Hội nhà văn Hà Nội

https://nhavanhanoi.vn


Trinh Đường - ông mối của các nhà thơ trẻ

Bài của Nhà nghiên cứu vh Văn Hậu

      Nhà thơ Trinh Đường (1917 - 2001)

      Cổ Nhuế, vùng Noi là bến nước có từ khi vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La lập kinh đô Thăng Long. Cổ Nhuế có 4 thôn: thôn Hoàng, thôn Trù, thôn Đông và thôn Viên… Nay thuộc Phường Cổ Nhuế I,II Quận Bắc Từ Liên, Hà Nội. Nơi này thờ Đông Chinh Vương con vua Lý Thái Tổ và bà Trần Túc Trinh con vua Trần Thánh Tông.

Cách đây gần 40 năm,tôi nhiều lần đến xóm 16A thôn Viên được hàn huyên cùng Trinh Đường, hiệp sĩ thơ ca, tên thật là Trương Đình. Lần thứ nhất mang giấy mời của Nhà văn hóa Huyện mời ông dự Câu lạc bộ thơ, truyện Từ Liêm. Lần thứ hai cùng PGS.TS Phạm Công Trứ tới đưa thơ và phiếu khảo sát quan niệm về THƠ HAY. Lần thứ ba cùng PGS.TS Lê Trường Phát (ĐHSPI Hà Nội). Ông sôi nổi nói chuyện đến quá 11 giờ đêm. Chúng tôi lạ vì lần đầu tiên trong đời thấy có thi sĩ lập Đền Thờ vuông, trên ban thờ để tuyển “Thơ Thế Kỷ XX”, tập I, NXB TN 1995. Ông cẩn trọng thắp hương vòng, thì thầm khấn Nàng thơ cứu chúng sinh vượt qua thiên tai, dịch bệnh để sống an lành.

                                           “Trầm hương lên rồi trầm hương lên
                                             Phương trời nào xa, phương thiêng liêng…”

Câu thơ toàn thanh bằng, ngân nga như một cảnh tọa thiền của các nhà sư, đạo sĩ ở cõi non cao, biển rộng.

Lần thứ tư được gặp ông cùng CLB thơ Từ Liêm khách sạn Thắng Lợi. Ăn, nghỉ được là do bác Đồ Môn (Xuân Đỉnh) có em làm Giám đốc tài trợ, chứ thời ấy lương ba cọc ba đồng như tôi có mơ cũng không dám vào KHÁCH SẠN. Buổi ấy Hiệp sĩ ngâm bài thơ “Ra cửa” cho anh chị em, thi phẩm ngắn nhưng cho ta cái bồn chồn đợi chờ của người con trai khi đợi người con gái:

                                       “Biết chắc không có Em
                                         Anh vẫn đi ra cửa
                                         Tay cầm nắm đấm xoay
                                         Mắt run theo tay mở”
                                                                           (Ra Cửa)

Nhớ Trinh Đường dáng cao, người gầy gò chắc khỏe, mắt sáng, thường đeo cái bị cói lúc xe đạp, lúc ô tô, lúc máy bay, lúc tàu thủy… rong ruổi nhiều vùng đất Việt. Xem nhan đề, ghi chú, các bài thơ sẽ rõ: Chùa Hang (Thái Nguyên), Mẫu Sơn (Lạng Sơn), Phia Bi óc (Cao Bằng), Ô Quy Hồ (Lào Cai), YaNa (Nha Trang), Bạch Đằng (Hải Phòng), Chợ Mới (An Giang), Bà OM (Trà Vinh), Chùa Dơi (Sóc Trăng) và đi nhiều có làng Phú Xuân xã Đại Thắng (Quảng Nam), cố hương thi sĩ tập kết ra Bắc năm 1954 mãi năm 1975 mới về và khi lên cõi Mây Trắng lại trụ bên mồ cha ông Tổ Tiên.

Thi nhân thường nghèo nhất là thời kỳ bao cấp, đi được là do có tài trợ. Trinh Đường lập quán Khuê Văn, toàn các nhà thơ trẻ, liên hệ báo đường sắt Việt Nam, Công ty ong Việt Nam để điền dã và kịp thời quảng bá sản phẩm trên thị trường.

Riêng trưởng đoàn Trinh cũng được mùa sau những chuyến đi. Có thơ cho trẻ em sau được in trong sách giáo khoa:

                                      “Con chim bận bay
                                        Cái hoa bận đỏ
                                        Cờ bận ngọn gió
                                        Chữ bận thành thơ”

                                                                   ( Bận)

Có thơ về chiến công của quân dân ta từ đời Trần:

                                          “Sớm chiều đầy sóng gió

                                            Lòng sông đâu thôi, phẫn nộ
                                           
Kể thời máu đỏ quân Nguyên

                                                 (Bạch Đằng Giang)

Có thơ về Tổ Quốc hùng vĩ:

                                            “Sau lưng tôi Trường Sơn
                                             Trước mặt cù lao Én
                                             Tôi tựa lưng mé Biển
                                             Tỳ tay lên Chân Trời

                                                                           ( Quán Trọ)

Sau Lớp Văn ở huyện Từ Liêm, tôi theo học Lớp Văn năm 1995 tại Nhà văn hoá trung tâm Thành Phố Hà Nội. Giảng Truyện có Triệu Bôn, giảng thơ có Bằng Việt, giảng lý luận có Vương Tri Nhàn, tổng kết lại có Ngô Văn Phú… Đến đặt bài có thi sĩ Hồ Xuân Sơn (Báo Người Hà Nội), Nguyễn Kiên (NXB Văn Học)… CLB Tháp Bút, Tràng An theo Trinh Đường không bó gối trong thư phòng mà trải nghiệm nhiều làng quê: Đến làng VẼ khoa bảng ở chân cầu Thăng Long, qua làng ca trù ở Lỗ Khê (H. Đông Anh), thăm Bảo Tàng không quân (H. Sóc Sơn), tới lớp trẻ khuyết tật ở Linh Quang (Q. Đống Đa), giao lưu tại khu sinh thái Khoang Xanh (H. Ba Vì), diền dã trại nuôi bò ở Phù Đổng (Gia Lâm).

Hàng loạt tác phẩm sau đó trình làng: Bùi Kim Anh “Viết Cho Mình” (1996), Nghiêm Thị Hằng “Lời thì thầm” (1997), Phi Tuyết Ba”MIMOZA” (1997), Khang Sao Sáng, “Cánh nhiều không dây” (1998), Nguyễn Thế Cơ  “Hãy tạc anh như thật”(2004), Hoàng Gia Cương “Vệt nắng cuối chiều” (2007)…

Nhưng vương miện thơ có lẽ là của PGS.TS Phạm Công Trứ. Hơn 10 thơ phẩm đã ra mắt bạn đọc với cái Lời thề cỏ May I,II,III, Phồn Thi I,II,III. Rồi “Làng phố giao duyên”. Trứ đạt giải Nhất thơ Phồn thi (2005) Hội nhà văn Hà Nội. Thơ nối mạch chân quê Nguyễn Bính giai đoạn Thơ Mới (1932-1945). Nhưng là nhịp cầu thời Gái quê bốn chấm không, thời @... đi tỉnh về quê, lại lên tỉnh kiếm sống.

                                          “Hiện Đại phải lòng Dân gian
                                          
Thi ca mạch ấy đều mang họ Phồn”

Nhớ buổi tối  Mùa Đông ngày 3/12/1995, năm Ất Hợi, tôi và Trứ được gặp Trinh Đường ở thôn Viên bên dòng sông Nhuệ thơ mộng. Ông cao giọng: “Thơ phải như mặt trống, gõ vang vang nhưng phải là tiếng vang của hiện thực đời sống. Thơ phải thấu tình đạt lý, cái gốc cuối cùng để lại trong lòng bạn đọc là chữ TÌNH. Thơ là sự  đánh đu cùng chữ nghĩa, không được sói mòn…”

Đến nay tròn 20 năm (2001 – 2021), Hiệp Sĩ Trinh Đường vùng Noi viễn du nơi bồng lai tiên cảnh. Người ta nhớ gọi là ĐÔNKIHOTÊ, một hiệt sĩ Thơ, một lãng nhân Thơ, ông mối của các thi sĩ trẻ… Ông sánh vai nhiều văn nhân bên dòng Thu Bồn như Võ Quảng, Nam Trân, Nguyễn Văn Bổng, Liên Nam, Thu Bồn…

Xin có mấy vần thơ về ngôi đền thơ Thôn Viên:

                                                “Cổ Nhuế đêm nhớ ông

                                                 Chân nhịp cùng thế kỷ

                                                 Danh lợi treo cây đường

                                                 Ba lô thời nặng ký

           Cổ Nhuế đêm trầm buông

          Ơi NÀNG THƠ BỒ TÁT

          Trăng mọc lặn trùng phùng

          Nhập thế rồi xuất thế.”

 

 

Nguồn tin: HNV.

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây