BA BÀ CỤ Ở CUỐI XÓM

Thứ tư - 14/01/2026 20:03
Truyện


 

Truyện ngắn của Nguyễn Khang

     Cái xóm ngoài bãi này hình thành như thế nào chả ai tường tận. Anh Công an Khu vực mới được phân công quản lý cũng dăm lần bảy lượt đi tìm nguồn gốc cái xóm này nhưng  cái mà anh biết duy nhất  rõ ràng sau hồi tìm kiếm thông tin   là ngôi nhà cuối xóm có ba bà cụ ở với nhau. Ông tổ trưởng nói với anh như vậy.

Ông tổ trưởng khu phố, một người điềm tĩnh, từng trải co vóc dáng chắc nịch nhưng vô cùng nhanh nhẹn. Ông về xóm này cũng đã được trên  hai mươi năm. Dân trong xóm ban đầu chỉ thấy hai bố con, ông và đứa con gái xinh xắn miệng lúc nào cũng tươi như hoa,  làm tạm cái chái nhà để ở. Ông mở cửa hàng chữa xe máy chữa xe với giá bình dân chủ yếu giúp bà con xóm  lao động này  đỡ mất tiền khi ra các Head của các hãng bị chém đẹp, cái gì các “chuyên viên”  kỹ thuật của hãng đều nói phải thay và khách ra về lần nào cũng phải trả trên dưới  cả  triệu đồng bạc. Ông sửa tỉ mẩn cẩn thận giá rẻ nên cửa hàng ông lúc nào cũng đông, tiền đủ trang trải cho đứa con gái học Đại học ở Thủ đô. Ông làm được, nói được, lại chân tình  nên dần dà uy tín sửa xe máy biến ông thành ông tổ trưởng dân phố lúc nào không hay dù ông là dân ngoại tỉnh mới về cư trú. Đến hôm nay, bà vợ  và đứa con trai út cũng đã theo chân ông nhập cái xóm này và ngày càng ít  người hỏi ông rằng ông còn nhớ cái  chốn quê Thái Nguyên vùng chè của nhà ông nữa không?  Ông đã trở thành một phần dĩ nhiên của cái xóm này.

Căn nhà  cuối xóm bây giờ có ba người sống cùng nhau bà Mùi, bà Quế và Thơm. Họ từng là đồng đội của nhau trong mâm pháo của nhà máy năm  xưa. Các bà sống đầm ấm và chân tình với nhau lắm, trong xóm cứ ai hỏi thăm nhà ba Bà là không chỉ người lớn mà trẻ con cũng sẵn sàng đưa khách đén tận nhà ba bà ngay tắc lự.

Ông tổ trưởng, lúc ông về xóm này chỉ có vài ba nóc nhà. Căn cuối cùng của xóm là của Bà Mùi. Đây là mảnh đất cuối ria, giáp cánh đồng màu trồng ngô hồi xưa phân cho bà và bà Hoa, hai đứa chưa chồng ở chung. Bà Mùi,  vốn là  công nhân nhà máy in. Bà rất đẹp nhưng mắt lúc nào cũng buồn. Bà xuất thân là con một bác công nhân ở nông trường  chè Mộc Châu,  rồi bà xin đi thoát ly khi học xong hết lớp bảy. Bà nộp đơn xin vào nhà máy in và số phận đã mỉm cười  với bà. Bà chăm chỉ, cần mẫn  lại cũng dễ nhìn  nên hầu như năm nào bà cũng đạt lao động tiên tiến, có năm còn đạt cả lao động tiên tiến cấp ngành nữa.  Rồi bà cũng có một người yêu. “Anh chàng này “ cách bà gọi người yêu mỗi  khi nhắc đến cuộc tình với bà, tên là Hiếu  người Thanh, có nụ cười lành đến nỗi những miếng sắn độn lúc nào cũng hé mắt ra nhìn trước mỗi bữa ăn  để chị em vui vẻ ăn  hết trong  những lúc khó khăn nhất. Rồi chiến tranh phá hoại Miền Bắc  ập đến, giống như tất cả mọi người bà và bà Hoa đều tham gia  trong đội dân quân nhà máy. Khẩu đội súng máy 14,5  của bà được biên chế 5 người   đến từ các phân xưởng khác nhau trong nhà máy gồm bà Hoa, bà Mùi, Bà Quế Bà Thơm và  ông Hiếu người yêu bà. Các bà kết nhau thân còn hơn cả anh em ruột từ thời ấy.

Bà Thơm, con gái Bắc Giang, dáng người đẹp như hoa hậu, da trắng chả bao giờ cần son phấn gì mà môi cứ đỏ hồng như màu gạch non. Tuy  vóc dáng thế nhưng bà lại nổi tiếng là kỷ luật và gan dạ trong từng trận chiến với máy bay Mỹ. Hồi trước cứ hết giờ làm là bà lại lên mâm pháo tập ngắm bắn, tập đi đều bước. Bà xuất hiện ở đâu cũng chỉnh chu dù là trong đại hội Công đoàn, tổ sản xuất hay trong mâm pháo cũng thế. Tóc luôn gọn ghẽ, mũ sao vuông vắn, dép gọn gàng cài quai hậu chắn chắn. Kể cả những lúc trân địa bị rốc két và  súng 12,7 của địch bắn xéo tan nát trận địa vẫn thấy cờ đỏ  trong tay bà phất lia lịa. Lá cờ và tiếng hô của bà chỉ dừng lại khi máy bay địch chào thua, khi tiếng súng ngừng hẳn. Sau chiến tranh, bà lấy chồng là một kỹ sư người chính gốc Hà Thành. Ông này đẹp trai lãng tử, hát hay, đàn giỏi luôn nổi bật trong phòng trào Thanh niên nhà máy của bà. Ông bà có cả nếp, cả tẻ đủ cả. Nhưng ông bà đã ly hôn. Từ ngày ly hôn, bà mắc bệnh trầm cảm. Bà ít nói chuyện với mọi người  nhưng  đôi khi nhất là ngày rằm hoặc mùng một  người  ta lại thấy bà tập đi một hai một với  chiếc cũ cối có huy hiệu dân quân vuông vức trên đầu. Những lúc bất thường này, người ta thấy bà lúc vác  súng gỗ hình dạng khẩu K44  lúc cầm cờ phất lia lịa như đang tái hiện những  giờ phút căng thẳng nhất trên mâm pháo của tiểu đội bà những năm đánh Mỹ. Những ký ức và giây phút sống động ấy chỉ thi thoảng xảy ra với bà. Còn những lúc khác bà vẫn tươi như hoa, vẫn nấu món ăn ngon tuyệt  và vẫn xin như hồi con gái đôi mươi.

Căn nhà của ba bà  sau cải tạo lại cũng không phải quá rộng, chia thành  5 khu riêng biệt gồm 3 phòng ngủ cho ba bà, một phòng khách chung nhỏ nhắn tối giản và một khu phụ. Họ sống với nhau như thế cũng đã hơn mười năm. Chính giữa căn phòng là bàn thờ của bà Hoa và ông Hiếu mà bà Mùi đã lập nên. Ông Hiếu và bà Hoa đều mất trong trận mười hai ngày đêm khói lửa Hà nội năm 1972. Hôm ấy, trận địa pháo của dân quân nhà máy nổ súng ác liệt quyết không cho bọn  F4 bổ nhào xuống cắt bom phá hoại cầu Long Biên. Chúng phát hiện ra trân địa pháo của trung đội nhà máy, chúng quay lại bắn Rốc két và xả súng điên cuồng vào  trận địa 12,7m,  ông Hiếu và Bà Hoa trúng đạn hy sinh ngay trêm mâm pháo. Bà Mùi khóc nấc ôm hai người, một người yêu của bà và người em của bà vuốt mắt cho họ và mong họ sẽ mãi giữ những kỷ niệm về kíp trắc thủ tình nghĩa hơn vả anh em ruột. Riêng với ông Hiếu và thầm hứa điều gì đấy không ai nghe rõ.

      khangChiến tranh lùi xa, bà Mùi cũng đã về hưu. Bà vẫn ở ngôi nhà cuối xóm. Căn nhà chỉ đủ cho bà chui ra chui vào. Bà sống trầm bằng lương hưu,  mọi thứ trôi đi như trái Đất vẫn xoay quanh Mặt Trời. Thi thoảng bà cũng tham gia công tác mặt trận, công tác Đoàn, Thể gọi là chút góp sức vào việc vận động các hộ gia đình trong xóm, sống hòa thuận đôàn kết thương yêu nhau. Thế rồi trong một lần đi họp điển hình tiên tiến bà gặp lại bà Quế. Chị em mừng mừng tủi tủi ôm nhau xúc động lắm. Bà Quế vẫn thế, vẫn béo như hồi con gái.

Bà Quế, lấy chồng và có 2 đứa con, một trai và một gái. Ông chồng bà Quế vắn số mất đã lâu, mình bà vừa làm cha vừa làm mẹ đầu tắt mắt tối nuôi hai đứa. Thật may, hai đứa lớn lên đều có phúc như  chồng bà hằng mong ước khi còn sống. Đứa con gái út  đi học nước ngoài và đã trở thành Việt kiều Mỹ. Thi thoảng về ăn Tết với mẹ rồi lại sấp sấp ngửa ngửa vội về bên ấy với công việc và chồng con của nó. Lần nào về nó cũng mua cho mẹ rất nhiều Sô cô la trong là nhân rượu Anh đào để mẹ nó ăn cho nó nhuận sắc  nhưng quan trọng hơn là phù hợp với khẩu vị của nhà anh trai nó. Thằng con trai của bà học giỏi thành đạt, có chức vụ hẳn hoi. Vợ nó cũng là con nhà nòi có học nên cử xử với mẹ chồng cũng văn minh y hệt người Tây, không chung chạ, rõ ràng minh bạch, việc ai nấy làm.  Nó cũng tự sắp xếp mọi việc cho chồng con và của  nó, nên bà hầu như chưa bao giờ phải đi đón con hộ nó, cũng chẳng phải đi chợ hay nấu cơm  hộ nó, cũng chẳng phải mớm cơm cho cháu ăn như các bà nội, bà ngoại  khác. Nó trân trọng bà   như một cá thể cộng sinh trong cái ngôi nhà của bà và của nó cùng bỏ tiền ra mua. Nó thậm chí còn vài lần nhắc bà đừng đánh thức vợ chồng nó dậy đi làm như trước bởi nó đã “huấn luyện”  chồng nó phải tự chịu trách nhiệm về mình không thể còn tình trạng  ở cái tuổi  này cái gì cũng phải mẹ nhắc mới làm nữa. Nó thích ăn Pizza, uống Coca và Xúc xích Đức,  ngược hẳn với bà chỉ thèm cái món bánh đúc chấm tương bần hay tương Cự đà mỗi sáng.

Bà sống trong ngôi nhà nửa của mình mà như không phải của mình, con dâu minh bạch rõ ràng mọi thứ nên tự dưng bà thấy bà mất hết tự do. Sáng ra cứ mở cửa là bà lại thèm cái mùi phân hoai, mùi gốc rạ thối đợi cày lật sau mỗi mùa gặt ở cái vùng chiêm trũng Hà nam nhà bà, bà nhớ cả mùi khói thoát ra khỏi nòng súng những đêm bắn tàu bay Mỹ. Dần dà bà sợ cái sự sạch sẽ sáng loáng trong căn nhà nửa của bà do bàn tay sắp đặt của cô con dâu. Ai gặp bà cũng thấy bà thật sung sướng, con thành đạt, nhà cửa cao sang  nhưng  hình như đau đáu một cái gì đấy.

Cái hôm bà quyết định sang ở với bà Mùi, bà Thơm thằng con trai  mặt thất thần, nó chỉ cầu mong bà nghĩ lại chứ ai lại để nó mang tiếng là cán bộ có chức có quyền mà để mẹ sống lang bạt kỳ hồ như thế. Nhưng bà thì không, bà nhất quyết dọn đi trả lại sự tự do cho nó với vợ nó và con cái nó. Con dâu bà cũng nói với bà trước lúc bà dời sang nhà bà Mùi: “Mẹ cứ làm theo ý thích của mẹ, sự văn minh của phương Tây là tôn vinh sự tự do cá nhân, con  cũng thế. Giá trị xây dựng một nửa  ngôi nhà này nếu mẹ muốn con sẽ chuyển vào tài khoản của mẹ, mẹ không  phải lo gì cả, chỉ cần mẹ nhắn cho con một tin xác nhận về việc này thôi ạ”. Hai đứa cháu thương bà nhưng nó hiểu mẹ nó.

Ba bà  sống  bên nhau hòa thuận chan hòa. Ông Tổ trưởng họp dân phố bao giờ cũng lấy gương điển hình gia đình văn hóa ba bà Mùi, Quế, Thơm ra để làm ví dụ vận động bà con xây dựng gia đình đầm ấm yên vui, văn minh, văn hóa cho con ngõ này.

Ngày rằm, Mùng Một thi thoảng người ta lại thấy ông Tổ trưởng sang  thắp nén hương cho bà Hoa và ông Hiếu. Trong lời rì rầm khấn của ông người ta luôn hiểu ông mong bà Hoa và ông Hiếu ở nơi chín suối sẽ bay lượn tung tăng và phù hộ  cho  những người bạn bên mâm pháo năm nào, phù hộ cho khu phố ông đạt danh hiệu tổ dân phố văn hóa, văn minh, giàu đẹp.

Lần nào cũng vậy, sau khi thắp nén hương trên bàn thờ  ông trở về nhà pha ấm trà Thái nguyên và  ngồi nhâm nhi vị trà xanh ngọt mượt  mà chỉ quê ông mới có được trước khi  tay vào sửa chiếc xe tiếp theo của khách.

 

N. K

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây