Chi hội Nhà văn HN- khu vực Hà Đông - Sơn Tây tổ chức gt tác phẩm của Phạm Minh Tân

Chủ nhật - 25/04/2021 22:34
Nhà văn Đào Ngọc Chung : Ngày 19 tháng 7 năm 2020 tôi vinh dự được thay mặt BCH CHI HỘI NHÀ VĂN HÀ ĐÔNG - SƠN TÂY đọc lời chào mừng lễ kỷ niệm 12 năm thành lặp CLB THƠ HƯƠNG SEN ! Và, hôm nay, 18 tháng tư năm 2021, tròn 8 tháng sau, lại vinh dự cùng BCH trân trọng tổ chức giới thiệu tác phẩm của chủ nhiệm CLB thơ Hương Sen, UVBCH Chi hội Nhà văn Hà Đông - Sơn Tây - nhà thơ Phạm Minh Tân.
 

Nhà văn  Đào Ngọc Chung - Chủ trì buổi tọa đàm 
 

Đào Ngọc Chung

 

NHÌN LẠI HÀNH TRÌNH THƠ CỦA PHẠM MINH TÂN

 

   Ngày 19 tháng 7 năm 2020 tôi vinh dự được thay mặt BCH CHI HỘI NHÀ VĂN HÀ ĐÔNG - SƠN TÂY đọc lời chào mừng lễ kỷ niệm 12 năm thành lặp CLB THƠ HƯƠNG SEN !

  Và, hôm nay, 18 tháng tư năm 2021, tròn 8 tháng sau, lại vinh dự cùng BCH trân trọng tổ chức giới thiệu tác phẩm của nhà thơ Phạm Minh Tân - UVBCH Chi hội Nhà văn Hà Đông - Sơn Tây. 

  Tôi muốn nhắc tới năm 2020 , năm thi phẩm HƯƠNG SEN (8), dầy 400 trang của 32 tác giả đã tỏa hương sắc ngay trong thời điểm chống đại dịch covit 19 , như một lẵng hoa đẹp, giàu ý nghĩa kính dâng lẻn bàn thờ Bác, tại NHÀ LƯU NIỆM BÁC HỒ !

   CLB THƠ HƯƠNG SEN có vinh dự đặc biệt là suót 12 năm qua được dinh hoạt ở NHÀ LƯU NIỆM BÁC HỒ và đã có 8 tập thơ chung dâng lên bàn thờ Bác.

Ngày 21/1/1966, đúng mùng một tết Bính Ngọ, Bác Hồ cùng nhà thơ Tố Hữu, bí thư trung ương Đảng và thiếu tướng Hoàng Sâm đã về thăm Văn Phú. Chính Bác đã giới thiệu nhà thơ Tố Hữu đọc thơ .Sáng xuân ấy, trong tiết trời se lạnh, tại sân đình, giọng ngâm thơ trầm ấm của nhà thơ Tố Hữu đã vang lên ...

  Không biết ở đâu trên thế gian này, sáng mùng một tết, Lãnh tụ và bà con xã viên lại quây quần, xum họp đọc thơ, nghe thơ?

Mừng thay, chính CLB THƠ HƯƠNG SEN đã làm cho không khí thơ đầm ấm, thiẻng liêng ấy tiếp tục tỏa sáng, ngân rung đrens hôm nay ...

Được trực tiếp gắn bó, vun trồng, chăm sóc " HƯƠNG SEN " suốt 12 năm qua, chủ nhiệm Phạm Minh Tân đã từng bước hoàn thiện chân dung tâm hồn thơ của mình để có thể chuyển hóa thành một tác giả thơ đích thực!

Là chủ nhiệm ,chị phải học cách biết lắng nghe, chờ đợi, nhịn nhường, từ tốn để dần dần tìm được tiếng nói chung và sự tin cậy của mọi thành viên trong CLB!

Là người biên tập và viết Lời giới thiệu vừa phải có lòng yêu thơ nồng ấm vừa phải có đôi mắt sắc lạnh, công bằng của nhà phê bình!

12 năm qua, CLB THƠ HƯƠNG SEN còn mở rộng, giao lưu, kết nối với nhièu CLB THƠ trong và ngoài quận Hà Đông như: CLB THƠ XUÂN MAI, CLB THƠ ĐÔNG SƠN (Chương Mĩ ) CLB THƠ NÚI THÀY (Quốc Oai ) CLB THƠ HUYỆN THẠCH THẤT, CLB THƠ LÀNG CHÙA (Úng Hòa ), CLB THƠ QUẬN THANH TRÌ, CLB THƠ PHƯỜNG THÀNH CÔNG, CLB THƠ TỈNH HÒA BÌNH, CLB THƠ VIỆT NAM

Hàng tháng, ngoài CLB THƠ HƯƠNG SEN, Phạm Minh Tân còn dự sinh hoạt đều đặn, như một hội viên đích thưc với CLB THƠ QUÊ LỤA VẠN PHÚC ( ngày 12 ) CLB THƠ TRANG VĂN (ngày 25 ) CLB THƠ LA KHÊ (ngày chủ nhật thứ 3 hàng tháng) CHIẾU THƠ SÓNG LỤA (ngày 6)

Có thể nói, Phạm Minh Tân không chỉ thả bộ, dạo bước trên bờ mà thật sự say đắm, tắm mình trong dòng sông thơ và chị đã được đền đáp xứng đáng!

Năm 2008 thành lập CLB THƠ HƯƠNG SEN chị có tập thơ đầu tay "NẮNG CHIỀU"

Năm 2014 chị trở thành hội viên Hội Nhà Văn Hà Nội.

Và đến hôm nay chị có7 đầu sách, được CHI HỘI NHÀ VĂN HÀ ĐÔNG - SƠN TÂY trân trọng giới thiệu tác giả, tác phẩm!

Làm nên chất thơ và sức trẻ của các tác phẩm ấy có dấu ấn thiên nhiên và phẩm cách con người miền núi Hòa Bình,

Hãy nhớ lại Hòa Bình, những năm nhà thơ Quang Dũng viết: "Tây tiến đoàn quân không mọc tóc - Sông Mã gầm lên khúc độc hành" Năm 1950, chị cùng gia đình theo cha là nhà giáo Phạm Đức Bôn từ Hải Phòng lên Hòa Bình. Thân phụ chị chính là thày hiệu trưởng đầu tiên của trường tiểu học Mai Hạ, cũng chính là trường tiểu học đầu tiên của cả huyện Thái Mai Châu!

Tuổi nụ, tuổi hoa, tuổi hoa niên của chị đã gắn bó nghĩa tình sâu nặng với Hòa Bình như quê hương thứ hai của mình. Sự chân chất, thật hạt chịu thương chịu khó của con người miền núi đã thấm và in dấu vào tính cách và văn chương của chị hôm nay

  Nhưng để định hình một chân dung thơ, một tác giả thơ là khi chị trở thành một công dân ở tổ 2 thôn Văn Phú, 12 năm liền gắn bó với CLB THƠ HƯƠNG SEN, với Thư viện tổng hợp Hà Tây, tiếp xúc rộng rãi hơn với dòng chảy văn chương cả nước!

Thì ra, sự gắn kết với tầng sâu văn hóa, thấm tình đất tình người nơi ta ở mới ít nhiều làm nên một dấu ấn văn chương!

Cách đây 8 tháng, tôi nhớ lại lời phát biểu của chị hôm giới thiệu tập HƯƠNG SEN (8) : "Mỗi năm hội viên có già đi đôi chút nhưng lạ thay, thơ HƯƠNG SEN thì ngày một lên tay, càng tươi mới"

Lời nhận xét đó như ứng nghiệm với chính bản thân Phạm Minh Tân vậy!

Năm 2020, Phạm Minh Tân tròn tuổi 75 đã xuất bản tập truyện ngắn " LÀ ANH " ; biên tập, viết Lời giới thiệu và lo in ấn cho 5 tập thơ:

- NHỮNG KHÚC THƠ ĐỜI của tác giả Bùi Thế Nụi
-  SÓNG HOA của tác giả Phạm Khắc Ngọc
- TRANG ĐỜI của tác giả Đỗ Hùng Ngọc
- HƯƠNG SEN (8) của 32 tác giả
- HƯƠNG ĐẤT MƯỜNG của 101 tác giả CLB THƠ HÒA BÌNH

Và ngày 12 /4/2021 còn giới thiệu tập thơ "QUÊ LỤA MỘT CHẶNG ĐƯỜNG THƠ" kỉ niệm 30 năm thành lập CLB THƠ QUÊ LỤA VẠN PHÚC.

Đó phải là sức làm việc dẻo dai của tuổi thanh xuân!
Nhưng điều quý hơn là sức non tơ , tươi trẻ trong tâm hồn một nhà thơ nữ, ở tuổi 75!
Xin thử đọc lại bài thơ "QUÁN GIÓ" chị mới viết ở trại sáng tác Tam đảo vừa rồi :
Gió trời
Gió núi
Gió thung
Cưỡi mây ta ngủ trên lưng chừng đèo
Đừng buông tay nhé
Dấu yêu
Rượu chưa kịp nhấp đã liêu xiêu tìn
Lời mòn
Gió cuốn
Chả linh
Lặng im
Nghe tiếng lòng mình có nhau
Trời ơi , nào ai dám nghĩ, một người phụ nữ ở tuổi 75, dám "CƯỠI MÂY TA NGỦ TRÊN LƯNG CHỪNG ĐÈO"!
Bao nhiêu kí ức tuổi hoa niên ùa về tắm mình trong đêm trăng suối Mùn, lộng gió thung Khe, say điệu xòe Thái, ngất ngây rượu thơm Mai hạ...
Và đây, bài thơ chị viết mừng sinh nhật tuổi 75 của mình:
"75 năm được làm người
Tạ ơn chín khúc sông đời đã qua
Ngày vui ngắn
Đoạn trường xa
Gian nan thử sức, phong ba thử lòng
75
Xuân vẫn xuân hồng
An nhiên đi giữa đục trong cõi người!
Mừng thay, chị đã tìm thấy ánh xuân hồng ở tuổi 75!

Phải chăng, chị đã gắng gỏi , như bước chân luôn biết vượt dốc của người miền núi; hơn thế biết tự vuọt mình, bơi trong dòng sông thơ, nương tựa vào thơ, khao khát hướng theo ánh sáng chân thiện mĩ của thơ để hoàn thiện mình!

Tôi thầm cảm ơn anh Lã Văn Hương, nguyên trưởng Đài truyền thanh tinh Hòa Bình từ năm 1963, người bạn đời, bờ vai tin cậy luôn đồng hành, đồng cảm chia sẻ mọi vui buồn trong hành trình thơ biết bao thử thách nhọc nhằn của chị!

 

                                                     Khu tập thể Ba tầng, đêm 17 /4/ 2021
 
                                                                                 Đ.N.C

Đăng Bẩy

 

ĐỌC “LÀ ANH”

(Tập truyện ngắn của Phạm Minh Tân, Nxb Hội Nhà văn, 2020)         

 

      Tôi sững sờ đón nhận Là anh – tập truyện của nhà văn Phạm Minh Tân vừa ra lò cuối năm ngoái. Sững sờ, vì trước đó - từ kho tàng sáng tạo của mình - chị chỉ công bố phần thơ (Nắng chiều, Hội Nhà văn 2008; Tiếng thầm, Văn học, 2011; Khoảng lặng, Văn học 2014 và Khúc ru cánh cò, Hội Nhà văn 2017).

Đều đặn cứ ba năm là trình làng một tập thơ, đột nhiên tác giả lại tìm đến thể loại truyện ngắn, ắt hẳn có điều gì đó gửi gắm? Cho nên, đọc kỹ cuốn truyện này, ta có thể đoán rằng đó là sự nung nấu, tích cóp từ nhiều năm của một tác giả tuổi đã ngoại bảy mươi.

Truyện của Phạm Minh Tân có khi xuất phát từ những tình huống hết sức đời thường, hồn hậu. Đó là truyện về một ông thầy vốn là giáo viên nhiều tài vặt, nhưng chỉ vì mê thơ, lãng mạn, nên không được lãnh đạo bố trí đứng lớp, phải làm chân văn phòng nên bất mãn bỏ về, làm đủ các nghề, sau có con trai thành đạt và in thơ cho bố (Vạ thơ). Đó là truyện về một cô con gái chỉ mong mẹ sống lâu nên đổi con số ghi mừng sinh nhật mẹ trên bánh 72 thành 27 tuổi (Chiếc bánh mừng sinh nhật). Đó là truyện về một cô gái lưu lạc, làm bưng bê ở quán ăn, được tay anh chị bảo lãnh rồi dẫn về quê, sau đó anh chết, cô ở vậy với bà cụ và được hưởng thừa kế mảnh đất đang tranh chấp (Chuyện của Sương). Hay như cuộc phiêu lưu ly kỳ thời chiến tranh, có khi hút chết, của người phụ nữ đi thăm chồng là bộ đội, suốt dọc đường chị hỏi, chỉ “gặp” một nguyên tắc bất thành văn được toàn dân tuân thủ: tuyệt đối giữ bí mật “Ba không”, nhưng rồi cũng tìm được đến nơi người chồng đóng quân và ra về may mắn.

Đọc những truyện đó ta có cảm giác nhẹ lòng bởi cái kết có hậu cho người lương thiện, nhưng ở những truyện khác, Phạm Minh Tân biết khiến cho người đọc phải bứt rứt. Ví dụ, tác giả kể về một típ người lạ lùng, khi sống luôn luôn ki cóp, quên cả cuộc sống vợ con hiện tại để dồn hết kinh tế gia đình cho việc hậu sự, tậu đất ở quê định xây nghĩa trang cho bản thân và gia đình, để lại cho người đang sống một tiếng cười thương hại (Cõi tạm). Một ông chồng nổi cơn ghen tuông mù quáng khi vợ chồng gặp lại người bạn trai từng cùng học, nên tự mình gây ra hỏa hoạn, và Vết sẹo trên thân thể của người chồng sẽ còn đó cho đến hết đời để nhắc nhở rằng “suýt nữa đã đánh mất người anh yêu quý nhất”, v.v... Có những khi tác giả còn quyết liệt hơn, khi kể về một cô thôn nữ từ bỏ tình quê ra tỉnh để mong đổi đời ở nơi thành thị, cụ thể là có một thời gian làm gái bán hoa, may mà cô kịp tỉnh ngộ, định trở về chốn cũ, nhưng than ôi – thật là không may: sắp gặp người yêu cũ nay đã thành đạt, cô xấu hổ vội vã bỏ đi, đến nỗi bất ngờ gặp phải tai nạn giao thông và không còn kịp làm gì nữa để cứu Canh bạc của đời mình.

Trong tập Là anh, ngoài những cốt truyện đơn giản như đã kể trên, tác giả còn thử bút lực vào những hoàn cảnh hết sức éo le, phức tạp.

Một cô gái ngoan hiền trả ân thay bố bằng cách chấp nhận lấy anh Thông, người bị bố lỡ mạnh tay gây chấn thương cột sống, bị gù. Hai vợ chồng tưởng vô sinh vô vọng, sau được ông Đạt mách cho cách chữa, có con. Bà Đạt vốn chẳng hiểu gì về mối quan hệ của họ, cứ nghi cho ông là đã về hưu rồi còn ham của lạ, nên ông bà cùng nhà mà như thể mỗi người sống trong một cõi riêng tư, cho đến khi bà biết được sự thật về chồng mình rồi bất ngờ gặp tai ương thì mới nhận ra thế nào là Hạnh phúc

Một gia cảnh bi đát: bị vợ chồng con trai đối xử nhẫn tâm, bà cụ thuê người viết đơn kiện. Sau đó chính người con trai cũng bị câm vì cô vợ phụ bạc mang hết của nả theo trai. Trong một xung đột giữa mẹ và con trai, người em gái vốn bị câm từ bé bị xô ngã, bỗng nhiên nói được bình thường và rốt cuộc, ở vậy nuôi cháu, chăm anh (Giời ơi!). Hay câu chuyện rắc rối giữa một gia đình gia giáo nhưng có hai anh em ruột cùng yêu một cô gái, người anh muốn cưới không được, đâm ra mắc “tâm bệnh”, phải vào bệnh viện tâm thần rồi sau đó đi tu, người em bỏ đi biệt xứ, còn người con gái ở vậy cho đến cuối truyện (Duyên phận)… Trong tất cả các bi kịch đó, đáng phục nhất và cũng đáng thương nhất là những nhân vật nữ trẻ của Phạm Minh Tân: ở Giời ơi có cô Cầm, ở Duyên phận có cô Bích…

Truyện của Phạm Minh Tân thường miêu tả những tình tiết dung dị trong đời thực, từ đó cố gắng đưa người đọc đến một kết luận, một chiêm nghiệm nào đó. Như với truyện ngắn có tên được đặt theo tên cả tập (Là anh), tác giả mượn hồi ức thời trẻ thơ với người anh để nói về nỗi ân hận của mình khi gặp lại, cả em cả anh đã ở tuổi xế chiều: “Vì sao khi được sống gần nhau ta thường vô tâm, không biết trân trọng những tình cảm yêu thương, những điều quý giá mà cuộc đời đã ưu ái dành cho ta? Chỉ đến khi mọi sự có nguy cơ tuột khỏi tầm tay, ta mới ngộ ra, mới tiếc nuối, mới hết lòng níu kéo?”…

Với bốn tập thơ, Phạm Minh Tân đã chứng tỏ mình là cây bút “từng trải”, còn với tập truyện Là anh - tác phẩm văn xuôi người lớn đầu tay (không kể tập truyện thiếu nhi Hai chú cào cào) - thì chị vẫn là “lính mới” trong thể loại. Ấy là do cách đặt tít cho từng truyện chưa phải đắc địa nhất, ấy là do trong quá trình bồi đắp cốt truyện, tác giả còn thiếu dụng công. Ví dụ: để giải quyết mâu thuẫn, tác giả rất hay dùng đến cái chết của nhân vật nào đó hoặc sự cố bất ngờ những thiếu logic (như tai nạn đến với vợ ông Đạt, với cô Hoài chẳng hạn). Thiết nghĩ, ở những truyện sau nếu tác giả còn viết, cần có cách dẫn chuyện nhuần nhị, hợp lý hơn để cho sức thuyết phục đến với người đọc được lớn hơn.  

                                                                               Đ.B
 

Lê Anh Phong

 

CÓ MỘT “MIỀN BAN TRẮNG” TRONG THƠ
Đọc“Miền Ban trắng” của nhà thơ Phạm Minh Tân - Nxb Hội Nhà văn, 2019 


    Miền Ban trắng  là tập thơ thứ 5 của nhà thơ Phạm Minh Tân. Cái tên ấy gợi cho người đọc sự liên tưởng về một miền văn hoá, một vùng đất giàu chất thơ - Miền Tây Bắc thân yêu của tổ quốc. Và khi đọc tác phẩm, tìm hiểu tác giả, chúng ta càng thêm trân trọng và đồng cảm với nhà thơ về lý do của việc đặt tên cho tập thơ của mình.
Sinh ra trong không khí sục sôi của Cách mạng Tháng Tám tại quê nhà Hải Phòng, ngay từ nhỏ, cô bé Phạm Minh Tân đã theo gia đình lên miền Tây Bắc xa xôi sống và học tập. Có thể nói, cuộc đời chị đã gắn bó và coi miền đất ấy như quê hương thứ hai của mình. Đó là hành trình gian khó, từ biển đến với núi với rừng, nhưng đã mang lại cho nhà thơ nhiều vốn sống, nhiều trải nghiệm từ khám phá về “ miền ban trắng “ đẹp cảnh, đẹp người ấy.
Tập thơ có 51 bài, được viết bằng nhiều thể loại: lục bát, thơ 5 chữ, thơ 6 chữ..., thơ tự do. Lục bát không phải là thể thơ được chị sử dụng nhiều trong sáng tạo, chỉ có 16 bài. Đó không chỉ là sự thống kê thuần tuý về thể loại, mà phải chăng còn phản ánh xu hướng không lệ thuộc quá nhiều vào cái khuôn của vần, hướng tới tự do và đa dạng trong biểu đạt. Ở cái tuổi gần 80 và bao năm phụ trách câu lạc bộ thơ mà nhà thơ vẫn giữ được mạch nguồn cảm xúc về thiên nhiên, về con người... cũng là điều hiếm gặp.
Có thể nói, với chị, Thơ đúng là “ tiếng nói của tâm hồn “. Âm chủ trong thơ Phạm Minh Tân trước hết là từ cảm xúc. Đó là bản nhật ký của tâm hồn. Cảm quan trong thơ thật hồn hậu. Đây là cảnh tác giả thăm làng lụa Vạn Phúc: “ Người con gái mộng mơ / Miệt mài bên sóng lụa / Có nghe ngoài song cửa / Ai thả chiều vào tơ “ ( Sóng lụa). Còn đây là những vần thơ viết cho con gái trong ngày lên xe hoa về nhà chồng: “ Mẹ lẫn lộn giữa vui buồn, thương nhớ / Vòng tay mẹ không đủ dài rộng nữa / Con đi về phía ấy cuộc đời / Tạm biệt mẹ / Tạm biệt thời thơ dại / ... Có hạnh phúc nào mà lệ không rơi “ ( Hạnh phúc).
Không đa đoan phá cách, thơ Phạm Minh Tân phần lớn nghiêng về sự dịu dàng trong cách nghĩ cách nói. Nó điềm đạm như chính con người chị vậy.
Đọc thơ là để gặp người.
Ta gặp cảm thức văn hoá qua “ Em gái Mường trong đêm hội cồng chiêng “: “ Giữa Thăng Long ngàn năm văn hiến / Bỗng âm vang giai điệu cồng chiêng / Có một miền huyền thoại / Giữa Hà Nội linh thiêng “. Đó là âm vang của truyền thống bản sắc dân tộc Mường trong sự hoà hợp linh thiêng với thủ đô ngàn năm văn hiến. Dường như, đó còn là sự đồng vọng của những năm tháng gian khó mà nhà thơ đã từng gắn bó với miền núi Hoà Bình thân thương. Và phải chăng, trong vẻ đẹp của thơ Phạm Minh Tân ít nhiều có ảnh hưởng từ cảm quan, từ âm hưởng của “ Miền Ban trắng “.
Ta gặp nhà thơ của hoài niệm. Là người sống ân tình nên trong thơ Phạm Minh Tân nhiều hoài niệm: “ Hoài niệm một dòng sông “, “ Nhớ mùa hoa gạo “, “ Xuân nhớ “, “ Nhớ mùa thu Hà Nội “... Hình ảnh người cha, người mẹ và gia đình thân yêu hiện lên qua nỗi nhớ thật đẹp, cảm động và nhiều suy tư. Đó như là giấc mơ: “ Có còn những tháng những ngày / Mẹ ngồi giặt lụa hong đầy bến sông “ ( Hoài niệm một dòng sông ), “ Con về / Ngõ nhỏ mưa rơi / Hàng cau vẫn đứng đợi nơi sân nhà “ ( Xuân nhớ). Và cũng thật ám ảnh: “ Nhớ Cha / Những năm giặc giã / Cái rét run chân / Cái đói run tay / Học trò ngác ngơ / Nhìn viên phấn rụng khỏi tay thầy “ ( Cha ). Đó còn là nỗi nhớ về những miền đất mà nhà thơ đã từng gắn bó : “ Ơi Tháng Ba ! Tháng Ba / Cho ta về miền nhớ / Có một chiều cả gió / Ngõ nhớ tràn xác hoa “ ( Nhớ mùa hoa gạo ). Và có khoảnh khắc tinh tế của lối nói, của xao xuyến : “ Sấu rụng vào nỗi nhớ “ mùa thu Hà Nội...
Ta gặp cảm thức về thời gian, không gian cùng khát vọng khiêm nhường của nhà thơ ở nơi mình sinh thành trước bình minh ngày mới: “ Đêm ở quê / Nghe thạch sùng tặc lưỡi / Đom đóm lập loè thắp lửa vườn khuya / Bông gạo rụng / Một mảng đêm chợt vỡ / Đêm ở quê / Không ánh đèn rực rỡ / Chỉ có gió / Nồng nàn hương hoa cỏ / Đêm ở quê / Lòng những muốn làm con diều nhỏ / Làm giọt sương trên lá / Nghe tiếng gà khai hội ban mai “ ( Đêm ở quê ).
Tuy đâu đó thấp thoáng dấu vết ảnh hưởng từ ước lệ của văn chương Trung đại, thơ vịnh vật vịnh cảnh, nhưng so với những tập thơ đầu, “ Miền Ban trắng “ đã thêm nhiều nghĩ ngợi và suy tư trong thơ. Thơ Phạm Minh Tân đã hướng đến thế sự nhiều hơn. Điểm nhìn được mở rộng. Cái riêng và cái chung, cá nhân và cộng đồng, bên cạnh sự hoài niệm, tình cảm gia đình, tình yêu quê hương, thơ chị còn hướng đến thực tại xã hội và đời sống cần lao. Chứng kiến cảnh chợ lao động, nhà thơ day dứt với câu hỏi về thân phận con người trong cuộc sống thị trường hôm nay: “ Đã qua thời nô lệ / Vẫn còn đây chợ người !“ ( Chợ ). Ánh sáng và bóng tối, nụ cười và nước mắt, hoa hồng và gai... như bóng với hình của đời sống. Trước một bông hoa giả, chị đã viết: “ Hồng không gai / Quý nỗi gì / Hỡi hoa “ ( Thật - Giả ). Mất đi những cái gai không còn là bông hồng kiêu hãnh nữa. Và phải chăng bông hoa của tình yêu cũng trở nên nhạt nhoà đơn điệu. Bởi vì “ Hoa vẫn nở bên gai / Bông Hồng không lỡ hẹn “ ( Thơ Lê Anh Phong ). Một góc nhìn trực diện, thấu cảm và biện chứng. Đó là câu thơ hiếm gặp trong trường thơ của chị. Và không phải nhà thơ nữ nào cũng dễ dàng nhận thấy. Khi đến cái tuổi thông tỏ mọi điều, trước sương khói cuộc đời, nhà thơ lại trở nên an nhiên: “ Như trò chơi thuở ấu thơ / Trốn tìm nhau / Giữa đôi bờ thực hư “ ( Trốn tìm ).Tuy chưa nhiều, nhưng chất nghĩ trong thơ chị thật đáng quý. Và như thế, không chỉ là “ tiếng nói của tâm hồn “, thơ Phạm Minh Tân đã âm vang tiếng nói của trí tuệ.
Không gian và thời gian đêm xuất hiện khá nhiều trong thơ chị : “ Đêm thức “, “ Tình khúc đêm “, “ Đêm bản Lác “, “ Đêm ở quê “... Dường như đêm là để dành cho người cầm bút và câu chuyện một đèn một bóng. Từ góc âm bản ấy, nhà thơ hướng ra ánh sáng và nghĩ suy gì về thi ca và đời sống: “ Đêm về thao thức cồn cào / Câu thơ dứt ruột gan bào vì ai ?” ( Thơ ), “ Trăng tàn biển bỗng bơ vơ / Hoa tàn để những câu thơ ngậm ngùi “ ( Tản mạn), “ Tựa vào chiếc bóng cuối chiều / Đêm nay thức với phiêu diêu cõi mình “ ( Đêm thức )...
Hình như đi đến đâu nhà thơ cũng viết về miền đất ấy: “ Về Đất Mũi “, “ Bình minh trên hồ Ba Bể “, “ Thăm nhà thờ đổ “, “ Trên đỉnh Đại Lãnh “, “ Sa Pa vào hội “... Đó là nhật ký bằng thơ của những chuyến đi. Lối viết ấy dễ trở thành thói quen, phảng phất ảnh hưởng từ thơ ngâm vịnh ngày xưa. Thơ vì thế dễ trở nên đơn điệu. Hơn nữa, phải chăng thói quen ấy vô tình cản trở sáng tạo cùng sự mới lạ trong biểu đạt mà thi ca hôm nay cần hướng tới.
Có thể nói, nhìn trên toàn cảnh, thơ Phạm Minh Tân chủ yếu là sự giãi bày của nỗi niềm. Nó giản dị gần gũi với con người và cuộc sống thường nhật. Vì thế thơ chị dễ đọc, dễ chia sẻ, nhất là với những người cùng giới cùng thời.
Với lục bát, tính trữ tình ngày càng rõ nét và đằm thắm. Nhiều cặp 6/8 nhuần nhị và dễ đi vào lòng người : “ Mẹ ngồi gom nhớ vào quên / Lời ru cánh võng nhà bên vọng về “ ( Mẹ ), “ Ru lòng qua những cơn mê / Dẫu tàn một kiếp câu thề vẫn nguyên ” ( Tiếc nuối), “ Ngập ngừng qua ngõ thuở nào / Lời thương xưa đã tan vào mênh mông ”( Lặng thầm)... Trong hội thảo về thơ lục bát do Khoa Viết văn của Đại học Văn hoá tổ chức gần đây, giáo sư Trần Đình Sử có nhận xét, không phải người viết nào cũng ý thức sâu sắc về tính trữ tình trong thể lục bát. Có nhiều người dùng lục bát để kể, để tự sự. Thậm chí nếu có “ tình “ thì đó cũng chỉ là “ kể tình “, chứ không hẳn là trữ tình. Nói như thế để thấy rằng, có được một cặp 6/8 trữ tình hay là thử thách lớn với mỗi nhà thơ chúng ta. Và biểu đạt như thế nào luôn luôn là câu hỏi đặt ra cho sáng tạo trong thơ.
Tuy đã tạm biệt với núi với rừng, nhưng trong thơ Phạm Minh Tân
vẫn ánh lên vẻ đẹp của một tâm hồn luôn hướng đến thiên nhiên và sự sống. Dẫu đó là những ngày giãn cách của đại dịch : “ Chợt sớm nay ríu rít một khoảng trời / Lũ chim nhỏ gọi nhau về làm tổ / Cây ngọc lan đầu ngõ bỗng đưa hương “ ( Tiếng chim hót ở nơi tâm dịch ).
Không hiểu sao, trong buổi đầu gặp gỡ, tôi cứ nghĩ chị là cô giáo. Và sau này mới biết chị là một kỹ sư điện tử. Trên con đường thi ca của đam mê nhưng cũng đầy thử thách, với 5 tập thơ, vùng phủ sóng trong thơ Phạm Minh Tân đã được mở rộng. Và vì thế, người đọc dễ tiếp cận và có thể gặp nhau ở sự đồng điệu nào đó trong thơ chị.
Tôi cũng có 10 năm sống và học tập trên miền núi Hoà Bình trong thời chiến tranh sơ tán. Tôi đã lớn lên bên dòng sông Đà đỏ nặng phù sa, lớn lên bên những ngọn núi, bên những bản Mường chất phác nhân hậu. Phải chăng vì thế, khi đọc thơ chị, tôi như được gặp lại mình qua “ Miền Ban trắng “ !

 

Khương Trung, 10/4/2021

       L.A.P

 

 

 

Nguồn tin: Ảnh: Nhà văn Cầm Sơn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây