong mắt! Cà phê đợi người...
                              
     
THÁNG CHÍN...
 
Tháng chín về, tháng chín đi
Nghĩa là thu sắp phân li giao mùa
Đông sang cái lạnh gió lùa
Tạ từ thu chẳng hơn thua sự đời
 
Nghe mưa tâm sự những lời
Từ trong tâm khảm bời bời nhớ vương
Đời người như những hạt sương?
Long lanh trên khắp nẻo đường chông chênh
 
Trường sinh trên mọi thác ghềnh
Sau này về với bồng bềnh mây trôi
Còn vương suối tóc, bờ môi
Là còn hoài vọng tinh ngôi cuộc tình
 
Thì thầm bên khóm trúc xinh
Ánh trăng khuyết vẫn lung linh nhiệm màu
Lắng nghe vọng tiếng còi tàu
Muốn dang tay đón sắc màu hanh hao...
 
                                 Tháng 9.2020
        

 

Hương bồ kết

                                                                     Truyện ngắn của Võ Văn Thọ


 

Còn thương hương kết, hương chanh

Tình còn kết trái mãi xanh cây đời!

 

Vâng đúng như vậy. Những ai đã từng gội mái tóc dài óng ả ngang lưng của một thời con gái, những ai đã vướng phải hương kết, hương chanh, rồi thầm thương, trộm nhớ, bỏ đi sao đành! Khi mùi thơm hương kết nhè nhẹ, nhưng thấm sâu vào từng chân tơ, kẽ tóc. Khi làn gió mùa thu bất chợt trêu đùa trên mái tóc mẹ tôi, chị tôi...

*

Ngày ấy đâu rồi? Khi đêm về bên bến sông thương, bên mảnh vườn thoang thoảng hoa cau, hương chanh, hương bưởi. Hàng tuần mẹ, chị tôi lại cùng nhau gội mái tóc nhung huyền và chải tóc bằng chiếc lược ngà được làm từ sừng trâu. Với tôi, mẹ và chị là hai người đàn bà, hai bông hoa rừng ngát hương xứ núi. Trong những đêm trăng sáng tỏ, thấp thoáng bóng mẹ, chị tôi bên cái ảng sành, có cái gáo múc nước được chế tác từ vỏ trái dừa già. Ba đã khéo tay cưa trái dừa già làm gáo dừa và tra thêm cái thanh tre tiện lợi việc múc nước cho mẹ, chị tôi khi gội đầu và để thay cho cái mo đài được làm bằng bèn cau khô đã xuống cấp. Ba nói:

- Cái lu sành thì phải có cái gáo dừa kèm theo mới tương xứng. Thật vậy, ba tôi có con mắt thẩm mỹ. Đúng là người khéo tay, thì hay làm. Tôi quan sát thấy rất thích, nhủ thầm, sau này biết đâu mình cũng giống như ba... Buổi xế chiều hôm đó, với tôi thật ý nghĩa. Khi tôi, được ba chọn làm "thầy" chấm điểm cho sản phẩm của ba vừa hoàn thành. Ba hỏi tôi:

- Ba làm vậy con thấy thế nào? Có đẹp không? Tôi chỉ biết tán dương ba, khen tíu tít. Ba cũng vui hơn khi được người tán thưởng nhiệt thành.

Chiều mùa thu hôm đó, khi mẹ, chị tôi đi làm đồng về, không quên nấu nồi nước sôi và nướng mấy trái bồ kết để cho vào chậu, đổ nước sôi vào một lúc cho bồ kết ra màu nước có vàng chanh và pha thêm nước lạnh, vừa đủ ấm để gội đầu. Chính nhờ có hương kết khô thêm quả chanh tươi cắt lát trong vườn nhà, nên mái tóc mẹ, chị tôi xanh hơn. Mặc dù, thời điểm đó mẹ cũng ngoài ngũ tuần, còn chị như cây lúa dậy thì, tuổi mười sáu trăng tròn với bao ước mơ, hoài mộng.

 

Về sự tích hai cây bồ kết trong vườn nhà được bàn tay ba tự trồng, vươn lên xanh tốt, nên khoảng 3 năm sau là bồ kết cho lứa quả đầu tiên. Đó là thời gian những năm đầu 1984 của thế kỉ trước. Có được thành quả đó, phải kể đến có sự chăm sóc, vun trồng của ba tôi, cộng với tình yêu thương của mẹ, chị tôi. Nên hai cây bồ kết như đôi bạn thân thi nhau phát triển tươi xanh, rồi ra hoa kết trái. Ngày ấy, chưa có dầu gội đầu đa chủng loại như bây giờ, chỉ có trái bồ kết làm bạn với nhà nông, với những mái tóc dài óng ả, nhung huyền của những người mẹ, người chị, người em gái xứ Quảng. Ngoài ra, nước gội đầu bằng trái bồ kết còn giúp tiêu diệt hết các loài chấy, rận, nhưng không ảnh hưởng đến da đầu, không làm rụng tóc như một số mỹ phẩm dầu gội kém chất lượng hiện nay, đã trở thành thơ châm biếm, truyền miệng, khi dùng phải dầu gội đầu giả, thì:

- "Tóc em dài em đi trong gió/ Tóc lưa thưa em đi trong mưa/ Tóc không có em đi vô chùa..." Có lẽ nhờ hương kết, hương chanh nên là chất liệu giúp mái tóc chị tôi xanh đen, mượt mà, mềm mại hơn; mẹ tôi cũng kéo dài được tuổi thanh tân chăng? Vì người đời thường nói:

-"Hàm răng mái tóc là vóc con người". Hay "Nhất dáng, nhì da, thứ ba mái tóc".

Hồi đó, chị tôi cũng là mục tiêu săn đón của bao gã trai làng. Bởi lúc đó có người nói: "Con gái gia công, nhìn cái lông ni cũng thấy đẹp". Vì sao gọi gia công, thì tôi xin giải thích là: Thường cha người Nam, mẹ người Bắc thì sản phẩm tạo ra là F1. Tức dân gia công. Đấy là cách nói hài hước vậy thôi. Chứ chị tôi lúc còn thời con gái chỉ đứng sau Thúy Kiều, Thúy Vân của cụ Nguyễn Du chứ chẳng chơi.

**

Nhưng con người ai cũng có số mệnh của nó. Có người đẹp gái, giỏi dang, siêng năng...nhưng chưa hẳn số của họ sung sướng khi bước vào đời; có người bình thường thôi, nhưng sau này phú quý. Nên mới có câu "hồng nhan", "bạc phận"; hay quan niệm thân phận con gái như: "Mười hai bến nước", biết bến nào đục, bến nào trong là vậy.

Chị tôi thuộc cái số long đong, lận đận về tình duyên. Nên đành phải rời quê chồng, quay về nhà ba mẹ và ở vậy nuôi con. Rồi thay các em chăm sóc ba, mẹ lúc tuổi về già. Chính vì vậy, mà anh em tôi rất thương chị. Tuy không nói ra, nhưng thử hỏi ai có thể thay thế chị tôi lo cho ba, mẹ, nếu không có chị, khi anh em tôi phải đi học tập, công tác, rồi lao vào cuộc mưu sinh nơi phố thị; đành chấp nhận xa gia đình ba mẹ khi tuổi xế chiều. Rồi một ngày ba tôi già và đi xa, đành bỏ lại mẹ, chị tôi trong cô quạnh, hẫng hụt. Vẫn biết là, quy luật tất yếu của đời người: “Sinh, lão, bệnh, tử”. Tuy nhiên, tôi thấy thương hơn hai người đàn bà ruột thịt của mình, phải nương tựa vào nhau trong cuộc sống. Ba tôi mất vào mùa thu năm 2008 sau thời gian phải chiến đấu với căn bệnh người già. Để lại mảnh vườn thiếu bàn tay chăm sóc của ba. Chỉ còn hai cây bồ kết và những cây dừa vẫn tiếp tục sự sống, đơm hoa kết trái cho đến năm 2018, nhân giỗ lần thứ 10 của ba. Nhưng sau ngày giỗ ba tôi, không biết vì lý do gì, hai cây bồ kết cùng ngã bệnh một lúc, khi chị tôi phát hiện bị sâu đục thân. Chị đã mua thuốc sâu về chữa cho cây, như chữa cho con người. Nhưng rất tiếc, hai cây bồ kết không qua khỏi bệnh tật, sự sống kết thúc. Cây cối cũng giống như đời con người. Chị nói với tôi:

- Chị mượn người cưa cây, ý định cho tôi hai khúc gỗ to để tiện hai chiếc độc bình về đặt ở phòng khách trong nhà, để làm kỉ niệm, khi nhìn thấy độc bình thì nhớ đến ba. Coi như ba luôn ở gần hiện hữu trong gia đình tôi. Tôi rất tâm đắc, ủng hộ ý tưởng của chị tôi. Tuy nhiên, rất tiếc khi đến chổ chuyên tiện trang trí vật dụng nội thất bằng gỗ trong gia đình, thì họ nói:

 - Gỗ bồ kết khó làm vì nhiều lý do. Nên tôi không thực hiện được ý tưởng của chị tôi, mà tôi rất tán thành.

                                                ***

          Thiết nghĩ, đời người cũng như đời cây, sinh ra phát triển trưởng thành, khi già thì mất đi, có chăng chỉ còn lại trong trái tim những người còn sống những kỉ niệm đẹp còn lưu giữ qua truyền miệng hoặc qua những áng văn, thơ để tái hiện, lưu truyền cho hậu thế biết về thời ông bà, ba mẹ mình đã sống như thế. Nên cần phải được lưu giữ, trân quý. Điều đáng mừng, có thêm chút tự hào nho nhỏ trong tâm trí tôi, là:

Hai cây bồ kết của ba tôi trồng ngày ấy, ít nhất cũng một lần được Báo Quảng Nam chọn đăng tải trang trọng trên trang báo Xuân của tỉnh nhà! Và những bài thơ, câu văn thô mộc, thao thiết nhưng thấm đẫm tình người, tình đời của tôi đã được bọc bạch, giải bày. Nó như một nén hương thơm, thắp lên mộ của ba khi ngày giỗ hàng năm lại quay về.

Có lẽ với ba, tôi chỉ làm được điều nhỏ nhoi như vậy. Đấy cũng chính là tình cảm, tấm lòng hiếu thảo của người con đối với đấng sinh thành, dưỡng dục, khi ba đã  hòa vào cõi vĩnh hằng, đi vào giấc ngủ thiên thu...

                                                                             Quê nhà, tháng 9.2020
                                                          (Nhân ngày giỗ lần thứ 12 sắp tới của ba)
                                                                                      V.V.T
 

 

                                   

Nguồn tin: ,bài: Y Ban

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây